TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CÓ ĐÁP ÁN - Pdf 28

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LTTCTT
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế
vĩ mô của chính phủ. Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
1. Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan
trọng, mỗi chính sách có mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh
tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực
tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Vì thế, CSTK được coi là một trong
những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK
vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu
tư lớn. Trong mối quan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một
sự nới lỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu
và tài trợ thâm hụt.
CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi
phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra. Một CSTT nới lỏng sẽ
làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền
tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng.
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được
tài trợ từ vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì
sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách
vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ giảm, hạn chế năng
lực đầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra,
CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại
tệ, nếu chính sách thu chi ngân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn
lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc tế.
CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, một CSTT thắt chặt sẽ làm
giảm đầu tư, khả năng thu thuế và nguồn thu ngân sách, một sự giảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản
nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điều chỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ
giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách.
Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản kho bạc mở tại

NHNN. Bên cạnh đó, NHNN cũng không nắm được các khoản thu chi lớn của ngân sách nhà nước,
nên bị động trong việc kiểm soát cung tiền trước tác động của các dòng tiền trong khu vực Chính phủ.
Từ cuối năm 2007, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suy thoái, gây ra những bất ổn
khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam, thị trường tài chính trong nước chao đảo mạnh, đe dọa tính
thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất và tỉ giá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang. Để
ổn định thị trường, NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đã có nhiều biện pháp can thiệp quyết liệt,
kịp thời và có hiệu quả, từng bước giải quyết các vấn đề phát sinh.
Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm phát,
nhưng CSTK vẫn duy trì mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu
quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùi. Nói đúng hơn, trong khi CSTT thắt chặt thì
CSTK lại nới lỏng, khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Khi đó, CSTK mới bắt đầu điều chỉnh theo
hướng giảm tỉ lệ thâm hụt xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v.
Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để hỗ trợ phục hồi kinh tế
sau khủng hoảng. Đối với CSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất
cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh
tế. Đối với CSTK, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải
pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp
cơ bản, trong đó kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh khoản
36.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nông
thôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước 2009, phát hành
trái phiếu Chính phủ bổ sung, …. Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD từ dự trữ ngoại hối quốc gia để hỗ trợ
giảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng).
Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải pháp thích hợp nhằm hướng
các khoản vay đúng đối tượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗ trợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ
thống. Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận được vốn ngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành
sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việc làm, từng bước khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới. Tính đến ngày 26/11/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là
415.886,92 tỉ đồng.
2
Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồn vốn trong nền kinh

thoát trong chi tiêu đối với các dự án và công trình lớn nhưng không hiệu quả, đảm bảo yêu cầu kiểm
soát chi tiêu hiệu quả hơn là chỉ nhằm mục tiêu kiểm soát việc chấp hành chế độ. Có biện pháp quyết
liệt về cải cách doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước. Rà soát lại hệ thống DNNN, xử lý kiên quyết các
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Cần tính đến ảnh hưởng tiêu cực của chính sách vay nợ nước ngoài liên
quan đến tỉ giá, hoạt động xuất khẩu và cán cân thương mại, không để ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng
lai và cán cân thanh toán
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu
của khu vực tư. Nêu các giải pháp khắc phục hiện tượng này.
3
Trong kinh tế học, hiện tượng chèn lấn (đầu tư) xảy ra khi chính phủ mở rộng việc vay mượn để tài trợ
chi tiêu hoặc để bù đắp việc cắt giảm thuế vượt doanh thu (tức là có hiện tượng thâm hụt chi tiêu), dẫn
tới mức lãi suất cao hơn, và kết quả là làm đầu tư ở khu vực tư nhân bị sụt giảm.
Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu,
công trái Đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng
lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập ngoài ra còn phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên
truyền, vận động để huy động tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn thành kế hoạch vay đã định.
Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong
tổng lượng tiết kiệm của xã hội. Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại
dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi.
Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã
hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có
khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của
ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp
và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh.
Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt
động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con
đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.
Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp có nguy cơ làm
giảm khẳ năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc

Vấn đề của Việt Nam khi tác nhân chính đóng góp làm tăng tổng cầu chính là chi tiêu ngân sách của
Chính phủ. Để tăng trưởng kinh tế thì cách dễ dàng nhất là tăng chi tiêu chính phủ. Tình trạng thâm
hụt ngân sách vẫn cứ tiếp diễn năm này qua tháng khác là một minh chứng cho vấn đề này. Khi chi
tiêu chính phủ tăng lên sẽ đóng góp chủ động làm tăng tổng cầu, từ đó cũng làm tăng cầu tiền tệ. Cầu
tiền tệ tăng lên, tất yếu tạo áp lực tăng lãi suất, trừ khi cung tiền cũng tăng theo. Khi đó, khu vực tư
nhân buộc phải cắt giảm bớt đầu tư và nhập siêu cũng phải tăng lên để phản ứng bị động trước sự gia
tăng của tổng cầu do chi tiêu ngân sách chèn lấn. Do bị chen lấn tín dụng như vậy nên doanh nghiệp
tư nhân luôn bị đói vốn và phải chấp nhận vay vốn với lãi suất quá cao, có thời điểm lên tới 20 – 22%.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp tư
nhân.
Như vậy khu vực tư nhân phải chịu hy sinh cho sự bành trướng của chính sách tài khoá và nền kinh tế
phải gánh chịu những hậu quả của tình trạng thâm hụt kép từ cán cân ngân sách và cán cân thương
mại. Không những chỉ có áp lực về lạm phát và lãi suất mà hệ quả của nó còn là các căng thẳng ngoại
tệ, áp lực tỷ giá và sự suy giảm dự trữ ngoại hối quốc gia.
Giải pháp:
Để khắc phục chèn lấn, yêu cầu các dự án đầu tư của Chính phủ phải có hiệu quả để thu hút lại sự đầu
tư của khu vực tư.
Chính phủ và nhất là các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả phải cắt giảm mạnh đầu tư của mình,
phân bổ vốn đầu tư công sao cho hợp lý (ví dụ, theo hướng tăng cường phát triển nguồn nhân lực bằng
cách đầu tư vào y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học), giám sát tốt quá trình đầu tư, nâng cao hiệu quả
quản lý và vận hành khối DNNN. Theo hướng này thì tổng cầu nhanh chóng giảm (vì phía tổng cung
đang có xu hướng giảm) và kết quả mong đợi là lạm phát sẽ giảm và lãi suất cũng giảm theo. Khi đó
khu vực tư nhân tiếp tục đầu tư các dự án có năng suất của họ và khởi đầu lại một chu kỳ kinh tế mới.
Chỉ có như vậy thì sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng mới có thể giảm thiểu.
Tuy nhiên, hiện tượng chèn lấn đầu tư có thể giảm bớt tính nghiêm trọng nếu chính phủ chi tiêu mở
rộng thị trường cho các sản phẩm ở khu vực tư nhân, và vì thế kích thích đầu tư trở lại (tác động gia
tốc kinh tế). Tác động này quan trọng nhất khi các doanh nghiệp đang trong tình trạng dư thừa năng
lực, tức là nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.
Thực hiện tựdo hoá tài chính trong lĩnh lực ngân hàng

hơn lãi suất thịtrường dưới một sức ép nào đó và phải huy động với lãi suất cao thì chênh lệch lãi suất
đầu vào và lãi suất đầu ra sẽkhông đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động của ngân hàng, nhưthếcác tổchức
tín dụng sẽkhông phát triển. Mặt khác, khi phải cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với lãi suất
thấp để đảm bảo đủbù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽkhông khuyến khích người dân duy trì nguồn vốn tiết
kiệm của mình ởtrong nước từ đó dẫn đến kìm hãm sựtăng trưởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu
quảcủa đầu tư.
Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽsẽkhuyến khích sựhình thành các công cụtài chính và các trung gian
tài chính không chính thức phát triển đểcạnh tranh với các công cụtài chính và các trung gian tài chính
chính thức bịkiểm soát làm cho quá trình phi trung gian tài chính phát triển và sựtrốn tránh các quy
chếkiểm soát.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều hành nền kinh tế, nhiều quốc gia đặt ra mức trần lãi suất cho
vay nhằm kiểm soát cảlãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay nghĩa là không tựdo hóa lãi suất dẫn đến hậu
quảthịtrường tài chính không ổn định và không phát huy được tính năng động sáng tạo, không ổn định
làm cho hiệu quảtrong việc huy động vốn và sửdụng vốn không cao và nhất là không khơi dậy được
nguồn vốn tiềmnăng của dân cư đầu tưcho sản xuất. Nhà nước điều hành thịtrường song chính sách lại
tách rời khỏi các thuộc tính của kinh tếthịtrường tất yếu không mang lại hiệu quả.
Tiến trình tựdo hóa lãi suất ngoài những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực, ảnh hưởng
đến nhiều mặt của nền kinh tế. Nhưng đứng trước bối cảnh hội nhập, các nước cần phải tựdo hóa lãi
suất, vấn đềlà các nước nên chọn cách đi nào cho phù hợp với nền kinh tếthịtrường hiện nay và phải làm
thếnào đểcó thểtận dụng và phát huy tối đa những mặt tích cực mà tựdo hóa lãi suất mang lại cũng
nhưhạn chếđược tối đa những tác động xấu của cơchếnày. Tựdo hoá lãi suất được coi là hạt nhân, là vấn
đềcốt lõi của tựdo hoá tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, bởi nhờnó mà làm cho các luồng tài chính
vận động một cách thông suốt. Tựdo hoá lãi suất là một xu thếkhách quan trong quá trình hội nhập.
Mức độtựdo hoá lãi suất càng sâu rộng bao nhiêu thì hội nhập quốc tếvềngân hàng càng nhanh chóng
6
bấy nhiêu.
Đểtựdo hoá lãi suất, cần có những điều kiện sau:
Một là,hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tếtài chính đã tương đối đồng bộvà hoàn chỉnh.
Hai là,thịtrường tài chính gồm thịtrường tiền tệvà TTCK đã ra đời và vận hành hiệu quả.
Ba là,các tổchức kinh tế đều đảm bảo khảnăng sửdụng vốn triệt đểvà có hiệu quả.

