NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ ĐỊA LÝ DÂN CƯ- CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ LỚP 12 CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA SỬ DỤNG ATLÁT ĐỊA LÝ - Pdf 28

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC PHẦN
ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ ĐỊA LÝ DÂN CƯ- CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ LỚP 12 CHO
HỌC SINH THPT THÔNG QUA SỬ DỤNG ATLÁT ĐỊA LÝ
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong việc làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý ở
trường THPT, các giáo viên đã rất chú trọng đến việc sử dụng các phương tiện
dạy học như các loại bản đồ treo tường, các mô hình, máy chiếu Các phương
tiện dạy học có ý nghĩa rất lớn đối với việc đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực và phát huy được khả năng tự học của học sinh. Trong giảng dạy
địa lí có thể sử dụng nhiều loại phương tiện dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giờ
dạy.
Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lý cũng là phương pháp giảng dạy
học mới theo hướng tích cực. Kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn
Địa lí, bao gồm : các bản đồ, lược đồ, các tranh ảnh, các biểu đồ, bảng số liệu
thống kê trong sách giáo khoa và trong Atlat …Atlát Địa lý là một dạng kênh
hình được các giáo viên sử dụng trong dạy và học môn Địa lý mang lại hiệu quả
cao, giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức theo nội dung bài học, ít phải ghi
nhớ một cách máy móc, lại hấp dẫn học sinh, tạo hứng thú cho học sinh trong
giờ học Địa lý Và do bố cục của Atlat rất phong phú, nên có thể giúp cho việc
học môn Địa lí của học sinh đạt hiệu quả cao.
Việc sử dụng Atlát Địa lý làm kênh hình trong giờ dạy không còn là vấn
đề mới, nhưng cũng chưa phải là phổ biến, còn rất nhiều giáo viên chưa chú
trọng sử dụng Atlát trong giờ dạy, chưa hướng dẫn học sinh hoặc chưa có
phương pháp hướng dẫn học sinh sử dụng Atlát, vì vậy học sinh chưa thấy được
vai trò của Atlát trong việc học môn Địa lý, hiệu quả của việc sử dụng Atlát
chưa cao.
Với học sinh lớp 12, việc sử dụng Atlát để học môn Địa lý là rất cần thiết,
tạo cho các em thói quen độc lập và sáng tạo trong quá trình học tập không chỉ
môn Địa lý mà còn ở tất cả các môn học. Đồng thời việc sử dụng Atlát sẽ làm
giảm tâm lý phải học thuộc lòng, giúp các em học tập có hiệu quả hơn, có thể
1

việc đó thì trước hết phải làm cho học sinh thích học môn Địa lý.
Nói về sự đổi mới phương pháp dạy học, trên thực tế dạy học bằng các
phương pháp mới đã mang lại những kết quả khả quan, học sinh tiếp thu bài tốt
hơn, mở rộng thêm nguồn kiến thức của mình mà không phải ghi nhớ một cách
máy móc.
Ở trường THPT, phương pháp đặc trưng của bộ môn Địa lý là sử dụng
kênh chữ và kênh hình trong dạy học. Dạy học bằng kênh chữ là phương pháp
quen thuộc, nếu chỉ sử dụng mình kênh chữ sẽ gây nhàm chán cho học sinh,
buộc học sinh phải ghi nhớ một cách máy móc. Sử dụng kênh hình , trong đó sử
dụng Atlát Địa lý là rất cần thiết, nhất là đối với học sinh lớp 12, viếc sử dụng
Atlát để đọc, nhận xét và phân tích các bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, tranh
ảnh trong các trang Atlát , rồi đi đến nhận biết kiến thức qua các trang trong
Atlát, giúp học sinh tiếp thu kiến thức nhanh , dễ hiểu, hứng thú trong học tập.
Trên cơ sở đó giáo viên tránh được việc phải sử dụng phương pháp diễn giải dài
dòng, từng bước tạo sự yêu thích học môn Địa lý cho học sinh.
