Tình hình triển khai hoạt động tái bảo hiểm tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp - Pdf 28

1

CHƯƠNG 1
 LÝ LUN CHUNG V NGHIP V TÁI BO HIM
Tng quan v th ng bo him
1.1.
Có thể nói những hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm được hình thành từ khá lâu
trong lịch sử loài người do nhu cầu khách quan của cuộc sống. Ngay từ thời kì cổ đại,
việc hình thành các kho dự trữ lương thực để phòng ngừa khả năng mất mùa hay chiến
tranh được xem như là những nền tảng cơ bản của hoạt động bảo hiểm.
Bảo hiểm hàng hải xuất hiện ở Châu Âu là loại hình bảo hiểm đầu tiên trên thế
giới. Sau khi các công ty bảo hiểm ra đời thì bên cạnh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải,
nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu của các công ty này là bảo hiểm hỏa hoạn do các ngôi nhà
vào đầu thế kỉ XVII hầu hết được xây bằng gỗ. Đến giữa thế kỉ XVII, người ta cũng
lập ra các quỹ tương hỗ để cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ cho công chúng.
Ban đầu, hoạt động bảo hiểm ra đời với nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh với
chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục những rủi ro, mọi tai nạn bất ngờ. Người
ta chưa nghĩ tới các tổ chức bảo hiểm như là một tổ chức tài chính trung gian thì nay
các công ty bảo hiểm được coi như là một tổ chức tài chính vừa được coi là một công
ty hoạt động ở đa lĩnh vực.
Bảo hiểm có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo luật kinh
doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “Kinh doanh bảo hiểm
là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm phải
đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Bảo hiểm
được xem là một phương thức để xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ đề phòng rủi ro,
chuyển giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho sản xuất, đời sống và con
người trong xã hội. Ngày nay trên thế giới với một nền kinh tế thị trường phát triển thì
bảo hiểm thực sự đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội với các sản phẩm
hết sức đa dạng và phong phú.

1.2.2.
Trước hết phải khẳng định rằng ngay từ khi con người biết sản xuất của cải, tạo
ra giá trị thặng dư đã có nhu cầu bảo đảm cho những rủi ro có thể gặp phải. Do đó
ngành bảo hiểm trên thế giới đã ra đời từ khá lâu. Trong thời kì hiện nay, khi việc sản
xuất ngày càng nhiều với khối lượng ngày càng lớn, những thiên tai, bệnh dịch, bất ổn
chính trị… xảy ra với tần suất nhiều hơn thì nhu cầu được bảo hiểm càng tăng cao.
Trong thời đại toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, một tổn thất dù xảy ra tại bất kỳ điểm
nào trên thế giới ngày càng phẳng này cũng có thể làm ngưng trệ cả chuỗi giá trị toàn
cầu. Điều đó lý giải tại sao quỹ bảo hiểm tại các nước phát triển nhất thế giới hiện nay
lên đến 10% GDP. Các công ty bảo hiểm được thành lập cũng đóng vai trò như các
doanh nghiệp với một số vốn nhất định và phải chịu những trách nhiệm với phần vốn
của mình đối với mọi hoạt động kinh doanh để đứng vững trên thương trường. Chính
vì thế các công ty bảo hiểm cũng phải gánh chịu những rủi ro khi chấp nhận tham gia
bảo hiểm cho người được bảo hiểm. Một số những nguyên nhân chính như là:
 Có những đối tượng tham gia bảo hiểm với số tiền tham gia bảo hiểm quá lớn
vượt quá khả năng tài chính của công ty bảo hiểm, do đó nếu chấp nhận rủi ro
và khi tổn thất xảy ra chắc chắn công ty sẽ chịu hậu quả nặng nề. Công tác
đánh giá kiểm soát rủi ro không hiệu quả, công tác chi trả, bồi thường cũng
3

