TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
KHOA CƠ KHÍ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI :
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CẢI TIẾN BỘ CÔNG TÁC MÁY
ĐÀO GẦU NGHỊCH PC200 CỦA KOMATSU.
Gvhd : PGS.TS Nguyễn Đăng Cường
Svth : Phùng Văn Ngọc
LỜI NÓI ĐẦU
+) Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
việc cơ giới hoá trong các công trình xây dựng cơ bản là rất quan trọng và ngày càng diển
ra mạnh mẽ. Cơ giới hoá rút ngắn thời gian thi công, giảm nhân lực và mang lại hiệu quả
công việc rất cao. Trong các công trình xây dựng nói chung và thuỷ lợi nói riêng công tác
đất chiếm phần lớn công việc, cơ gới hoá công tác đất cũng đang diễn ra với tốc độ cao
trong đó máy đào giữ vai trò chủ đạo. Công việc chủ yếu của máy đào là đào và vận chuyển
đất, đó khâu đầu tiên trong dây chuyền thi công. Nếu máy đào làm việc hiệu quả thì năng
suất tổ máy tăng và ngược lại nếu máy đào làm việc kém hiệu quả thì dẩn đến năng suất tổ
máy giảm, điều này làm giảm tiến độ thi công
+) Trên thực tế các chủng loại máy đào được sử dụng trong các công trình
xây dựng là rất phong phú và đa dạng, các loại máy đào được nhập từ các nước
tư bản trên thế giới với nhiều chủng loại kích thước và các tính năng ưu việt
khác nhau. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng máy do không nắm vững các kỷ
thuật vận hành, bảo dưỡng và sữa chữa nên không thể tránh khỏi sự hỏng hóc
các hệ thống, các bộ phận. Bộ công tác của máy đào cũng không tránh khỏi
vấn đề này do điều kiện làm việc khắc nhiệt tiếp xúc với đất bùn, chịu ma sát
và sự va đập.
Bộ công tác nếu nhập ngoại thì rất đắt, do đó nghiên cứu thiết kế bộ công tác sẽ đem lại lợi
nhuận về kinh tế rất nhiều. Mặt khác đối với điều kiện của đất nước ta hầu hết thi công các
Cấu tạo của máy đào gầu sấp (gầu nghịch) có bộ di chuyển xích bao gồm
các bộ phận chính được thể hiện trong hình:
Hình 1-1: Cấu tạo chung máy đào thuỷ lực gầu sấp
1- Xích di chuyển, 2- Máy cơ sở, 3- Cần, 4- Xi lanh nâng cần,
5- Xi lanh tay gầu, 6- Tay gầu, 7- Xi lanh quay gầu, 8- Gầu
Nguyên lý làm việc của máy đào gầu nghịch.
Loại này đào đất thấp hơn mặt bằng máy đứng. Có thể dùng để đào kênh mương
rãnh đặt đường ống, nạo vét cửa cống, đào giao thông hào, hố móng, khai thác vật
liệu,
Xilanh 4 nâng cần đảm bảo độ nghiêng thích hợp, co xilanh 5 thực hiện việc
duỗi gầu, kết hợp hạ cần bằng xilanh 4 để đặt gầu vào vị trí cắt đất.
Duỗi xilanh 4, nâng gầu, thực hiện việc cắt đất.
Khi gầu đầy đất, cũng là lúc gầu lên tới miệng hố đào, kết hợp các xilanh 4 và 5
nâng gầu lên đến một độ cao nào đó, kết hợp quay đến vị trí đổ.
Thu các xilanh 5 và 7, quay gầu duỗi ra đất được đổ qua miệng gầu.
1.1.2. Tình hình sử dụng máy làm đất ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước, miền Bắc đã nhập các
loại máy làm đất mà chủ yếu là máy đào để xây dựng các công trình thuỷ lợi,
thuỷ điện, giao thông, khai thác mỏ. Trong giai đoạn này công việc xây dựng
lại đất nước bắt đầu phát triển, do đó công việc bốc xúc vật liệu với khối
lượng lớn đòi hỏi phải cơ giới hoá.
Hiện nay nước ta có rất nhiều các loại máy phục vụ công tác làm đất được
nhập từ các nước tư bản như: Nhật, ý, Thụy Điển, Pháp. Ví dụ: như các loại
máy đào Caterpillar , Volvo, Komatsu, Kobelco, Hitachi, Fiat chế tạo được
nhập vào nước ta để thi công các công trình như nhà máy ximăng Hoàng
Thạch, hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng, Thuỷ điện Trị An, và các công việc bốc xúc
trong khai thác mỏ lộ thiên ở Quảng Ninh.
A3 = 3600 (mm); A4 = 3078 (mm);
Khối lượng của cần là: Gc = 1408 (kg) = 13,81 (KN).
Khối lượng của xilanh cần: Gxc = 172 x 2 (kg) = 3,37 (KN).
b. Kích thước tay gầu.