II. Thực trạng vấn đề:
Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống thường gây nhàm chán
cho học sinh trong hầu hết các môn học nói chung và môn Địa lý nói riêng, học
sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, không phát huy được tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh. Sau mỗi tiết học , học sinh không có ấn tượng
nhiều về tiết học, nhiều học sinh không nhớ hết được những kiến thức vừa học
và gần như không hề hứng thú với bài học và môn học Địa lý.
Bên cạnh đó, môn học Địa lý có số giờ ít, trên thực tế nhiều học sinh vẫn
coi đây là môn học phụ nên ít khi chú ý học bài , chính vì vậy mà việc giảng dạy
của giáo viên gặp không ít những khó khăn. Để làm học sinh yêu thích và chịu
khó học bài thì các khâu soạn giảng và lên lớp của giáo viên phải sử dụng các
phương pháp phù hợp để phát huy tính tích cực của học sinh.
3
Từ thực tiễn của việc cần thiết phải đổi mới các phương pháp dạy học để
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, tôi nhận thấy việc sử

các vùng kinh tế.
+ Giới hạn một vùng lãnh thổ hay các vùng liền kề nhau.
- Trong bản đồ mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và các
biểu đồ , số liệu thống kê.
- Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện:
+ Một số bảng số liệu, biểu đồ dân số qua các năm, cơ cấu, hay biểu đồ biểu
hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công
nghiệp…
+ Một số hình ảnh về hoạt động sản xuất kinh tế, hoạt động văn hoá… của các
địa phương.
b. Xác định với học sinh tầm quan trọng của Atlat Địa lí Việt Nam trong
việc học chương trình Địa lý lớp 12 nói chung, và học các bài học trong
phần Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư của chương trình Địa lý lớp 12.
Bố cục của Atlát rất phong phú, có nhiều bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu
thống kê, tranh ảnh với những nội dung khác nhau, giúp cho việc học Địa lý
thuận lợi hơn, hiệu quả hơn mà không phải học thuộc lòng và ghi nhớ một cánh
máy móc.
Phần Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư là những phần có kiến thức trừu
tượng và rất khó, nếu không sử dụng kênh hình để dạy và học , thì việc học của
các em sẽ rất khó khăn. Vì vậy khi học môn Địa lí lớp 12, nên tích cực rèn
luyện kỹ năng sử dụng Atlat để các em biết cách khai thác kiến thức qua từng
trang của Atlat là rất cần thiết, giúp các em học tốt hơn môn Địa lý, đặc biệt là
phần Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư.
5
2. Thực hiện các phương pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng Atlát cho
học sinh trong dạy và học phần Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư ở chương
trình địa lý lớp 12.
a. Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung trong bản đồ, biểu
đồ của Atlat.
Việc đầu tiên là phải rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội

* Xác định với học sinh, với yêu cầu của bài 2 , cần sử dụng bản đồ Hành chính
ở trang 4, 5 của Atlát Địa lý để khai thác.
* Hướng dẫn học sinh cách khai thác bản đồ trong Atlát:
+ Giới thiệu với học sinh trong trang 3,4 của Atlát Địa lý , ngoài bản đồ hành
chính Việt Nam, ở góc phải phía trên còn có bản đồ Các nước Đông Nam Á.
+ Yêu cầu học sinh phải xác định được hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến, đọc kỹ
bảng chú giải trong trang bản đồ để xác định các ký hiệu trên bản đồ, đặc biệt là
biên giới các quốc gia.
+ Dựa vào kênh chữ trên bản đồ học sinh xác định được các quốc gia có chung
đường biên giới với Việt Nam.
+ Dựa vào hệ thống kinh- vĩ tuyến và kênh chữ xác định các điểm cực Bắc,
Nam, Đông, Tây của lãnh thổ Việt Nam.
+ Dựa vào bản đồ Các nước Đông Nam Á và hệ thống kinh- vĩ tuyến xác định
được Viêt Nam nằm ở khu vực nào trên thế giới và ở vị trí nào trong Đông Nam
Á.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định vùng biển của nước ta trên bản đồ
hành chính và bản đồ các nước Đông Nam Á :
. Giáp với phía đông và nam lãnh thổ Việt Nam
. Trên bản đồ Đông Nam Á, là một bộ phận của biển Đông, giáp với
vùng biển của các quốc gia nào?