không thể làm một cách chặt chẽ khi những rủi ro bảo hiểm xảy ra liên tục
trong thời gian ngắn.
 Đối với công ty bảo hiểm mới thành lập, mạng lưới đại lý chưa rộng và thiếu
kinh nghiệm, các khâu chưa hoàn chỉnh cũng dễ bị phá sản.
 Có những trường hợp phương pháp tính phí chưa thật chuẩn xác vì có những
rủi ro mới xuất hiện, ngành bảo hiểm chưa có số liệu thống kê đầy đủ hoặc
không đủ khả năng quản lý rủi ro nên chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu.
 Do tác động của thiên tai, khí hậu do ảnh hưởng xấu của môi trường gia tăng
nên tiềm ẩn nhiều rủi ro ngày càng khó lường.
Để hạn chế những rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể gặp phải mà vẫn bảo

hiểm trở lên.
Khi có tổn thất
xảy ra
Có thể huy động vốn bồi thường
một cách nhanh chóng, công ty
tái bảo hiểm có thể trích trước để
giải quyết sự cố.
Huy động vốn bồi thường rất
khó khăn và mất nhiều thời
gian gây khó khăn cho người
tham gia bảo hiểm.
Các hình thức của tái bảo hiểm
1.2.3.
Đầu thế kỷ XIX, ngành Tái bảo hiểm đã bắt đầu phát triển nhanh chóng và nhiều
hình thức tái bảo hiểm mới được thiết lập.Trước đó, các nhà tái bảo hiểm chỉ áp dụng
Thang Long University Library
4

một hình thức tái bảo hiểm duy nhất đó là “Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn cho từng rủi
ro riêng biệt”. Trong lý thuyết cũng như trên thực tế, tái bảo hiểm được phân loại theo
ba hình thức: Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn, Tái bảo hiểm bắt buộc và Tái bảo hiểm lựa
chọnbắt buộc.
1.2.3.1. Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (Facultative Reinsurance)
Là hình thức tái bảo hiểm đơn giản và cổ điển nhất. Với hình thức này, công ty
nhượng tái hoàn toàn có quyền chọn những rủi ro để đem nhượng tái và dĩ nhiên nhà
Tái bảo hiểm có quyền khước từ tham gia vào hợp đồng nếu họ không muốn.Thủ tục
để tiến hành thực hiện một hợp đồng tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn bao gồm:
 Trước hết công ty nhượng thông báo cho nhà tái bảo hiểm một dịch vụ nào đó
mà họ cần tái bảo hiểm dưới hình thức một phiếu đề nghị (Slip), trong đó có
ghi các đặc điểm chính của rủi ro cần tái bảo hiểm.

có lợi cho các đối thủ cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm gốc.
 Không đảm bảo thời gian trong việc phân tán rủi ro tái bảo hiểm: Công ty
nhượng không có sự đảm bảo chắc chắn của thị trường tái bảo hiểm khi họ
nhận bảo hiểm cho một rủi ro nào đó, có thể giảm khả năng cạnh tranh, tính
năng động cũng như uy tín của họ.
 Trong nhiều trường hợp hình thức tái bảo hiểm này chỉ được thực hiện với
mức phí cao hơn mức phí gốc hoặc buộc phải giảm bớt thủ tục phí tái bảo
hiểm. Ngoài ra khi thị trường tái bảo hiểm thế giới cung cầu đã bão hoà hay
khả năng tiếp nhận rủi ro của thị trường đã gần đạt tới mức tối đa, dày đặc thì
tái bảo hiểm theo hình thức này sẽ rất bị hạn chế.
Do những ưu và nhược điểm trên, hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn thường
được áp dụng trong những trường hợp sau:
 Phát sinh các dịch vụ lớn, vượt khỏi giới hạn khống chế bởi hợp đồng nhận tái
bảo hiểm cố định do đó cần thiết phải thu xếp tái bảo hiểm cho phần vượt quá
này.
 Tái bảo hiểm tạm thời cho phép công ty bảo hiểm gốc nhận những dịch vụ
nằm ngoài phạm vi khai thác thông thường theo yêu cầu đặc biệt của khách
hàng.
 Có những trường hợp người được bảo hiểm gốc không hiểu biết đầy đủ về một
loại rủi ro nào đó và phải yêu cầu người nhận tái giúp đỡ. Khi đó người nhận
tái sẽ là người xác định mức phí, các điều khoản.
1.2.3.2. Tái bảo hiểm bắt buộc (Obligatory Reinsurance)
Hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là sự thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà tái
bảo hiểm mà trong đó công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất
cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã quy định trước trong hợp đồng cho tới
một hạn mức trách nhiệm ngang với số tiền hạn mức tối đa đã được thoả thuận từ
trước. Ngược lại công ty nhận tái bảo hiểm cũng phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi
ro đó. Với hình thức này công ty nhượng có toàn quyền tự do chấp nhận và định giá
phí bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro mà người được bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm và
không cần tham khảo trước ý kiến của công ty nhận tái bảo hiểm.