tỷlệcó liên quan. Hai là, xoá bỏbao cấp trong hoạt động tín dụng. Ba là, mởrộng tín dụng cho mọi thành
phần kinh tế đểtận dụng các nguồn lực đang có và tiềm ẩn trong nền kinh tế. Bốn là, xoá bỏnhững ràng
buộc của hệthống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tựchịu trách nhiệm và tính tựchủ,
tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
1.4.1.3 Tựdo hoá tỷgiá hối đoái
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái là đểcho diễn biến tỷgiá hối đoái trên thịtrường biến động dưới tác động của
quan hệcung cầu là chủyếu, cơquan quản l ý Nhà nước tránh sựcan thiệp trực tiếp và thái quá. Xu hướng
7
toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng.
Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng. Tỷgiá hối đoái là một trong
những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽvà trực tiếp đến hoạt động đó. Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải
từbỏcách kiểm soát quá chặt chẽtỷgiá, đưa đồng bản tệcó khảnăng chuyển đổi cao. Khi Chính phủvà
NHTƯtừbỏviệc can thiệp của mình và đểcho tỷgiá được tựdo xác định trên thịtrường thì nước đó đang
theo đuổi chính sách tỷgiá tựdo. Vì vậy, tựdo hoá tỷgiá là một quá trình tiến tới cho phép tỷgiá được
tựxác định trên thịtrường.
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứnhất, bãi bỏtỷgiá cố định với việc công
bốtỷgiá chính thức. Thứhai, nới lỏng biên độgiao dịch và tiến tới xoá bỏbiên độgiao dịch tỷgiá trong
hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứba,đểcho tỷgiá biến động theo tương quan cung cầu trên
thịtrường và chỉcan thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết.
Tựdo hoá tỷgiá cũng tiềm ẩn trong đó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển.
Chẳng hạn nhưtỷgiá cao ảnh hưởng tới việc nhập khẩu, tỷgiá thấp ảnh hưởng tới xuất khẩu … bên cạnh
đó còn các vấn đềkinh tếkhác sẽcó những diễn biến xấu khi tỷgiá thay đổi quá đột ngột nhưtỷlệlạm phát,
lượng cung cầu ngoại tệ. Vì vậy, không một cơchếcủa quốc gia nào vềtỷgiá lại thảnổi hoàn toàn, vì
nhưvậy, vai trò điều tiết vĩmô của Nhà nước sẽbịtriệt tiêu. Chính vì vậy, hầu hết các nước áp dụng
cơchếtựdo hoá tài chính, thì tỷgiá cũng sẽ được thảnổi nhưng có quản lý, nghĩa là không thảnổi hoàn
toàn.
Đểthực hiện tựdo hoá tỷgiá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là,thịtrường hối đoái phải
được hình thành trước và hoạt động trôi chảy. Hai là,lưu thông tiền tệtrong nước tương đối ổn định và
được kiểm soát tốt. Ba là,hoạt động kinh tếtài chính đối ngoại phải tương đối ổn định. Bốn
là,dựtrữngoại hối phải đủlớn, cán cân vãng lai thặng dưvà tương đối ổn định. Năm là,hệthống ngân