7
. Xác định đường cơ sở , để trên cơ sở đó xác định các bộ phận hợp
thành vùng biển Việt Nam.
. Xác định hệ thống các đảo, đặc biệt là 2 quần đảo xa bờ là Hoàng sa và
Trường sa.
+ Trên cơ sở kết hợp với kênh chữ trong sách giáo khoa , học sinh có thể làm
rõ được yêu cầu của bài học : kết luận về đặc điểm vị trí địa lý , phạm vi lãnh
thổ và các bộ phận hợp thành lãnh thổ Việt Nam.
* Kết hợp với các phương pháp dạy học và các phương tiện dạy học khác để
làm rõ các nội dung còn lại của bài học.

hình.
Ví dụ : Màu sắc trên bản đồ có sự thay đổi từ xanh -> vàng -> đỏ chứng
tỏ địa hình có sự phân hóa về độ cao , màu đỏ và màu vàng chiếm tỷ lệ lớn trên
bản đồ chứng tỏ địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nước ta, trong đó màu
vàng chiếm ưu thế chứng tỏ chủ yếu là địa hình đồi núi thấp
Các hình ảnh trong mỗi trang Atlát , để thấy được tác động của con người
lên bề mặt địa hình.
+ Khai thác các bản đồ để làm rõ sự phân hóa thành các khu vực địa hình và
sự khác nhau giữa các khu vực địa hình:
Căn cứ vào màu sắc thể hiện trên bản đồ, cách thể hiện kênh chữ trên bản
đồ để làm rõ : Ranh giới các khu vực địa hình, dạng địa hình chính , độ cao địa
hình , hướng các dãy núi và hướng của các thung lũng sông
Ví dụ 1 : Trên bản đồ các miền địa lý tự nhiên ( trang 13) ranh giới vùng
núi Đông Bắc với vùng núi Tây Bắc là thung lũng sông Hồng được thể hiện
bằng nét gạch màu hồng đứt đoạn, ở vùng núi Đông Bắc màu vàng nhạt và xanh
lá mạ chiếm ưu thế chứng tỏ địa hình chủ yếu đồi núi thấp, vùng núi Tây Bắc
màu đỏ và vàng chiếm ưu thế chưng tỏ nhiều địa hình núi cao. Ở vùng núi Đông
Bắc các kênh chữ thể hiên các dãy núi đươc bố trí theo hướng vòng cung chứng
9
tỏ cấu trúc địa hình ở đây có hướng vòng cung , ở vùng núi Tây Bắc các kênh
chữ thể hiên các dãy núi đươc bố trí theo hương tây bắc – đông nam chứng tỏ
cấu trúc địa hình ở đây có hướng tây bắc – đông nam
Ví dụ 2 : Trên bản đồ các miền địa lý tự nhiên ( trang 13) ranh giới vùng
núi Trường Sơn Bắc với Trường Sơn Nam là dãy Bạch Mã được thể hiện bằng
nét gạch màu hồng đứt đoạn, ở vùng núi Trường Sơn Bắc màu vàng nhạt và màu
xanh lá mạ chiếm ưu thế chứng tỏ địa hình ở đây chủ yếu là đồi núi thấp, dòng
chảy của các con sông được thể hiện theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chứng tỏ
hướng của địa hình là hướng Tây Bắc – Đông Nam. Ở vùng núi Trường Sơn
Nam màu vàng chiếm ưu thế chứng tỏ địa hình núi trung bình chiếm ưu thế,
kênh chữ cho ta thấy ở đây có các cao nguyên rộng lớn

rõ các nội dung còn lại của bài học.
+ Trên cơ sở đó kết hợp với kênh chữ trong sách giáo khoa, kết hợp với sử
dụng máy chiếu đa năng để giới thiệu thêm các hình ảnh , học sinh có thể làm
rõ được yêu cầu của bài học.
b4. Khai thác Atlát để dạy và học bài 8 : Thiên nhiên chịu ảnh hưởng
sâu sắc của biển.
