Truyện kể các nhà bác học Sinh học 2 - Pdf 42

Alexandre Émile Jean Yersin
Alexandre Émile Jean Yersin (sinh 22 tháng 9, 1863 tại Lavaux, bang Vaud,
Thụy Sĩ; mất 1 tháng 3, 1943 tại Nha Trang, Việt Nam) là một bác sĩ và nhà
vi khuẩn học người Pháp gốc Thụy Sĩ.
Ông đã khám phá ra trực khuẩn gây ra bệnh dịch hạch, sau này được đặt tên
theo ông (Yersinia pestis).
Từ năm 1883 đến 1884, ông Yersin theo học y khoa tại Lausanne, Thụy Sĩ;
sau đó tại Marburg, Đức và Paris, Pháp (1884-1886). Năm 1886, ông gia
nhập viện nghiên cứu của Louis Pasteur tại Trường Sư phạm (École Normal
Supérieure) do lời mời của Émile Roux, và đã tham gia trong việc phát triển
huyết thanh ngừa bệnh dại. Năm 1888 ông nhận bằng tiến sĩ với luận văn về
Etude sur le Développement du Tubercule Expérimental và cộng tác với
Robert Koch trong hai tháng tại Đức. Ông gia nhập Viện Pasteur mới được
thành lập vào năm 1889 làm người cộng tác với Roux và hai người đã cùng
khám phá ra độc tố bạch hầu (do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae
tạo ra).
Để hành nghề y tại Pháp, ông Yersin đã xin và nhận được quốc tịch Pháp
vào năm 1888. Sau đó (1890), ông rời Pháp đến Đông Dương (lúc bấy giờ là
thuộc địa của Pháp) để làm bác sĩ trong công ty Messageries Maritimes (Vận
Tải Hàng Hải) trên tuyến đường Sài Gòn-Manilla và sau đó tuyến đường Sài
Gòn-Hải Phòng. Năm 1894 Yersin được chính phủ Pháp và Viện Pasteur
mời đến Hồng Kông để điều tra đợt bùng phát của bệnh dịch hạch. Tại đây
ông đã khám phá ra nguyên nhân của bệnh này. Ông cũng chứng minh lần
đầu tiên rằng trực khuẩn hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh là một, vì thế
đưa ra cách giải thích phương thức truyền bệnh. Cùng năm đó, khám phá
này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học
Pháp trong bài báo nhan đề La Peste Bubonique de Hong-Kong.
1
Từ năm 1895 đến 1897, ông Yersin đã nghiên cứu thêm về bệnh dịch hạch.
Năm 1895 ông trở về Viện Pasteur tại Paris và cùng với Émile Roux, Albert
Calmette, và Armand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch

chỉ dám giả thiết là các van làm máu chảy chậm lại, chứ hoàn toàn không
làm ngừng dòng máu chảy ngược. Kết luận đơn giản hơn, máu chảy trong
tĩnh mạch chỉ theo một hướng về tim.
Học trò của Fabri là William Harvey (1578 - 1657) một người Anh rất kiên
quyết, sau khi về nước Anh, Harvey cũng như một số nhà giải phẩu học
trước ông lao vào nghiên cứu về tim và chú ý đến sự có mặt của những van
hoạt động một chiều ở trong tim .
a)Sơ lược về tiểu sử của Harvey:
Ngày 1 tháng 4 năm 1578, W. Harvey sinh ra trong một gia đình nông dân ở
Folkestone, miền Nam nước Anh. Về sau, Harvey còn có 6 em ruột nữa. Lúc
nhỏ, Harvey đã yêu thích các loài động vật, thường cả ngày đùa nghịch với
chó, mèo, gà, thỏ mà không biết chán. Ở gần nhà có một xưởng mổ gia súc.
Có dịp là Harvey tới xem các chú bác giết thịt rồi chặt thành từng tảng thịt
bò, thịt dê, thịt heo... chuyển đi các cửa hàng bán lẻ. Nhìn thấy cảnh máu me
chảy ròng ròng, bạn bè sợ hết hồn, chạy té đi, song Harvey lại chẳng sợ chút
nào, lại còn hỏi xem bộ phận này, bộ phận khác trong nội tạng gia súc gọi
tên là gì...
Năm 1593, chưa đầy 16 tuổi Harvey đã thi đổ trường đại họ(Cambridge),
3
học văn học. Năm 19 tuổi, Harvey đã tốt nghiệp, đoạt được học vị cử nhân
văn học, rồi sau đó lại chuyển tới học y học ở trường đại học Padua, Italia, là
một trung tâm nghiên cứu y học đương thời.
Năm 1600, vào lúc Harvey 22 tuổi, đang học đại học Padua, thì có xảy ra
một việc động trời: Ngày 17 tháng 2, nhà khoa học ngoan cường Brunô,
người chủ trương và truyền bá Thuyết nhật tâm, bị giáo hội qui tội chết, đem
thiêu trên giàn lửa! Harvey rất căm phẫn trước việc đó, trong lòng như muốn
thét lên câu hỏi: thế này thì còn gì là chân lý nữa?!
Năm 1602 Harvey tốt nghiệp đại học, đoạt danh vị bác sĩ y khoa, không lâu
sau, Harvey trở về nước Anh, lại đoạt học vị bác sĩ giải phẩu học ở trường
đại học Cambridge, trở thành một thầy thuốc có danh tiếng.