Tái bảo hiểm lựa chọnbắt buộc là một hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng
thường cố gắng thu xếp mỗi khi những rủi ro cần tái bảo hiểm trong một ngành kinh tế
lên đến một mức độ nào đó. Trong hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng không
bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch vụ mà mình khai thác được, nhưng ngược lại
nhà tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả
thuận này với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản
đã quy ước của hợp đồng tái bảo hiểm đã ký kết. Như vậy so với hình thức tái bảo
hiểm tuỳ ý lựa chọn thì nhà tái bảo hiểm bất lợi hơn vì không có quyền từ chối nhận
những rủi ro mà họ không mong muốn.
7

 Ưu điểm:
 Rất phù hợp với công ty nhượng mới thành lập, khả năng tài chính còn yếu
kém, quan hệ hạn hẹp.
 Giúp công ty nhượng có thể lựa chọn những rủi ro vượt quá khả năng tự giữ
lại của mình để đem tái cho một nhà tái bảo hiểm duy nhất hay một số ít các
nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn thay vì phải tái đi tất cả mọi đơn vị rủi ro như
trong hình thức tái bảo hiểm bắt buộc.
 Do nhà tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng tái
cho nên công ty nhượng luôn có sự đảm bảo chắc chắn trong thu xếp tái bảo
hiểm với chi phí ít tốn kém. Mặt khác, nhà tái bảo hiểm cũng có điều kiện tăng
thu nhập từ nguồn phí nhận tái bảo hiểm lớn.
 Nhược điểm:
 Nhà tái bảo hiểm bị bất lợi do không có quyền từ chối những rủi ro mà một
khi công ty nhượng đã lựa chọn tái.
 Hình thức này đôi khi gây ra trường hợp công ty nhượng cố tình đưa vào hợp
đồng những rủi ro không hợp lý, phí thấp…hoặc có tư tưởng ỷ lại, không chú
trọng trong khâu đánh giá rủi ro, từ đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới kết
quả kinh doanh của công ty nhận.
 Nếu công ty nhượng gặp phải nhà tái bảo hiểm mà hoạt động kinh doanh của

đơn vị rủi ro. Đồng thời công ty nhượng hoàn toàn yên tâm khi khách hàng
tham gia bảo hiểm gốc chuyển giao rủi ro cho mình.
 Thủ tục phí tái bảo hiểm (hoa hồng tái bảo hiểm) của dạng này là cao nhất.
 Nhược điểm:
 Ít nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của công ty nhượng.Vì tất cả
các đơn vị rủi ro đều đem tái đi nên công ty nhượng không giữ lại cho mình
những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm mà khả năng tài chính của mình hoàn
toàn cho phép.
 Không lường trước được mức độ biến thiên của số tiền bảo hiểm và số tiền bồi
thường.
1.3.1.2. Tái bảo hiểm mức dôi
Đặc trưng của của tái bảo hiểm mức dôi là công ty nhượng ấn định mức giữ lại,
phần còn lại đem tái cho công ty khác. Trong tái bảo hiểm mức dôi trách nhiệm của
người nhận được xác nhận theo lớp, tức là bội số của mức giữ lại. Do đó, phí bảo hiểm
và số tiền bảo hiểm bồi thường được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng giữa công ty
nhượng và nhà tái bảo hiểm.
 Ưu điểm:
Phương thức này có nhiều điểm tích cực hơn so với tái bảo hiểm số thành.
 Thứ nhất là người nhượng có thể chủ động tính toán và giữ lại được một cách
ổn định số phí cho phù hợp với khả năng tài chính của mình.
 Thứ hai là đối với những hợp đồng có số tiền bảo hiểm nhỏ thì người nhượng
có thể được giữ lại toàn bộ. Khác với tái bảo hiểm số thành, người nhận tái
trong tái bảo hiểm theo mức dôi sẽ không tham gia vào mọi đơn vị rủi ro mà
9