cũng như cơ cấu của hệ thống tài chính mỗi quốc gia. Xu hướng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa
chọn thực hiện là tiến hành tự do hóa tài chính.
Việc tự do hóa tài chính bao gồm các nội dung cơ bản như xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng
buộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng, chấm dứt các kênh cấp vốn ưu đãi, các
định chế tài chính có quyền tự do xác định các lãi suất tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi
suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt những phân biệt đối xử về
pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các luồng vốn quốc tế. Khi tự
do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu
suất sinh lợi cao mà không bị ngăn cản bởi các qui định phi kinh tế.
Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng không thể đứng
ngoài tiến trình toàn cầu hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN cần từng bước thực hiện tự do
hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài chính có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển
của kinh tế đất nước.
1. Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính
Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng tâm của
việc thực thi các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng hoạt động của hệ thống
ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất
nước.
2. Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính
2.1 Vấn đề lãi suất
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng và
là bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa tài chính ở VN. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi
tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập
trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN công bố lãi suất cơ bản
nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần
tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực tế
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức cạnh
tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới

3.1.1 Công cụ điều tiết lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế nhất
là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một
cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
3.1.2 Sử dụng hiệu quả công cụ lãi suất
Trên sơ sở kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới về việc sử dụng công cụ lãi suất trong
điều hành chính sách tài chính, tiền tệ thì việc lựa chọn lãi suất nào là cơ bản, có tính chất tác động
đến lãi suất thị trường phụ thuộc vào điều kiện phát triển của thị trường tài chính tiền tệ của quốc gia.
Hiện tại, việc sử dụng các loại lãi suất trên thị trường liên ngân hàng của NHNN VN mang tính chất
hình thức do độ nhạy cảm của các lãi suất này đối với thị trường thấp; vấn đề được đặt ra là làm thế
nào để lựa chọn lãi suất chủ đạo với điều kiện lãi suất này phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên
thị trường, đồng thời có tác dụng điều chỉnh lãi suất thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
a. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian, nhưng đối với
các NHTM thì thị trường liên ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn thiếu
hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn ít nên chưa hình thành được lãi suất IBOR.
Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các NHTM phải tính toán kỹ lượng vốn thừa hay thiếu
trong ngắn hạn để có thể xác định mức vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một
cách chính xác, và khi giao dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công
bố. Vì vậy, muốn hình thành lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường theo
10
đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị trường này của NHNN là vấn đề quan trọng.
b. Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị
trường tiền tệ cũng như định hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và
nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa chữa
hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, quan trọng nhất là
khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng vốn, đủ sức
điều chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện phát triển của thị
trường mở cũng như yêu cầu hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập, xử lý thông tin và thực

tính hành chính áp đặt và đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành tỷ giá
hối đoái, các TCTD được tự do quyết định giá mua bán ngoại tệ trên cơ sở qui luật cung - cầu trên thị
trường ngoại hối, các bước tiến hành như trên sẽ giúp cho các NHTM phát huy tính tự chủ và khả năng
hội nhập thị trường tài chính quốc tế theo đúng tiến trình.
3.2.3 Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường
11
Muốn cho công cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên TTNTLNH có tác dụng,
điều kiện cần là TTNTLNH phải thực sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng cách biến đây thành chỗ dựa
của họ và nhu cầu được tham gia giao dịch ngọai tệ trên thị trường trở nên không thể thiếu. Hệ thống
thanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng mức để đạt được hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian
cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho cả NHNN và các NHTM có thể cập nhật những thông tin thị
trường và ra quyết định nhanh nhất trong giao dịch trên thị trường này. Có như vậy, các nghiệp vụ
ngoại hối mới có thể được thực hiện và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai
hối hiện nay của TTNTLNH và công cụ điều chỉnh của Nhà nước thông qua thị trường này mới có tác
dụng.
3.3 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
3.3.1 Đối với ngân hàng Nhà nước
- Cấu trúc lại tổ chức của NHNN từ Trung ương xuống chi nhánh theo hướng tinh gọn, hiện đại, tránh
sự can thiệp của chính quyền các cấp.
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện các khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho hoạt động của các tổ
chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ VN.
- Xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các NHTM, đặc biệt là đối với các NHTM quốc doanh, buộc các ngân
hàng này phải thực sự hoạt động theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ dần cơ chế tín dụng chỉ định, giao
nghiệp vụ tín dụng ưu đãi theo chính sách của nhà nước cho các ngân hàng chính sách.
- Lãi suất và tỷ giá hối đoái được thỏa thuận theo quan hệ cung cầu trên thị trường, thực hiện kiểm soát
gián tiếp thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn và
hiệu quả, dễ giám sát theo thông lệ quốc tế.
- Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước

thương mại và dòng vốn lưu chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia
không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Đối với VN, đổi mới trong chính sách tài chính là
một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập kinh tế thế giới nên thành công của việc thực hiện chính
sách tài chính sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội có
như vậy, VN mới có thể thực hiện thành công tự do hóa tài chính - một bước tiến quan trọng, một xu thế
tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích
các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.
Có thể chia thành 5 nhóm yếu tố:
a/ Động cơ của nhà đầu tư
Mục tiêu của các chủ đầu tư khi tiến hành đầu tư là nhằm thu lợi nhuận càng nhiều càng tốt.
Muốn vậy, ngoài việc khai thác tối đa thị trường trong nước, họ còn tìm cách vươn ra thị trường nước
ngoài để mở rộng thị phần. Để xâm nhập thị trường nước ngoài, các chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều
cách khác nhau (xuất khẩu, tiến hành FDI, nhượng quyền, ). Thông thường chủ đầu tư sẽ quyết định
đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI khi bản thân họ có các lợi thế độc quyền riêng và FDI sẽ giúp
họ tận dụng được nhiều lợi thế cũng như cắt giảm chi phí (chi phí nhân công, nguyên liệu tại chỗ, chi
phí vận chuyển ) nhằm tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh.
b/ Nguồn lực:
- Tiềm năng thị trường: Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là những nhân tố quan
trọng hàng đầu khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn địa điểm để đầu tư. Thông thường họ sẽ nhắm đến
những vùng tập trung đông dân cư , có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có các cơ
hội mở rộng ra các thị trường lân cận.
- Vị trí địa lý: Lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng
ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập
trung hóa.
- Tài nguyên: Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút
đầu tư nước ngoài.
- Nguồn nhân lực:
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các chủ đầu tư sẽ
nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này. Thông thường

Để có những định hướng cụ thể về việc thu hút FDI, cần xem xét một số thuận lợi và khó khăn
mà Việt Nam phải đối mặt trong thời gian sắp đến.
- Về thuận lợi: Dòng FDI toàn cầu đã dần vượt qua khỏi đáy của sự suy giảm năm 2009, có thể
bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2011 và được dự báo đạt 1,2-1,5 nghìn tỉ USD. Các nước
đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2009-2011 của Cơ quan Thương mại và Phát
triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam vẫn được các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
đánh giá là 1 trong 15 nền kinh tế hấp dẫn cho đầu tư. Tình hình chính trị ổn định, vị thế quốc tế của
Việt Nam đang được nâng cao cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực trong năm 2010 của
lãnh đạo cấp cao Đảng và nhà nước ta sẽ tiếp tục củng cố lòng tin và làm gia tăng mối quan tâm của
nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta trong năm 2011 và thời gian tới.
- Về thách thức: Bên cạnh những thuận lợi thì Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng đến
thu hút FDI như: hệ thống kết cấu hạ tầng còn yếu kém, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, công tác
quy hoạch thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính rườm rà, …
14
Từ những yếu tố thuận lợi và khó khăn đã phân tích, chúng ta có thể dự báo trong ngắn hạn
năm 2011, Việt Nam sẽ thu hút được khoảng 20 tỉ USD vốn FDI (bao gồm cả tăng vốn, mở rộng sản
xuất), tăng 7,6% so với ước thực hiện năm 2010 và vốn thực hiện đạt khoảng 11-11,5 tỉ USD.
Theo thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Phạm Huy Đông, trong thời gian sắp tới, thu hút FDI sẽ
thực hiện theo hướng chọn lọc hơn và trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở hạ tầng; sử dụng công nghệ
cao; công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh; các dự án sản xuất hàng
xuất khẩu; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Đối
với những dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các dự án có sử dụng đất lớn, có khả năng gây ô nhiễm
môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản nếu không có chế biến sâu, các dự án tiêu tốn nhiều
năng lượng sẽ được xem xét kỹ càng hơn. Bên cạnh đó, những dự án đầu tư chậm triển khai sẽ được
phân loại để có những biện pháp xử lý phù hợp, trong đó có việc xem xét rút Giấy chứng nhận đầu tư
theo quy định của pháp luật để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư khác thực sự có tiềm năng và năng lực
triển khai tham gia đầu tư.
Một số giải pháp đổi mới nhằm thu hút, sử dụng vốn FDI hiệu quả:
a/ Về chính sách, quản lý nhà nước:

- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến
năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp,
thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường bộ cao tốc, trước
hết là tuyến Bắc-Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt; sản xuất và sử dụng điện từ các loại
năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn
thông, công nghệ thông tin.
- Ngoài ra cần phải quy hoạch, nâng cấp hệ thống điện, nước sạch và đường truyền Internet băng
thông rộng. Giá cước, phí các loại hàng hoá, dịch vụ công cộng cần phải có sự điều chỉnh tương đương
với các nước trong khối Asean nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu mà nhà đầu tư nước ngoài đã đặt ra.
e/ Về nguồn nhân lực:
Cần nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu về
nguồn lao động do các nhà đầu tư nước ngoài đặt ra như: trình độ tay nghề - kỹ thuật, trình độ ngoại
ngữ, sức khoẻ và tác phong làm việc công nghiệp.
f/ Một số giải pháp khác:
- Xây dựng chính phủ điện tử và phổ biến thương mại điện tử. Thúc đẩy thiết kế và xây dựng các
website của Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp
cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng và trung thực thông qua mạng Internet.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước. Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế
nhằm kêu gọi, thu hút các Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công
nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn các chính sách đầu tư của Việt nam với các đối tác
kinh doanh quốc tế của mình.
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các
“qui định” (Regulations)?
Kể từ khi thống nhất đất nước, ban đầu hệ thống tài chính của Việt Nam được tự do hoá hoàn toàn,
nhưng dần dần tất cả các loại trong hệ thống tài chính dần dần được chính phủ Việt Nam kiểm soát chặt
chẽ bằng các quy định cụ thể cho từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính: Ngân hàng, chứng khoán, bảo
hiểm. Cấu trúc hệ thống tài chính: thị trường tài chính, tổ chức tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở
hạ tầng tài chính.
Để kiểm soát được sự vận hành của từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính, chính phủ đã ban hành rất

định chế tài chính (NH đầu tư, cty CK, cty Bảo Hiểm).
Từ năm 1990, đạo luật nào được gỡ bỏ dần dần. Và đến năm 1999, chính quyền Bill Clinton đã thay
thế đạo luật này bằng một đạo luận mới, cho phép các định chế siết chặt lại với nhau, không còn ranh
giới (NH có quyền kinh doanh CK, BH cũng vậy…). Mục đích là tạo ra sự tự do tài chính.
Chính do sự tự do hóa tài chính này dẫn đến việc các NH tham gia vào rất nhiều các hoạt động mang
tính rủi ro cao. Cộng với tâm lý quá lớn để thất bại nên các NH càng liều lĩnh trong các hoạt động của
mình. Vì vậy mới gây ra khủng hoảng dây chuyền năm 2007 ở Mỹ.
Những nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ, đó là:
- Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để
thế chấp nhà đất ở Mỹ.
- Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy
ra, hệ thống ngân hàng Mỹ bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới
sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện
thiếu nhất quán, đầy đủ và thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.
- Sự suy giảm giá trị của đồng đô la và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị. Từ tháng 8/1971, Mỹ
tuyên bố đóng cửa thị trường vàng và đồng đô la từ đó không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa.
Từ đó, đồng đô la được phát hành vô tội vạ và giá trị của nó ngày càng giảm đi.
- Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc xã hội hoá vô cùng mạnh mẽ, rộng lớn của sức sản
xuất xã hội được cộng hưởng trong quá trình toàn cầu hoá với quan hệ chiếm hữu tư nhân chật hẹp,
ích kỷ, vô trách nhiệm tại các nền kinh tế lớn có ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ và các nước
phát triển. Để bảo đảm mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, giới chủ tư bản và các tập đoàn tư bản bằng
17
mọi giá thúc đẩy tư nhân hoá, tự do hoá thị trường, cổ vũ chủ nghĩa thực dụng, khuyếch đại chính sách
tư bản giả, chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chính vì thế, gần như toàn bộ
quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm đều trong tay giới tư bản tài phiệt, bất khả xâm phạm, không
thể kiểm soát.
Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nêu trên, bắt nguồn từ một điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất
dẫn tới cuộc khủng hoảng này. Đó chính là việc nhận thức và thực hiện sai lệch vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường. Cuộc khủng hoảng lần này rõ ràng bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ

chính toàn cầu lần này đã giáng một đòn chí tử vào lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới, vào quan điểm
coi nhẹ vai trò điều hành và quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Giáo sư Joseph
Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 đã khẳng định; Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh
tế thị trường tự do, xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội , và cuối
cùng đã xuất khẩu sự suy thoái đi bốn phương
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn
các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”…
18
Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải
pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh?
(minskin tr18: vấn đề chanh)
Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán
không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên
ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà
quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng
khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những
thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ
chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi
theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này,
có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh
ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi
hơn là sự phát hành tiền cho vay. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn
cổ phần từ việc bán cổ phiếu.
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc
phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến
có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.