bày nguyện vọng là chịu mọi phí tổn, xin xuất bản cuốn sách: Về sự hoạt
động của máu và tim ở động vật mà Harvey đã phải bỏ ra tâm huyết hơn 20
năm để hoàn thành. Mặc dù cuốn sách không dày ( vẻn vẹn chỉ có 72 trang )
và vẻ bề ngoài khiêm tốn, nhưng cuốn sách đã mở ra một thời kỳ mưa bão -
làm nên cuộc cách mạng hoàn toàn trong lịch sử sinh học.
Nghiên cứu của Harvey là sự thể hiện ý đồ nghiêm chỉnh đầu tiên về quan
điểm mới đối với sinh học. Harvey đã đánh đổ học thuyết của Galen, và đặt
nền tảng cho sinh lý học hiện đại ( chúng ta lưu ý sự tính toán của Harvey về
khối lượng máu đi qua tim là ý định nghiêm chỉnh đầu tiên nhằm ứng dụng
toán học vào sinh học).
Lẽ tất nhiên, các thầy thuốc là những người gắn bó với trường phái cũ đã
công khai chống lại Harvey nhưng họ không thể chống lại những sự thật
khách quan . Ðến thời gian khi Harvey trở về già thì tuần hoàn máu của ông
mới được giới các nhà sinh học thừa nhận chúng mặc dù người ta chưa phát
hiện được mao quản nối liền động mạch với tĩnh mạch. Như vậy, các nhà
bác học châu Âu đã dứt khoát vượt qua giới hạn sinh học cổ điển và không
bao giờ quay trở lại nữa.
Không còn nghi ngờ gì nữa, phát minh của Harvey là dẫn chứng có ích cho
chủ nghĩa duy vật máy móc. Thật ra có thể cho rằng tim là một loại máy
bơm, còn sự vận chuyển của máu tuân theo những định lý học về chuyển
động của chất lỏng. Nếu như vậy thì giới hạn của vấn đề là ở đâu? Phải
chăng người ta có thể giả thiết là tất cả những phần còn lại trong cơ thể sống
chỉ là một bộ tập hợp của các hệ thống cơ học phức tạp và có liên quan lẫn
nhau hay không?
Ðiểm yếu nhất trong lý thuyết tuần hoàn máu cuả Harvey là không thấy
được mối liên quan giữa động mạch và tĩnh mạch. Ông chỉ giả thiết có sự
nối tiếp tương tự, nhưng do kích thước của các mao quản nối với nhau rất
nhỏ nên không thể nhìn thấy được. Vào cuối đời của Harvey vấn đề này vẫn
5
chưa được giải qưyết, và có lẽ nó vẫn tiếp tục tồn tại nếu như loài người chỉ