* Xác định yêu cầu của bài học:
+ Biết được những nét khái quát về biển Đông.
+ Phân tích được ảnh hưởng của biển Đông đến các yếu tố khí hậu, địa hình
bờ biển, các hệ sinh thái ven biển , tài nguyên thiên nhiên vùng biển và các
thiên tai vùng biển
* Xác định với học sinh, với yêu cầu của bài 8 , cần sử dụng các bản đồ Hành
chính, Hình thể, Địa chất khoáng sản, khí hậu, Sông ngòi, Các nhóm đất, Thực
và động vật và bản đồ Các miền tự nhiên( từ trang 4 -> trang14) của Atlát Địa
ly để khai thác.
* Hướng dẫn học sinh cách khai thác bản đồ trong Atlát:
11
+ Khai thác các bản đồ Hành chính, Hình thể ( trang 4,5,6,7), Khí hậu ( trang
9) để làm rõ đặc điểm của biển Đông.
Ví dụ 1: trong bản đồ Hành chính , Hình thể dựa vào kênh chữ và hình
ảnh cho ta thấy biển Đông là một biển rộng và là biển kín nhờ được bao bọc bởi
vòng cung đảo.
Ví dụ 2: Trong bản đồ khí hậu , phân tích các biểu đồ về lượng mưa , biến
động nhiệt độ ở một số địa điểm , qua các ký hiệu đường chuyển động có thể
xác định được các chế độ gió và bão ở trên biển từ đó làm rõ đặc điểm biển
Đông là biển nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa , có nhiệt độ nước biển cao;
lượng mưa lớn thay đổi theo mùa đồng thời chịu tác động của hai chế độ gió
mùa là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam, chịu ảnh hưởng của nhiều
bão đồng thời kết hợp với kênh chữ trong sách giáo khoa làm rõ được vai trò
của biển Đông đến khí hậu Việt Nam

xuất và sinh hoạt của dân cư.
*Xác định với học sinh, với yêu cầu của bài 9,10 , cần sử dụng các bản đồ Hình
thể (trang 6,7),Khí hậu (trang 9), Sông ngòi(trang10), Các nhóm đất(trang 11),
Thực và động vật (trang12) của Atlát Địa lý để khai thác.
* Hướng dẫn học sinh cách khai thác bản đồ trong Atlát:
+ Khai thác bản đồ khí hậu để làm rõ nguyên nhân và biểu hiện tính chất nhiệt
đới ẩm gió mùa của khí hậu :
Ví dụ 1: Khai thác các bản đồ nhiệt độ ở trang 9, qua cách thể hiện bằng
màu sắc thay đổi trên bản đồ có thể thấy nền nhiệt độ ở nước ta luôn cao, có sự
thay đổi theo mùa và theo vĩ độ.
Ví dụ 2: Khai thác các bản đồ lượng mưa ở trang 9, qua cách thể hiện
bằng màu sắc thay đổi trên bản đồ có thể thấy lượng mưa trên lãnh thổ nước ta
luôn lớn và có sự thay đổi theo mùa và theo khu vực.
13
Ví dụ 3 : Khai thác bản đồ khí hậu chung , phân tích các biểu đồ về lượng
mưa và biến động nhiệt độ, học sinh thấy được chế độ nhiệt- ẩm của khí hậu
Việt Nam là rất dồi dào. Qua các ký hiệu đường chuyển động trên bản đồ kết
hợp với sách giáo khoa nhận xét được sự hoạt động của các chế độ gió mùa ,
hoạt động của bão trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó kết luận về tính chất nhiệt đới
ẩm gió mùa của khí hậu Việt Nam.
Trên cơ sở sở phân tích ý nghĩa của vị trí địa lý ở bài 2, kêt hợp với các
kiến thức đã được học cùng với kênh chữ trong sách giáo khoa, giáo viên hướng
dẫn học sinh làm rõ nguyên nhân của tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu
Việt Nam là do vị trí địa lý nước ta quy định.