Trong đó:
A1 = 3748 (mm);A2 = 2919 (mm); A3 = 950(mm); A4 = 1185(mm);
A5 = 600(mm); A6 = 610 (mm); A7 = 410(mm);
Khối lượng của tay gầu: Gt = 653 (kg) = 6,406 (KN).
Khối lượng của xilanh tay gầu: Gxt = 226 (kg) = 2,217 (KN).
c. Kích thước gầu.
Trong đó: A1 = 1480 (mm); A2 = 445 (mm); A3 = 450 (mm); A4 = 940;
A5 = 158 (mm); A6 = 750 (mm); A7 = 1200 (mm).
Các bán kính cong của đáy gầu: R1 = 400 (mm); R2 = 800 (mm).
Chiều rộng lòng gầu: 1000 (mm).
Khối lượng của gầu: Gg = 628 (kg) = 6,16 (KN).
Dung tích gầu : q = 0,8 (m3).
Khối lượng của xilanh gầu: Gxg = 136 (kg) = 1,33 (KN).
A2
A7
A1
A5A6
1.2.3. Tính các vị trí ổn định của máy cơ sở.
Để tính toán thiết kế bộ công tác lắp trên máy cơ sở PC200, trước hết ta đi xác
định các vị trí tính ổn định của máy cơ sở PC200. Tại các vị trí trên ta sẽ tìm được
mô men đối với khớp chân cần. Giá trị mô men đó phải được giữ nguyên khi lắp
răng gầu chịu lực cản đào P1 ở giai đoạn cuối của quá trình đào đất.
+ Vị trí thứ ba.
Máy đang tiến hành xả đất với vị trí gầu xa nhất, gầu đầy đất, cần hợp với
phương ngang góc α1 = 90, tay gầu hợp với phương ngang góc α2 = 250
+ Vị trí thứ tư.
Máy đang tiến hành xả đất trên dốc, góc dốc tính toán a= 12o.
Qua các vị trí tính toán ta thấy Mômen tại khớp chân cần có giá trị lớn nhất là
M = 313,58 (KNm).
Đối với máy cơ sở có dung tích gầu là q = 0,8 (m3) ;
Có chiều dài cần là L1 = 5725(mm)
Chiều dài tay gầu L2 = 3748 (mm)
Gọi Mtt là mô men của các bộ phận tĩnh và độ thay đổi mômen của bô công từ
khớp chân cần đến tâm máy:
Vậy Tổng mô men của bộ phận gây lật đối với tâm máy là :
M = 313,58+ Mtt :
Khi ta thay thế bộ công tác mới với các thông số hình hoc khác nhau nhưng vẫn phải thoả mãn
điều kiện cân bằng sau
Mcs < Mtk Hay 313,58 + Mtt < Mtk (*)
Từ phương trình trên là cơ sở cho ta đi tính toán bộ công tác mới có tính năng làm việc đa dạng
phù hợp với các công việc khác nhau, đối với máy Komatsu PC200 dung tích gầu nằm trong
khoảng sau 0,45 < q < 1,15 cho nên ta có thể thay thế các bộ công tác khác nhau với dung tích
gầu nằm trong khoảng cho phép:
CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN BỘ CÔNG TÁC VỚI DUNG TÍCH GẦU
0,6M3
2.1 Xác định thông số hình học của toàn tay gầu mới
Để xác định sơ bộ các thông số ta dựa vào luật đồng dạng về kích thước , trọng lượng ,
công suất , dung tích gầu , lực …
H = 1,01 (m).
- Chiều cao gầu kể cả răng gầu:
L = 1,1 (m).
- Chiều cao không kể răng:
l = 0,81 (m)
- Bán kính cong đáy lòng gầu: R2 = 0,565 (m); R1 = 0,365 (m);
- Bề dày thành gầu, tính theo công thức kinh nghiệm của Stefan Mihailescu:
S0 = 16,86 ÷25,3 (mm).
Chọn: S0 = 20(mm).
- Khối lượng gầu:
Gg = 4,62 (KN)
Từ đó ta thiết kế được gầu như hình vẽ:
Sau khi thông số hình học của gầu ta đi tính lực tác dụng lên gầu và kiểm tra
điều kiện bền của gầu.
Tính bền răng gầu
+ Xem lợi lưỡi cắt như một dầm một đầu ngàm, một đầu tự do. Để quen
thuộc với sơ đồ tính dầm ta quay sơ đồ tính lưỡi cắt như hình vẽ, khi đó ta có
biểu đồ nội lực như sau:
458,1
l
L
H
Tính ứng suất tại mặt cắt nguy hiểm:
t
a
l
P
n n
1467,76
R1R2
P
01
P
02
o
3
o
1
z
0
X
0
o
2
S
xltg
Chiều dài tay gầu cố định là L1 = 2930 (mm)
Chiều dài tay gầu cố định là L1 = 2710 (mm)
+ Tính bền tay gầu.
Vị trí tính toán thứ nhất
G
g
o
3
n n
1467,76
Vị trí thứ hai.
Kết thúc quá trình đào, cần nghiêng một góc -110
Gg
Gtg
o
Rtg=841,97
Rg=1643,18
Gc