hàng đàn chó đói, lấy trộm thi thể, mang về nhà mình tiến hành giải phẩu
suốt đêm. Cứï như thế Vesalius đã lấy trộm không biết bao nhiêu thi thể và
thức trắng bao nhiêu đêm để bí mật giải phẩu. Cuối cùng nắm vững đích xác
rất nhiều tri thức giải phẩu cơ thể người không hề ghi trong sách vở. Ðến
mức ông có thể nhắm mắt cũng có thể rất nhanh nhận ra là loại xương nào
mà người ta đặt vào bàn tay ông. Cấu tạo của các bộ phận nội tạng, bắp thịt,
thần kinh, huyết quản, ông cũng rất quen thuộc.
Vesalius không nghĩ như các thầy giáo của ông là hoàn toàn tuân theo lý
luận của Galen Thời đó, ở các viện y học, người ta dạy là dạy giải phẩu học
về chó, về lợn, mà không phải là dạy giải phẩu học về người. Cần biết rằng
đối tượng nghiên cứu y học là người; chỉ có thú y mới nghiên cứu chó, lợn...
Nhưng, có một số người vẫn ngang nhiên cho rằng cấu tạo của con người và
chó, lợn là không sai khác bao nhiêu, và ở viện y học rất hiếm khi được giải
phẩu thi thể; khi giải phẩu các giáo sư thường không cho học sinh nhìn rõ.
Hễ khi phát hiện chỗ nào không giống với lý luận mà Galen đã viết thì họ cố
ý lập lờ, không dám nói rõ, sợ nói ngược với quan điểm của Thánh thư!.
Ông không mê tín nhân vật uy quyền và sách vở, chỉ xem trọng thực tiễn.
Năm 1543, giáo sư Vesalius 28 tuổi, đã cho xuất bản cuốn sách Bàn về cấu
tạo cơ thể người. Trong sách ông chỉ ra những sai lầm trong sách của Galen.
Khi đó, trên giảng đường đại học, ông thường vừa giảng, vừa giải phẩu thi
thể người khi giảng về cấu tạo cơ thể người, làm sinh viên nhận ra đâu là
thật đâu là giả trong trước tác của Galen. Các buổi lên lớp của ông thường có
tới hơn 400 - 500 người tham dự, ngồi chật cả hội trường.
Ðương nhiên, Vesalius đã bị công kích kịch liệt của thế lực giáo hội, và giáo
hội không dung tha ông. Họ chưởi ông là kẻ bổ báng thần linh. Ngay thầy
giáo xưa của Vesalius cũng phản đối ông.
8
Ví dụ: Galen cho rằng xương chân lớn của người nói rằng nó là thẳng thì
thầy giáo của ông tuy không thể phủ nhận sự thật đó, nhưng lại nói để phủ
định: - Việc xương chân lớn của người hiện nay là thẳng quả rõ là không

Về sau vị hoàng Ðế Bỉ nghĩ ngợi thế nào mà đã miễn tội chết cho ông, đổi
9
thành án phải đi lưu đày đến Palextin. Ông mất năm 1564 ở đảo Zante, lúc
mới 50 tuổi!
Suốt đời Vesalius đi tìm chân lý, hiến thân tất cả cho giải phẩu học, y học.
Ông đấu tranh bất khuất với mê tín, tôn giáo, thần học. Thành tựu khoa học
của ông đã làm ông trở thành người đặt nền móng cho giải phẩu học hiện
đại, dược nhiều người tôn vinh là ông tổ của giải phẩu học hiện đại.
Giáo hội có thể bức hại Vesalius nhưng ngăn trở không nổi trào lưu thời đại
về nhận thức cơ thể của con người. Chân lý khoa học vẫn phát triển về phía
trước cho dù gặp gian nan, gập ghềnh, khúc khuỷu. Sau khi ông chết nhà
khoa học người Anh William Harvey (1578 - 1675) đã tiếp tục thăm dò,
khám phá và cuối cùng triệt để lật đổ thuyết của Galen. Chân lý khoa học đã
giành được thắng lợi cuối cùng.
10
Luis Pasteur (1822-1895) [/h2]
Louis Pasteur sinh ngày 27/12/1882 ở Dole, một vùng của Jura, Pháp. Khám
phá của ông cho rằng hầu hết các bệnh nhiễm trùng là do những mầm bệnh,
mang tên "lý thuyết về mầm bệnh", là một trong những khám phá quan trọng
nhất trong lịch sử y học. Sự nghiệp của ông trở thành nền móng cho ngành
vi sinh, và là cột mốc đánh dấu bước ngoặt của y học hiện đại.
Tóm tắt những đóng góp to lớn của Pasteur cho vi sinh và y học: Thứ nhất,
ông đấu tranh đòi thay đổi thực hành trong bệnh viện để giảm thiểu lây lan
bệnh do vi khuẩn. Thứ hai, ông phát hiện ra rằng có thể dùng dạng vi khuẩn
đã làm yếu để chủng ngừa chống lại dạng vi khuẩn độc. Thứ ba, Pasteur thấy
rằng bệnh dại lây nhiễm nhờ một tác nhân rất nhỏ không nhìn thấy dưới kính
hiển vi, nhờ đó mở ra thế giới các virus. Kết quả là ông đã triển khai được
kỹ thuật tiêm vaccin cho chó chống bệnh dại và điều trị người bị chó dại
cắn. Và thứ tư, Pasteur đã phát triển phương pháp "tiệt trùng kiểu Pasteur",
một quy trình dùng sức nóng để tiêu diệt vi khuẩn có hại trong các loại thực