+ Khai thác các bản đồ Hình thể ( trang 6,7), Sông ngòi(trang10), Các nhóm
đất(trang 11), Thực và động vật (trang12) của Atlát Địa lý để làm rõ tác động
của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đến các thành phần tự nhiên khác và cảnh
quan tự nhiên, biểu hiện của đặc điểm thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các
thành phần tự nhiên khác và cảnh quan tự nhiên:
Ví dụ 1: Khai thác bản đồ Hình thể học sinh nhận thức được các đồng

sinh nhận xét, giải thích. Với phương pháp này có thể tránh được sự nhàm chán
trong tâm lý học sinh.
* Kết hợp với các phương pháp dạy học khác để làm rõ các nội dung còn lại
của bài học.
b6. Khai thác Atlát để dạy và học bài 11, 12: Thiên nhiên phân hóa
đa dạng.
* Xác định yêu cầu của bài học :
+ Biết được biểu hiện sự phân hóa thiên nhiên theo Bắc – Nam trên lãnh
thổ nước ta qua yếu tố khí hậu và cảnh quan. Hiểu được sự phân hóa thiên nhiên
theo Bắc – Nam trên lãnh thổ nước ta chủ yếu do sự thay đổi khí hậu từ Bắc vào
Nam, nguyên nhân của sự thay đổi khí hậu này.
15
+ Hiểu được biểu hiện và nguyên nhân của sự phân hóa thiên nhiên theo
Đông –Tây , theo độ cao trên lãnh thổ nước ta.
*Xác định với học sinh, với yêu cầu của bài 11, 12 , cần sử dụng các bản đồ
Hình thể (trang 6,7),Khí hậu (trang 9), Thực vật và động vật (trang12)và bản
đồ Các miền tự nhiên (ở trang 13, 14) của Atlát Địa lý để khai thác.
* Hướng dẫn học sinh cách khai thác bản đồ trong Atlát:
+ Khai thác bản đồ khí hậu , thực vật và động vật để làm rõ biểu hiện của sự
phân hóa thiên nhiên theo Bắc –Nam trên lãnh thổ nước ta:
Trên bản đồ Hình thể kết hợp với bản đồ khí hậu, giáo viên cho học sinh
xác định ranh giới vùng lãnh thổ phía Bắc với vùng lãnh thổ phía Nam là dãy
Bạch Mã.
Ví dụ 1: Khai thác bản đồ khí hậu chung, các biểu đồ về nhiệt độ và lượng
mưa ở một số địa điểm học sinh nhận thức được:
.Từ Bắc vào Nam mùa mưa thay đổi , miền Bắc mưa vào nửa
sau mùa hè ( tháng 8 –> tháng 10); miền Trung mưa về mùa thu đông ( tháng 8
đến tháng 12); miền Nam mưa về hè thu ( tháng 5 –> tháng 10)
. Từ Bắc vào Nam biên độ nhiệt độ trung bình năm càng giảm.
. Miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ

đoạn bờ biển. Những đoạn đồi núi lùi sâu vào đất liền, đồng bằng mở rộng , có
các bãi triều thấp phẳng, thềm lục địa nông và mở rộng. Những đoạn đồi núi lan
sát ra biển , đồng bằng thu hẹp lại bị chia cắt thành những đồng bằng nhỏ, bờ
biển khúc khuỷu, với thềm lục địa thu hẹp, tiếp giáp với vùng biển sâu.
Ví dụ 2: Khai thác Khí hậu (trang 9), Thực vật và động vật (trang12)và
bản đồ Các miền tự nhiên (ở trang 13, 14), phân tích các biểu đồ nhiệt độ và
lượng mưa, nhận xét các ký hiệu tượng hình, ký hiệu đường chuyển động, làm
rõ sự phân hóa thiên nhiên giưa vùng núi Đông Bắc với vùng núi Tây Bắc:
. Vùng núi Đông Bắc chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc,
nhiệt độ trung bình tháng 1thấp hơn, số tháng lạnh nhiều hơn, mùa mưa kéo dài
hơn, lượng mưa trong năm nhiều hơn so với vùng núi Tây Bắc.
. Vùng núi Tây Bắc không chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông
Bắc, số tháng lạnh ít hơn, mùa mưa ngắn hơn với lượng mưa ít hơn.