chỉ can thiệp khi đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm lớn hơn mức giữ lại của
người nhượng.
 Nhược điểm:
 Nhìn chung chi phí quản lý tốn kém hơn so với phương pháp số thành.
 Những tổn thất nhỏ phần lớn rơi vào công ty nhượng phải gánh vác.

phương thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ liên quan đến các mức tỷ lệ của giá trị đối tượng
Thang Long University Library
10

chịu rủi ro. Trong khi các phương thức tái bảo hiểm phi tỷ lệ nhìn nhận theo cách khác
và được dựa trên các tổn thất chứ không phải là số tiền bảo hiểm. Có ba phương thức
tái bảo hiểm cơ bản sau:
 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường.
 Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường.
 Tái bảo hiểm kết hợp mức dôi và vượt mức bồi thường
1.3.2.1. Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường
Theo phương thức này, công ty nhượng ấn định số tổn thất vượt quá điểm tự bồi
thường chuyển giao cho nhà tái bảo hiểm, và nhà tái bảo hiểm nhận tái theo từng lớp.
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường có các dạng sau:
 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ không hạn mức.
 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường có hạn mức từng sự cố.
 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo tai hoạ khốc liệt.
1.3.2.2. Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường
Theo phương thức này, công ty nhượng khống chế trách nhiệm bồi thường một
tỷ lệ nhất định, tỷ lệ bồi thường vượt quá mức quy định được chuyển giao cho nhà tái
bảo hiểm. Phương pháp này giúp cho công ty nhượng chống lại sự gia tăng đột biến
của tỷ lệ bồi thường trong một ngành bảo hiểm hay một dạng dịch vụ bảo hiểm nào đó
trong một thời gian quy định, bất luận tình trạng đó do nguyên nhân nào xảy ra.
Số tiền bồi thường
Tỷ lệ bồi thường = x100%
Phí thu
1.3.2.3. Tái bảo hiểm kết hợp mức dôi và vượt mức bồi thường
Theo phương thức này việc phân chia trách nhiệm ban đầu được tiến hành cho
hợp đồng mức dôi trước. Khi tổn thất xảy ra các nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi
thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty nhận tái bảo hiểm mức đòi tuỳ theo

1.4.2.
1.4.2.1. Hợp đồng tái bảo hiểm bắt buộc (Obigtory reinsurence)
Đây là thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm trong đó công ty
nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm
gốc mà hai bên đã thoả thuận từ trước. Ngược lại nhà tái bảo hiểm bắt buộc phải nhận
toàn bộ tất cả các đơn vị rủi ro đó. Công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận
bảo hiểm gốc, định phí mà không phải tham khảo ý kiến của nhà tái bảo hiểm. Đây
là tái bảo hiểm ràng buộc các bên một cách chặt chẽ.
1.4.2.2. Hợp đồng tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (Facultative reinsurance)
Đây là hình thức tái bảo hiểm cơ bản nhất, theo đó công ty nhượng toàn quyền
lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm và công ty nhận có quyền được nhận hay từ chối
rủi ro đó.
1.4.2.3. Hợp đồng tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn bắt buộc (Fucultative –Obligatory
reinsurance)
Đây là hình thức kết hợp của cả hai hình thức trên. Theo đó công ty nhượng
không bắt buộc phải nhượng tất cả các rủi ro bảo hiểm đã nhận, ngược lại nhà tái bảo
hiểm bắt buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng chuyển giao. Mỗi hình
thức hợp đồng yêu cầu công ty nhượng thông báo những thông tin khác nhau. Nếu
Thang Long University Library
12