ô nhiễm.
Kỹ thuật "tiệt trùng kiểu Pasteur"
Hoàng đế Napoleon III đã đề nghị Pasteur nghiên cứu những bệnh ảnh
hưởng đến rượu đang gây thiệt hại cho ngành sản xuất rượu. Nǎm 1864,
Pasteur tới khu vườn nho ở Arbois để nghiên cứu vấn đề này. Ông đã chứng
minh rằng bệnh của rượu là do vi sinh vật gây ra, những vi sinh vật này có
thể bị tiêu diệt bằng cách đun nóng rượu đến nhiệt độ 55oC trong vài phút.
áp dụng cho bia và sữa, cách xử lý này, được đặt tên là "tiệt trùng kiểu
Pasteur" đã nhanh chóng thông dụng trên khắp thế giới.
Nghiên cứu bệnh nhiễm trùng ở người và động vật
Nǎm 1865, Pasteur bắt đầu nghiên cứu những bệnh của tằm đang làm lụn bại
ngành tằm tơ ở Pháp. Ông đã tìm ra tác nhân gây bệnh và cách lan truyền
những tác nhân này - theo qui luật lây và di truyền - và cách ngǎn ngừa
bệnh. Bổ sung thêm nghiên cứu về sự lên men, giờ đây ông có thể khẳng
định mỗi bệnh là do một vi khuẩn đặc trưng gây ra và những vi khuẩn này là
những yếu tố ngoại lai. Với hiểu biết này, Pasteur có thể đặt ra những qui tắc
cơ bản của tiệt trùng. Ngǎn ngừa được lây nhiễm, phương pháp tiệt trùng
của ông đã cách mạng hóa ngành ngoại khoa và sản khoa.
Từ nǎm 1877-1887, Pasteur vận dụng cơ sở vi sinh học vào cuộc chiến
chống các bệnh nhiễm trùng. Ông tiếp tục tìm ra ba vi khuẩn gây bệnh cho
người: tụ cầu, liên cầu và phế cầu.
12
Điều trị và phòng ngừa bệnh dại
Louis Pasteur đã tìm ra phương pháp làm yếu các vi sinh vật độc là cơ sở
cho chủng ngừa. Ông đã phát triển các vaccin chống bệnh tả ở gà, bệnh than
và bệnh lợn đóng dấu. Sau khi nắm vững phương pháp chủng ngừa, ông đã
áp dụng khái niệm này vào bệnh dại. Ngày 6/7/1885, lần đầu tiên Pasteur đã
thử phương pháp điều trị bệnh dại của mình cho người: bé Joseph Meister đã
được cứu sống.
Thành lập Viện Pasteur