17
. Vùng núi Đông Bắc thảm thực vật phát triển hơn, các loài thực –
động vật phong phú hơn, bên cạnh các loài nhiệt đới có thêm các loài ôn đới và
cận nhiệt, động vật có nhiều loài di cư từ phương Bắc xuống. Ở vùng núi Tây
Bắc, vùng núi thấp có các loài nhiệt đới, vùng núi cao có các loài ôn đới và cận
nhiệt.
Ví dụ 3: Khai thác Khí hậu (trang 9), Thực vật và động vật (trang12)và
bản đồ Các miền tự nhiên (ở trang 13, 14), phân tích các biểu đồ nhiệt độ và
lượng mưa, nhận xét các ký hiệu tượng hình, ký hiệu đường chuyển động, làm
rõ sự phân hóa thiên nhiên giưa vùng núi Đông Trường Sơn với vùng núi Tây
Trường Sơn:
. Đông Trường Sơn mưa về mùa thu đông do tác động trực tiêp của
gió từ biển vào, mùa hè có gió phơn khô nóng. Tây Trường Sơn ( Tây Nguyên )
mưa về mùa hè thu do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, có mùa khô kéo dài từ
tháng 11 –> tháng 4 năm sau.
. Đông Trường Sơn xuất hiện thảm thực truông cỏ và cây bụi, Tây
Trường Sơn ( Tây Nguyên ) có rừng thưa khô rụng lá theo mùa.

lượng mưa, thấy rõ đặc điểm khí hậu của từng miền:
. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bắc Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của
gió mùa Đông Bắc nên có mùa đông lạnh, mưa ít, mùa hè nóng mưa nhiều, chịu
ảnh hưởng của bão trong khoảng tháng 6 và tháng 7.
. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có gió mùa Đông Bắc suy yếu và
biến tính nên số tháng lạnh giảm, nhiệt độ trung bình tháng 1 cao hơn, ở Bắc
Trung Bộ mùa hè có gió phơn Tây Nam khô nóng, mưa về mùa thu đông (từ
tháng 8 –> tháng 12). Có bão mạnh từ tháng 8 –> tháng 10.
. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ không chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc nên không có tháng lạnh dưới 20
o
C, khí hậu nóng quanh năm,
có hai mùa mưa khô rõ rệt. Nam Bộ và Tây Nguyên mùa hè chịu ảnh hưởng của
19
gió mùa Tây Nam, mưa nhiều về mùa hè thu với lượng mưa trung bình năm lớn.
Ở ven biển Nam Trung Bộ mưa nhiều từ tháng 9 –> tháng 12 , có bão.
Ví dụ 5: Khai thác bản đồ Các nhóm và các loại đất chính, bản đồ thực vật
và động vật làm rõ đăc điểm thổ nhưỡng – sinh vật của mỗi miền:
. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bắc Bộ, bên cạnh các loài nhiệt đới có
thêm các loài ôn đới và cận nhiệt, động vật có các loài di cư từ phương Bắc
xuống. Về thổ nhưỡng, có đất Feralit ở vùng đồi núi, đất phù sa sông ở đồng
bằng.
. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, ở vùng núi thấp có các loài nhiệt
đới, vùng núi cao có các loài ôn đới và cận nhiệt.Về thổ nhưỡng, ngoài đất
Feralit có các loại đất khác ở vùng núi cao.
. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ , các loài thực và động vật nhiệt
đới và xích đạo chiếm ưu thế , ở Nam Bộ có rừng ngập mặn ven biển rất đặc
trưng. Thổ nhưỡng rất đa dạng, có nhiều nhóm đất với các loại đất khác nhau, ở
đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất phèn, mặn lớn.
* Kết hợp với các phương pháp dạy học và các phương tiện dạy học khác để

dân số và tình hình phân bố dân cư ở nước ta :
Ví dụ 1: Phân tích biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm, từ đó học sinh
nhận thức được: Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX đến nay
(Năm 1960 có khoảng 30,17 triệu người. Năm 1989 có 64,41 triệu người. Năm
1999 có 76,3 triệu người. Năm 2003 có khoảng 80,9 triệu người, năm 2007 có
khoảng 85,97 triệu người).