người bảo hiểm cung cấp thông tin không chính xác về rủi ro bảo hiểm đã được chấp
nhận trong hợp
 iểm.
Th tc phí theo thang lu tin: Với loại hình này, thủ tục phí tăng giảm theo
tỷ lệ bồi thường, mỗi công ty đều có đồng tái bảo hiểm gốc và là cơ sở để xây dựng
hợp đồng tái bảo hiểm thì nhà tái bảo hiểm có quyền từ chối trách nhiệm bồi thường
khi phát hiện ra sự thiếu trung thực đó.
Những nội dung cơ bản trong hợp đồng tái bảo hiểm
1.4.3.

25%
26%
27%
28%
29%
30%
(Nguồn: Phòng tài chính kế hoạch)
Tỷ lệ thủ tục phí thấp nhất là 20%,
13

Cuối mỗi kỳ, thủ tục phí tái bảo hiểm sẽ được tính lại và điều chỉnh lại theo tỷ lệ
của thang luỹ tiến trên cơ sở bồi thường của năm nghiệp vụ.

Tổn thất phải bồi thường
Tỷ lệ bồi thường thuần tuý =  100 %.
Phí thực thu
 Th tc phí theo lãi:
Đây là phí được tính toán phụ thêm cho hoa hồng cố định. Theo phương pháp
này, nhà tái bảo hiểm phải trả thêm cho công ty nhượng một khoản lợi nhuận nhất định
được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận thực tế mà nhà tái bảo hiểm được hưởng
khi kết quả của hợp đồng tái bảo hiểm có lãi.
1.4.3.2. Phí tạm giữ
Phí tạm giữ là khoản dự phòng riêng giúp cho công ty nhượng có thuận lợi trong
việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm gốc trước khi quyết toán đòi bồi
thường của nhà tái bảo hiểm. Mức phí tạm giữ là bao nhiêu và thời gian tạm giữ là bao
lâu còn tuỳ thuộc vào luật lệ của từng nước. Thông thường khoản dự phòng này được
tính bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của phí tái bảo hiểm toàn phần ( trong khoảng từ
30 % – 40 %)
Trong trường hợp nhà tái bảo hiểm không tiếp tục tham gia hợp đồng năm sau thì
phí tạm giữ sẽ được giải quyết như sau:

đồng bảo hiểm gốc. Có một định nghĩa rất cổ điển về tái bảo hiểm do luật gia nổi tiếng
Lord Man Field’s đưa ra vào năm 1807: “Tái bảo hiểm là một sự đảm bảo mới, bị chi
phối bởi một đơn bảo hiểm mới, cho cùng một rủi ro đã được bảo hiểm trước, nhằm
bồi thường cho người bảo hiểm theo mức thoả thuận và cả hai đơn bảo hiểm phải tồn
tại đồng thời”. Định nghĩa này chỉ rõ rằng:
 Hợp đồng tái bảo hiểm cũng mang đầy đủ tính chất như một hợp đồng bảo
hiểm.
 Người được bảo hiểm gốc là bên thứ ba trong hợp đồng tái bảo hiểm.
 Hợp đồng bảo hiểm gốc và hợp đồng tái bảo hiểm phải tồn tại song song.
Như vậy có nghĩa là nếu công ty nhận tái bảo hiểm bị phá sản thì công ty nhượng
tái bảo hiểm vẫn có trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trên đơn bảo
hiểm. Nhưng nếu công ty nhượng tái bị phá sản thì người được bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm gốc không có quyền khiếu nại đối với công ty nhận tái bảo hiểm. Tuy
nhiên, hệ thống luật AnhMỹ vẫn cho phép người được bảo hiểm gốc có quyền được
hưởng bồi thường trực tiếp từ người nhận tái bảo hiểm trong một số trường hợp đặc
biệt nhưng phải có điều khoản “Cutthrough clause” trong hợp đồng tái bảo hiểm.
Điều khoản này cho phép người được bảo hiểm gốc có thể yêu cầu một cách trực tiếp
với công ty nhận tái bảo hiểm thanh toán một phần tổn thất trong trường hợp công ty
bảo hiểm gốc không có khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.
Mọi nguyên tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng Bảo hiểm cũng đều được áp dụng
tương tự cho hợp đồng tái bảo hiểm giữa công ty nhượng và công ty nhận tái bảo
hiểm.
15