Pasteur đã đi khắp thế giới tới bất cứ nơi nào cần đến sự giúp đỡ của họ.
Nǎm 1881, Viện Pasteur ngoài nước Pháp đầu tiên được thành lập ở Sài gòn
(nay là Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam), mở đầu cho mạng lưới các
Viện Pasteur quốc tế.
Vì ông đã làm thay đổi vĩnh viễn thế giới, tổ quốc quê hương ông và cả thế
giới luôn coi ông là một ân nhân của nhân loại.
Sự tiến bộ của nhân loại
"Tôi cầu khẩn các bạn dành sự quan tâm cho những lãnh địa thiêng liêng rất
nhạy cảm có tên là các phòng thí nghiệm. Mong sao những lãnh địa này sẽ
nhiều hơn và chúng sẽ được tô điểm để trở thành những ngôi đền của tương
lai, của thịnh vượng và sức khỏe. Đây là nơi nhân loại sẽ lớn lên, vững mạnh
và hoàn thiện. ở đây, loài người sẽ học cách đọc được sự phát triển và sự hài
hòa cá nhân trong những công việc của tự nhiên, trong khi công việc của
chính loài người lại thường man rợ, cuồng tín và phá hoại" - Louis Pasteur
14
Alexander Fleming [/h2]
- Nhà bác học phát minh ra Penicillin cứu sống hàng triệu sinh mạng
Alexander Fleming sinh ngày 6/8/1881 trong một trang trại gần thành phố
Darvel nước Anh. Cha ông mất khi ông mới lên 7 tuổi, người anh trưởng
cùng cha khác mẹ đã chăm sóc và cho A.Fleming đi học. Năm 13 tuổi
Alexander được một người anh khác là bác sỹ Tom đưa đến London học tập
và ông đã gắn bó suốt đời ở thành phố này. Đến London, Alexander học ở
trường Bách khoa là trường có học phí thấp. Năm 16 tuổi, Alexander đã đỗ
tất cả các kỳ thi và đi làm ở hãng tàu thuỷ America Line. Công việc ông làm
là thư ký, ông phải sao chép các tư liệu bằng tay, giữ các sổ sách kế toán,
các chi tiết hồ sơ hàng hoá và hành khách. Ông làm công việc nhàm chán
này suốt 4 năm, không hề biết rằng tương lai của ông sẽ trở thành một người
nổi tiếng trong một lĩnh vực hoàn toàn khác.
Năm 1901, một cơ hội bất ngờ đã đến với Alexander: một ông chú mới qua
đời đã để lại di sản cho tất cả các anh em nhà Fleming. Bác sỹ Tom Fleming

chúng ta gọi là hệ thống miễn nhiễm là gì? Cái gì chính xác đã xảy ra khi
một vac-xin được tiêm vào? Thân thể đã phản ứng như thế nào? v.v Họ đã
làm rất nhiều thí nghiệm và đã có được một số thành công.
Năm 1908 Alexander đậu kỳ thi tiếp theo đạt hạng ưu và được thưởng huy
chương vàng. Đến tháng 6/1909 ông đậu tiếp kỳ thi chuyên khoa giải phẫu.
Lẽ ra ông có thể đi làm công việc của một bác sỹ phẫu thuật nhưng ông vẫn
quyết định ở lại khoa vi trùng và ông đã nhanh chóng trở thành một bác sỹ
danh tiếng ở khoa.
Năm 1914, thế chiến thứ nhất bùng nổ, A.Fleming được huy động đến một
bệnh viện ở Pháp để phục vụ việc tiêm vac-xin phòng thương hàn cho quân
nhân ở chiến trường, công việc nghiên cứu của ông bị chững lại một thời
gian. Thế chiến kết thúc, ông lại quay về khoa tiêm chủng bệnh viện St
Mary.
Ông lại miệt mài làm các thí nghiệm và đến năm 1921 ông đã khám phá ra
chất khử trùng tự nhiên. Sau nhiều thực nghiệm làm đi làm lại, A.Fleming
nhận thấy thân thể người có một chất tự bảo vệ, đó là tuyến bảo vệ nội bộ
đầu tiên của thân thể, có khả năng ngăn chặn các vi khuẩn thông thường, nếu
các vi khuẩn vượt qua tuyến này thì mới gây nguy hiểm cho con người. Ông
đã đặt tên cho chất này là Lysozyme. Khám phá này rất quan trọng để đưa
ông đến thành công tiếp theo.
Một buổi sáng tháng 9 năm 1928, như thường lệ Alexander Fleming đến
16
phòng thí nghiệm, ông chợt chăm chú tới một đĩa cấy vi khuẩn cầu chùm từ
nhiều tuần trước. Ông nhìn kỹ chiếc đĩa và thấy ở gần bên mép đĩa có một
mảng meo (nấm mốc) như nùi bông đã phát triển. Trong đĩa là các tập đoàn
vi khuẩn mà họ đã cấy vào từ trước, bên cạnh mảng meo đó, lạ thay không
có vi khuẩn nào cả. Alexander rất tò mò: cái gì đã giết chết các vi khuẩn cầu
chùm? Ông lập tức thử lại một lần nữa, ông đặt chất meo đó lên một đĩa mới
và cấy các khuẩn cầu chùm sát cạnh nó. Kết quả thật đáng kinh ngạc: chất
dịch meo của ông có thể ngăn chặn một số vi khuẩn nguy hiểm nhất không