một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750 (75% x $5,000).
Do vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên
với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Tuy nhiên, nếu giai đoạn nào công ty không
thể vận hành tốt để tạo ra lượng tiền mặt đủ lớn, thì chi phí lãi vay lúc này có thể là một gánh nặng.
Đây chính là mặt trái của việc tài trợ hoạt động doanh nghiệp bằng nợ. Từ đây có thể thấy, dù nợ có chi
phí rẻ hơn vốn cổ phần, doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sử
dụng nợ là hợp lý? Hợp lý ở đây có nghĩa là tận dụng được tối đa lợi ích của nợ, tận dụng tối đa lợi ích
từ đòn bẩy tài chính từ nợ. Khi nào thì doanh nghiệp nên vay nợ và vay nợ bao nhiêu là thích hợp?
Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai
(mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng
không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp,
có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro
hơn. Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởi nghiệp cũng sử
dụng nợ rất ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc
chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường
thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần.
Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong
thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ.
Sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạt động và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết
bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ phần chứ không mấy mặn mà
với việc sử dụng tài trợ bằng nợ. Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụng đòn
bẩy tài chính. Hi vọng trong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt
Nam quan tâm thỏa đáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ. Phát hành trái phiếu
doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của doanh nghiệp.
Giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh
Doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động kinh doanh
cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến “sức khỏe” của các ngân
hàng. Sau đây là một số giải pháp giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành
mạnh trong việc cho vay đối các doanh nghiệp:
- Thẩm định tốt các doanh nghiệp vay vốn bao gồm thẩm định năng lực tài chính thông qua

án có rủi ro cao.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây
tổn hại đến bên có ít thông tin hơn. Đây chính là vấn đề bất cân xứng về thông tin trong các hoạt động
của nền kinh tế.
Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverse selection) và
tâm lý ỷ lại (moral hazard). Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có
nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều
thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn.
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm
phát. Liên hệ thực tiển của Việt Nam trong thời gian qua.
1. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát (xem thêm câu 1)
Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền
kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Chính sách tài khóa khác với
những chính sách kinh tế cơ bản khác như chính sách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế
bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền. Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi
tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của
21
chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số của nền kinh tế như: tổng cầu và mức độ hoạt động kinh
tế; kiểu phân bổ nguồn lực; phân phối thu nhập, hay nói cách khác chính sách tài khóa liên quan đến
tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ chủ yếu tập trung vào ổn định tiền tệ (kiểm soát lạm phát); tăng trưởng
kinh tế; tạo việc làm và cân bằng cán cân thanh toán. Tùy theo từng giai đoạn và diễn biến của kinh tế
vĩ mô mà chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu ưu tiên nào là chủ yếu, chẳng hạn trong giai đoạn lạm
phát cao, tăng với tốc độ vừa phải, chính sách tiền tệ thường tập trung ưu tiên vào mục tiêu kiểm soát
lạm phát và khi ổn định được lạm phát, mục tiêu của chính sách này lại thường kết hợp với mục tiêu
tăng trưởng. Các công cụ của chính sách tiền tệ như chính sách lãi suất tái chiết khấu, chính sách dự trữ
bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và hạn mức tín dụng có tác động nhanh chóng trong việc kiểm soát
lượng tiền cung ứng, từ đó tác động đến lạm phát, và vì vậy, chính phủ các nước thường sử dụng tối đa
các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát về ngắn hạn; nhưng nếu chỉ có chính sách
tiền tệ, lạm phát khó có thể được kiểm soát về dài hạn, đặc biệt đối với các nước lạm phát cơ cấu như

nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ đồng. Hầu hết các dự án đều có
điều chỉnh tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu. Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 3 - 4
lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua tổng hợp của
22
Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa phương đã lên tới 558.654 tỷ
đồng (tăng 226%). Uỷ ban Tài chính - Ngân sách cho rằng, tổng mức đầu tư các công trình, dự án sử
dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao so với khả năng cân đối của ngân sách, ảnh hưởng đến khả năng
vay và trả nợ” . Trong khi cơ chế điều hành, quản lý nguồn vốn chưa hợp lý số lượng dự án hoàn thành
còn quá ít, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ ba: Chinh sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, làm tăng tỷ lệ đầu
tư/GDP ở mức 44,2% năm 2010 - cao nhất châu Á, sau Trung Quốc. Do nền kinh tế kém hiệu quả nên
các khoản đầu tư công cũng không mấy hiệu quả đã tạo ra sự mất cân đối giữa lượng hàng hóa với số
lượng tiền trong nền kinh tế và kết quả tất yếu phải xảy ra là lạm phát. Chi tiêu công và nợ công tăng
cao trong những năm gần đây đã tạo ra sức ép nặng nề lên giá cả hàng hóa. Điều này cũng giải thích tại
sao chính sách tiền tệ đã kiểm soát tăng trưởng tín dụng (28%) và gia tăng tổng phương tiện thanh toán
(25%) khá tốt năm 2010 nhưng lạm phát vẫn ở mức 2 chữ số. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản
của lạm phát ở Việt Nam trong nhiều năm qua.
- Thứ tư: Một minh chứng khác cho việc thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ là trong nhiều thời điểm, trong khi chính sách tiền tệ đang vận hành theo hướng thắt chặt
tiền tệ để ổn định giá cả, Chính phủ lại điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng như xăng dầu, giá điện. Sự
không nhất quán này đã phần nào làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm
phát ở Việt Nam trong thời gian qua. Ngay trong tháng 12 năm 2010, chính sách tiền tệ đã bắt đầu có
dấu hiệu thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản nhưng chính sách tài khóa dù có dấu hiệu thắt
chặt hơn nhưng nhìn chung, vẫn theo hướng nới lỏng.
- Thứ năm: Trong khi chính sách tiền tệ đang điều hành theo hướng giảm lãi suất thị trường để tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp vay vốn với chi phí thấp thì để huy động vốn cho gia tăng đầu tư công,
Chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất ở một số thời điểm lên tới 11 -
12%/năm, cao hơn lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, sau một thời gian, mức lãi suất huy
động trái phiếu đã giảm xuống 9,6% năm, nhưng vẫn cao hơn so với mức rủi ro của công cụ tài chính
này. Các ngân hàng thương mại với động cơ tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, họ đã sử dụng

để mua trái phiếu chính phủ và cần tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa trong việc xác định lãi suất đảm bảo ổn định lãi suất thị trường.
- Thứ tư: Từng bước giảm bội chi ngân sách theo hướng Chính phủ chỉ đầu tư các công trình cơ sở hạ
tầng trọng điểm liên quan đến quốc kế dân sinh, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư
các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua hình thức đối tác công tư (PPP)
- Thứ năm: Nguyên nhân căn bản của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua là mô hình tăng trưởng
dựa vào đầu tư nhưng lại kém hiệu quả và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, và vì vậy, để kiểm
soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới, Chính phủ cần kiên định với mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ
mô thay vì thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí cần đặt mục tiêu tăng trưởng thấp hơn (khoảng
6 - 6,5%) để kiểm soát lạm phát ở mức 5 - 6% năm 2011 và duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 4% những
năm tiếp theo. Làm được như vậy nền kinh tế sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng vững chắc và lâu dài.
- Thứ sáu: Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ngay từ khâu
xây dựng và hoạch định chính sách, trước mắt năm 2011, cả hai chính sách này phải nên được thắt
chặt để giảm tổng cầu và ngăn chặn lạm phát, chính sách tài khóa cần được xây dựng theo hướng
giảm dần thâm hụt tài chính tổng thể và thâm hụt ngân sách nên được duy trì ở mức 4 - 5%/năm.
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân
xứng và khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới.
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán
không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư
bên ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của
nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng
khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những
thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ
chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi
theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này,
có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh
ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi

 Khắc phục các yếu kém của hệ thông ngân hàng
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung.
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung.
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean.
1. Lợi ích – chi phí
• Lợi ích
- Giảm chi phí trong thương mại
- Xóa bỏ thị trường ngoại tệ với các đồng tiền trong khu vực. Ví dụ: thống kê trong EUROZONE
khoảng tiết kiệm này lên đến 0.25 -0.5% GDP
- Thúc đẩy TM; gia tăng đầu tư
- Đồng nhất giá cả
- Một đơn vị tiền tệ chung cho hàng hóa trong khu vực => gia tăng TM trong nội khối
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status