 Nguyên tắc tín nhiệm tuyệt đối (The atmost of good faith): Đây là nét cơ bản
đặc trưng trong tái bảo hiểm. Trong hợp đồng Tái bảo hiểm, nguyên tắc này
phải đặc biệt được tôn trọng. Cụ thể là công ty nhượng tái phải cung cấp đầy
đủ mọi thông tin liên quan tới đối tượng bảo hiểm cho công ty nhận tái biết,
nếu có rủi ro xảy ra thì phải thông báo và tính toán tổn thất một cách trung
thực. Ngược lại công ty nhận tái cũng phải trung thực trong việc đưa ra những

nhượng tái bảo hiểm hay không.
Thang Long University Library
16

Thông thường, đối với hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời, hoặc các vụ tổn thấn có
số tiền bồi thường lớn, các công ty nhận tái bảo hiểm sẽ thanh toán số tiền bồi thường
ngay sau khi hoàn thành các thủ tục liên quan đến việc đòi bồi thường. Đối với những
tổn thất nhỏ, dưới mức đòi bồi thường được quy định trong hợp đồng tái bảo hiểm cố
định, số tiền bồi thường sẽ được hai bên tính toán và thanh toán vào cuối mỗi quý.
Các bước ký kết hợp đồng tái bảo hiểm
1.4.6.
1.4.6.1. Ký kết hợp đồng tái bảo hiểm qua môi giới
Hoạt động chủ yếu trên thị trường tái bảo hiểm hiện nay đều thực hiện thông qua
môi giới, do vậy các bước thu xếp hợp đồng đều do môi giới đảm nhận. Bao gồm các
bước như sau:
c 1: Công ty nhượng tái bảo hiểm gửi đơn chào tái cho môi giới hoặc gửi nội
dung để môi giới thảo đơn chào. Đơn chào tái bảo hiểm phải bao gồm những điều
khoản cơ bản nhất của hợp đồng tái bảo hiểm. Điều quan trọng là môi giới có chấp
nhận mức phí tái bảo hiểm và hoa hồng tái bảo hiểm đưa ra hay không. Vì nếu hoa
hồng cao cộng với phí môi giới sẽ không hấp dẫn đối với với các công ty nhận tái bảo
hiểm. Ở đây, môi giới thay mặt cho công ty nhận tái bảo hiểm quyết định có đồng ý
với đơn chào hay phải thoả thuận lại.
c 2: Môi giới tái bảo hiểm sẽ chào tái bảo hiểm tới nhiều công ty bảo hiểm
và tái bảo hiểm khác trên thị trường. Môi giới tái bảo hiểm phải là người có quan hệ
rộng rãi thì mới biết được ai là người có khả năng đứng đầu nhận tái bảo hiểm vì một
người đứng đầu nhận tái bảo hiểm có kinh nghiệm và có uy tín sẽ dễ dàng cho việc thu
xếp hoạt động khác trong đơn chào. Sau đó môi giới sẽ tiếp tục chào tái bảo hiểm tới
nhiều công ty khác, công ty nào đồng ý với các điều khoản của đơn chào thì sẽ nhận
một phần trách nhiệm thông báo danh sách các công ty nhận tái bảo hiểm cùng với
mức trách nhiệm của họ cho người đứng đầu nhận tái bảo hiểm và cho công ty nhượng