đóng góp trong lĩnh vực này và đã được nhận Giải thưởng Nobel về sinh
lý học và y học, đó là GS-TS Christiane Nüsslein-Volhard.
GS-TS Christiane Nüsslein-Volhard sinh ngày 20/10/1942 tại Magdeburg
(Đức), là con thứ hai trong một gia đình nghệ sĩ có 5 người con. Khi còn
nhỏ, Christiane Nüsslein rất chú ý đến các sự vật xung quanh, có nhiều ý
tưởng, dự định trong nhiều lĩnh vực và thường tìm hiểu những chủ đề này
thông qua việc đọc sách. Christiane Nüsslein rất thích cây cối, yêu động vật
và mơ ước trở thành nhà sinh vật học từ khi 12 tuổi.
Hồi còn đi học, do không lấy gì làm chăm chỉ lắm nên Christiane Nüsslein
chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học với mức trung bình; thậm chí suýt nữa
còn không trả nổi bài thi tiếng Anh. Trong phiếu thành tích học tập của
Christiane Nüsslein có đoạn như sau: Mặc dù tài năng của học sinh được thể
hiện tương đối đều trong các lĩnh vực học, nhưng thành tích thì khác nhau
tuỳ vào sự quan tâm. Học sinh này tỏ ra rất lười nhác với những môn không
quan tâm, còn đối với những môn yêu thích, học sinh này đã thể hiện vượt
xa những yêu cầu của mục đích một trường học bình thường. Nhưng phiếu
thành tích học tập cũng công nhận: Christiane Nüsslein là học sinh có năng
khiếu vượt mức trung bình, có óc phán đoán, suy xét tốt, có năng lực trong
công việc nghiên cứu khoa học độc lập. Ở trường, Christiane Nüsslein rất
thích các môn văn học Đức, toán học và sinh vật học. Giờ sinh vật học đã
18
giúp Christiane Nüsslein hiểu biết về rất nhiều chủ đề đương đại như: Sự di
truyền, tiến hoá và hành vi của động vật. Vào lễ tốt nghiệp trường phổ
thông, Christiane Nüsslein đã được đọc bài viết của mình về Ngôn ngữ động
vật (Sprache bei Tieren).
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp trung học, Christiane Nüsslein quyết định sẽ
trở thành một nhà nghiên cứu về sinh vật. Nhưng sau đó đã nhanh chóng
thay đổi ý định này và quyết định học về y khoa, vì cho rằng bộ môn này rất
cần thiết cho loài người. Để khẳng định xem mình có thể gắn bó với ngành y
hay không, Christiane Nüsslein đã theo khoá học làm y tá một tháng trong

19
cùng với một sinh viên khác, Bertold Heyden, tách những vị trí liên kết
ARN và fd Phage ra để có thể hiểu được thêm về cấu trúc của chất hoạt hoá.
Mặc dù là một nhà sinh vật học phân tử có kinh nghiệm, Christiane Nüsslein
cũng bắt đầu cảm thấy buồn tẻ với đề án này, nhưng đó cũng là thời điểm
kết thúc của luận văn tiến sĩ sinh vật học. Năm 1972, sau khi đọc những bài
báo của các nhà khoa học Garen và Gehring về các cuộc thí nghiệm giải cứu
sự đột biến gen của người mẹ, Christiane Nüsslein đã quyết định nghiên cứu
về những đột biến làm ảnh hưởng đến lượng thông tin của tế bào trứng.
Năm 1984, Christiane Nüsslein quan tâm đến việc phân tích về di truyền
trong sự phát triển cột sống để tìm hiểu thêm các vấn đề về cột sống, trong
đó có cột sống của con người. Christiane Nüsslein cùng với nhóm nghiên
cứu của mình đã làm thí nghiệm với cá và đã đưa ra những biện pháp gây
giống và nuôi cá an toàn, hiệu quả cao. Năm 1995, tập bản thảo những phát
minh của Christiane Nüsslein và đồng nghiệp về 1.200 sự đột biến của cá đã
được xuất bản như những tài liệu khoa học giá trị. Trong phòng thí nghiệm,
Christiane Nüsslein vẫn tiếp tục nghiên cứu về các cơ cấu phân tử của phôi
thai ruồi giấm, cũng như tiếp tục khám phá loài cá như hình mẫu cho việc
nghiên cứu những đặc điểm cụ thể của xương sống. Christiane Nüsslein hy
vọng sự kết hợp của nhiều nghiên cứu và hệ thống trong một phòng thí
nghiệm có thể cung cấp cơ sở cho việc hiểu biết rộng hơn về sự phát triển
phức tạp của đời sống động vật và con người.
Là một nhà khoa học say mê nghiên cứu, khám phá, làm việc tận tuỵ, không
biết mệt mỏi, Bà luôn là tấm gương cho đồng nghiệp noi theo. Và khả năng
nghiệp vụ khoa học của Bà đã phần nào được thể hiện thông qua những chức
vụ được bổ nhiệm: Năm 1969-1974, Bà làm giám sát viên luận án; năm
1978-1980, là trưởng nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm sinh vật phân
tử châu Âu (EMBL), Heidelberg; năm 1981-1985 là trưởng nhóm nghiên
cứu tại Phòng thí nghiệm Friedrich-Miescher tại Tübingen; năm 1985, Bà
được bổ nhiệm làm giám đốc chi nhánh độc lập Trường Đại học Max-