Ví dụ 2: Phân tích tháp tuổi trong biểu đồ để rút ra kết luận: cơ cấu dân
số nước ta là cơ cấu dân số trẻ, đồng thời giải thích xu hướng thay đổi cơ cấu
dân số theo độ tuổi ở nước ta. So sánh được số lượng dân số nam và nữ là tương
đối cân bằng.
21
Ví dụ 3: Khai thác bản đồ dân tộc ( trang 16 ) thấy được đặc điểm Việt
Nam là một nước có nhiều thành phần dân tộc, với nhiều hệ ngôn ngữ khác
nhau.
Ví dụ 4: Dựa vào màu sắc của bản đồ biểu hiện mật độ dân số ở các vùng,
nhận xét tình hình phân bố dân cư: mật độ dân số ở các vùng nhìn chung cao
nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, các vùng có mật độ dân số cao là
Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt
mật độ dân số ở một số đô thị lớn rất cao, mật độ dân số ở các vùng miền núi và
cao nguyên thấp, thấp nhất là vùng núi Tây Bắc và Tây nguyên. Đồng thời kết
hợp với phân tích biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm, nhận xét được số dân
thành thị ở nước ta cũng liên tục tăng, nhưng còn ít so với tổng dân số nước ta.
Từ đó học sinh có thể rút ra được nhận xét về tình hình phân bố dân cư ở nước
ta.
Ví dụ 5 : Qua phân tích biểu đồ sử dụng lao động theo ngành ở trang 15,
học sinh có thể nhận thức được : Nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao
động trong nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao, công nghiệp và dịch vụ còn
thấp, đó chính là kết quả và ảnh hưởng của một dân số đông, tăng nhanh và phân
bố chưa hợp lí.
* Kết hợp với các phương pháp dạy học và các phương tiện dạy học khác để

phần Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư ở lớp 12, tôi đã rút ra được những bài học
kinh nghiệm sau:
a. Việc đầu tiên là phải xác định với học sinh, khi khai thác các bản đồ
trong Atlat phải tuân theo trình tự sau:
- Với mỗi nội dung bài học, yêu cầu của từng bài học, cần phải chọn bản đồ nào,
ở trang nào của Atlat.
- Đọc bảng chú thích để nhận biết và đọc được các ký hiệu, ước hiệu, tỷ lệ trên
mỗi bản đồ.
- Phân tích các ký hiệu, ước hiệu trên bản đồ để rút ra các nhận xét cần thiết.
- Thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên , kinh tế - xã
hội để từ đó rút ra các kết luận…
23
- Khi sử dụng Atlat phải biết khai thác kiến thức nào trước, kiến thức nào sau.
b. Kỹ năng sử dụng Atlat để học môn Địa lí khá phức tạp, cần phải rèn
luyện thường xuyên cho học sinh qua từng giờ học.
c. Trong từng bài cụ thể mức độ khai thác, sử dụng Atlat không giống
nhau, có những bài học việc sử dụng Atlát chỉ được ứng dụng vào một số phần,
có những bài có thể khai thác Atlát để dạy và học cả bài.
d. Khi khai thác Atlát, không bỏ qua một chi tiết nào được thể hiện trên
mỗi bản đồ, biểu đồ của mỗi trang Atlát.
e.Giáo viên phải đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh phân tích, giải
thích, các câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
g. Trong một giờ học phải kết hợp việc khai thác Atlát với việc sử dụng
các phương tiện dạy học khác để tránh gây tâm lý nhàm chán cho học sinh.
h. Tùy từng nội dung bài học, chọn kênh hình phù hợp để khai thác, trong
mỗi bài học cũng cần phải chọn kênh hình phù hợp với từng nội dung.
3.Kết luận:
Sử dụng Atlát Địa lý trong dạy và học bộ môn Địa lý là rất cần thiết, nhất
là đối với học sinh lớp 12, viếc sử dụng Atlát để đọc, nhận xét và phân tích các
bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, tranh ảnh trong các trang Atlát , rồi đi đến nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status