Thông tư 155/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 – NĐ 45/2007/NĐ- CP quy định
lãnh đạo doanh nghiệp phải phê chuẩn chương trình tái bảo hiểm và giữ lại mức trách
nhiệm tối đa trên mỗi rủi ro, trên mỗi tổn thất riêng lẻ không quá 10% vốn chủ sở hữu
 Phần trách nhiệm vượt quá tỉ lệ 10% nói trên phải nhượng tái bảo hiểm
 Doanh nghiệp bảo hiểm không được nhận tái bảo hiểm đối với những rủi
ro đã nhượng tái bảo hiểm tránh việc tạo doanh thu phí tái bảo hiểm ảo, tạo số
liệu thống kê.
Hiện nay, một trong những công thức được sử dụng nhiều trong hoạt động đánh
giá về chất lượng nghiệp vụ tái bảo hiểm được sử dụng hiện này là:
Chỉ tiêu tỷ lệ tái bảo hiểm
1.5.1.
Công thức tính:
Tỷ lệ tái bảo hiểm =
=
Doanh thu nhận tái bảo hiểm (1)
Doanh thu phí bảo hiểm (2)
Nguồn số liệu:
(1) Doanh thu nhận tái bảo hiểm trên kết Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(2) Doanh thu phí bảo hiểm trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Thang Long University Library
18

Ý nghĩa:
Việc đánh giá chỉ tiêu này nhằm xem xét mức độ tái bảo hiểm của doanh nghiệp
trong năm, mức độ trợ vốn từ nhà tái bảo hiểm, từ đó thấy được năng lực tài chính của
doanh nghiệp, sự thay đổi của chính sách tài chính, cơ cấu sản phẩm của doanh
nghiệp.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tái bảo hiểm
1.5.2.
Công thức tính

 Trụ sở chính: Tầng 6, tòa nhà 29T1, Hoàng Đạo Thúy, Cầu Giấy, Hà Nội.
 ĐT: 04.37622555Fax: 04.37622055
 Mã số thuế : 0102183722
 Giấy phép hoạt động Số 38GP/KDBH ngày 18/10/2006 do Bộ Tài Chính cấp.
 Website: www.abic.com.vn
 Slogan: “Giữ uy tín để vươn tới thành công”
 Vốn điều lệ: 380.000.000 (Ba trăm tám mươi tỷ đồng chẵn) tính đến ngày
31/12/2013
Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.2.
Thực hiện chiến lược đưa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt
Nam trở thành một tập đoàn tài chính Ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam và lớn mạnh
trong khu vực với cấu trúc đa sở hữu, hoạt động kinh doanh đa dạng và có khả năng
cung cấp hệ thống sản phẩm dịch vụ tài chính ngày càng hoàn hảo cho nền kinh tế xã
hội. Ban lãnh đạo NHNN& PTNT Việt Nam đã quyết định mở rộng kinh doanh sang
lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ bằng việc đề xướng thành lập công ty Bảo hiểm Ngân
hàng Nông nghiệp (ABIC) chủ trương này đã được chấp nhận của bộ tài chính, Ngân
hàng Nhà nước. Ngày 18/10/2006, Bộ trưởng Bộ tài chính đã cấp phép thành lập và
hoạt động số 38 GP/KDBH về việc thành lập Công ty bảo hiểm Ngân Hàng Nông
nghiệp (ABIC).
Sau một thời gian dài chuẩn bị cơ sở vật chất, tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán
bộ và đại lý, sắp xếp hoàn thịên cơ cấu bộ máy, công ty đã long trọng tổ chức lễ khai
trương vào ngày 08/08/2007. Như vậy công ty Bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp đã
chính thức đi vào hoạt động kinh doanh, tham gia vào thị trường bảo hiểm phi nhân
thọ và sẵn sàng phục vụ nhu cầu bảo hiểm Phi nhân thọ của khách hàng trên phạm vi
cả nước.