một nhà khoa học lớn của thế kỷ XX.
21
Hippocrate (460 - 375 TCN) người sáng lập ra ngành Y khoa[/h3]
1/ Tiểu sử:[/b]

Hippocrate ------- Châm ngôn Hippocrate ------ Bài học
Thầy thuốc Hy Lạp, người sáng lập ra ngành Y. Ông sinh ra ở đảo Cos,
một hòn đảo nằm biển Egée, gần Rhodes. Ông đã học nghề y từ người cha,
vốn là một thầy thuốc, đến Athènes để nghiên cứu, nhận Gorgias làm thầy
cho phương pháp ngụy biện. Ông giỏi cả hai môn Triết lý và Y khoa. Nhưng
ông tiếp tuc ngành y và giữ ngành triết lý để suy luận cho chính xác. Ông du
lịch rất nhiều, qua luôn biên giới Hy Lạp. Ông trở lại đảo Cos để hành nghề,
giảng dạy và viết sách. Trường phái Hyppocrate, hay trường phái Cos hình
thành xung quanh ông đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tách y
học ra khỏi những suy luận mê tín và Triết học đưa y học thành phạm trù
khoa học chính xác dựa trên quan sát khách quan và lập luận suy diễn chặt
chẽ
Ông đã cứu những thành phố Athènes, Abdère và Illyrie qua sự tàn phá ghê
gớm của bệnh dịch hạch bằng cách đốt lửa thật lớn cho tỏa ra những chất có
22
mùi thơm nên ông được chính phủ Athènes thưởng bằng cách cho ông vô
dân Athènes va được nuôi suốt đời ở Prytanée Ông sống những năm cuối
cùng ở Thessalie. Ông đã cải cách ngành Y: xóa bỏ dị đoan và bùa phép.
Lý luận của ông dựa trên sự quan sát và nghiên cứu trên người bệnh, chú ý
đến chế độ ăn uống của người bệnh, khác với trường phái Cnidius là chỉ chú
tâm đến bệnh lý mà quên bệnh nhân.
Émile Littré, bác sĩ y khoa, thành lập báo Tuần san Y học năm 1828 và
năm 1837 thêm một tờ báo Y học "Expérience" và một từ điển Y học. Ông
đã dịch những bộ sách của Hippocrate thành 10 cuốn. Năm 1858 ông được
mời vào Hàn Lâm viện Y khoa Pháp .

mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải
chịu một số phận khổ sở ngược lại
24
Claude Bernard (1813-1878) Nhà Sinh lý học nổi tiếng. [/h3]
Khám phá chức vụ tạo đường glycogen của gan . Nghiên cứu các diếu tố
(enzyme) trong dịch tiêu hóa, gan, thần kinh hệ, máu và chức năng của nó
trong sự hô hấp.. . Hội viên Hàn Lâm viện Khoa học và được giải thưởng
ba lần được, hội viên viện Hàn lâm Y khoa và Viện Hàn lâm Pháp.Claude Bernard (1813-1878)Viện bảo tàng Claude Bernard

Claude sinh ra nơi đây
25

Trích đoạn Lý thuyết Tiến Hóa ra đời. Tranh cãi về Thuyết Tiến Hóa. Sự tình cờ làm nên chuyện
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status