Thang Long University Library
20


Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp
2.1.3.
(ABIC)
Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp là một doanh nghiệp lớn, do
đó muốn tồn tại trong môi trường cạnh tranh như hiện nay thì bộ máy quản lý phải
chặt chẽ, phù hợp với quá trình phát triền của công ty và sự phát triển của thị trường.
Qua quá trình thực tập tại công ty, em đã tìm hiểu cơ cấu tổ chức của ABIC như sau:
21 (Nguồn: Phòng hành chính)
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm ABIC
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
2.1.4.
i hng c 

BH PHI
HÀNG HẢI
TÁI BẢO
HIỂM
ĐẦU TƯ
VỐN
Thang Long University Library
22

Ban kim soát:
Ban Kiểm soát do ĐHĐCĐ trực tiếp bầu và có 03 Thành viên với nhiệm kỳ tối
đa là 05 năm. Ban Kiểm soát là cơ quan trực thuộc ĐHĐCĐ và có nhiệm vụ giám sát,
kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong các hoạt động quản lý điều hành, hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính của ABIC.
c:
Giám đốc điều hành do HĐQT lựa chọn, bổ nhiệm trong số các thành viên
HĐQT hoặc thuê tuyển trên cơ sở hợp đồng lao động với thời hạn 05 năm. Giám đốc
điều hành là Đại diện theo pháp luật của ABIC và có quyền, trách nhiệm điều hành
hoạt động thường ngày của doanh nghiệp trên cơ sở các nghị quyết của ĐHĐCĐ,
HĐQT
Giám đốc điều hành có 01 Phó giám đốc giúp việc, do HĐQT quyết định bổ
nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc điều hành.
Phòng hành chính:
Thực hiện công tác tổng hợp; hành chính; văn thư, lưu trữ. Tiếp nhận, phân loại
văn bản đi và đến; tham mưu cho Ban Giám đốc xử lý các văn bản hành chính nhanh
chóng, kịp thời. Quản lý con dấu, chữ ký theo quy định. Cấp giấy công tác, giấy giới
thiệu, sao lục các văn bản do công ty ban hành và văn bản của cấp trên theo quy định
.Tổ chức triển khai và phối hợp với các đơn vị thực hiện các công tác phát sinh trong
quá trình xây dựng và phát triển công ty.
Phòng tài chính k toán:

 Nhóm nghiệp vụ Đầu tư vốn: Ngoài hoạt động kinh doanh chính về bảo hiểm,
nhóm nghiệp vụ về Đầu tư nghiên cứu các vấn đề về góp vốn, liên doanh, mua
bán chứng khoán, cổ phiếu giúp doanh nghiệp chủ động được nguồn vốn kinh
doanh.
Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty
2.1.5.
Hiện tại, ABIC được cấp phép kinh doanh vào các lĩnh vực sau:
 Kinh doanh bo him:
 Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người
 Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
 Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt
và đường hàng không
 Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
 Bảo hiểm trách nhiệm chung
 Bảo hiểm hàng không
 Bảo hiểm xe cơ giới
 Bảo hiểm cháy nổ
 Bảo hiểm nông nghiệp
 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác
 Kinh doanh tái bo him: Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các
bảo hiểm phi nhân thọ.
Thang Long University Library
24

 nh tn tht: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại lý
giám định tổn thất, yêu cầu người thư ba bồi hoàn.
 Tin hành hoc sau:
 Mua trái phiếu chính phủ;
 Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;
 Kinh doanh bất động sản;

80.836
21,38
Tổng chi trực tiếp hoạt
động KD bảo hiểm
201.474
197.730
235.493
(3.744)
(1,86)
37.763
19,10
Li nhun gp
133.334
180.321
223.394
46.987
35,24
43.073
23,89
Chi phí quản lý DN
131.006
161.877
186.552
30.871
23,56
24.675
15,24
Li nhun thun KD
bo him
2.328

(22,58)
Li nhun sau thu
54.315
69.192
52.721
14.877
27,39
(16.471)
(23,80)
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Thang Long University Library

Trích đoạn ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM TẠI ABIC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status