TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÁC- LÊNIN
Tiểu luận lòch sử đảng
Đề tài:
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
GVHD :
SVTH : NGUYỄN NGỌC
HIẾU
STT : 12
MSSV : X020344
LỚP : X02A1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 12 _ NĂM
2004
Tiểu luận lòch sử Đảng
Lời tựa :
Đất nước chúng ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghóa xã hội, bên
cạnh những thành tựu đạt được trong các lónh vực , còn rất nhiều những hạn
chế và nguy cơ đáng phải quan tâm. Trong đó nguy cơ chệch hướng xã hội
chủ nghóa là điều vô cùng nguy hiểm .Vấn đề này đã được đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII dự báo và quan tâm nhiều.
Trong thời đại công nghiệp hoá – hiện đại hoá hiện nay, những yếu tố
văn hoá , tư tưởng không lành mạnh tràn nghập vào nước ta theo gót chân
của những tiến bộ khoa học kó thuật. Đặc biệt là những hoạt động diễn biến
hoà bình hết sức phức tạp và thâm độc của những phần tử mang tư tưởng
chống phá cách mạng, chống đối công cuộc xây dựng XHCN của chúng ta.
Hoạt động của chúng thì rất tinh vi, mánh khoé và diễn ra trên tất cả các
lónh vực, tất cả mọi miền mọi nơi.
Do vậy mà việc nâng cao cảnh giác , luôn tỉnh táo và giữ vững lập trường
6.Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng XHCN và cuộc đấu tranh của toàn
dân nhằm thực hiện hoà bình thống nhất đất nước (19540-1965)
…………………………………………………… Tr 14 - 16
7. Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1969 ) ……….
Tr 16 -18
8.Hồ Chí Minh ra đi vónh viễn ………………………………………………………………
Tr 18 - 19
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
3
Tiểu luận lòch sử Đảng
II/ Hồ Chí Minh – Một nhân cách lớn :
1. Chủ tòch Hồ Chí Minh hiện thân đạo đức – văn minh
của Đảng và dân tộc ta
…………………………………………………………………………………………………………Tr 19-21
2.Hồ chí Minh – Nhân cách của thời đại
……………………………………………………………Tr 21 -24
3. Hồ Chí Minh hình ảnh của dân tộc
……………………………………………………………… Tr 24 - 25
4. Hồ Chí Minh với thế hệ trẻ
………………………………………………………………….Tr 25 - 26
C _ Phần kết luận ………………………………………………………………… ……
Tr 26 - 27
D_ Một số hình ảnh về Chủ Tòch Hồ Chí Minh
………………………………………………Tr 28
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
4
Tiểu luận lòch sử Đảng
A/ Lời mở đầu :
Sinh ra trong đời, ai cũng có một quê hương, một dân tộc để được lớn
và lòng ngưỡng mộ của mình đối với Bác.
B/ Phần nội dung chính:
I- Cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc :
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
5
Tiểu luận lòch sử Đảng
1.Hoàn cảnh xuất thân và thời tuổi thơ:
Chủ tòch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890. Tên khai sinh
của Người là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành,
trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.
Q ngoại ở làng Hồng Trù; q nội ở làng Kim Liên, nay thuộc xã Kim
Liên, huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An. Hồ Chủ Tòch được sinh ra trong một
gia đình trí thức giàu tinh thần yêu nước và quyết tâm đánh giặc. Cụ thân
sinh ra Người là Nguyễn Sinh Huy, tức là Nguyễn Sinh Sắc (1863 - 1929). Cụ
đỗ phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Sau khi đỗ phó bảng, bị bọn thống trị
thúc ép nhiều lần, cụ ra làm quan, nhưng thường tỏ thái độ khơng hợp tác với
chúng. Cụ thường chống đổi bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau
một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức. Cụ vào Miền Nam (Nam Bộ)
làm nghề thầy thuốc, cho đến lúc từ trần. Thân mẫu của Hồ Chủ tịch là cụ
Hồng Thị Loan (1868 - 1901), là người phụ nữ chòu thương chòu khó, trung
hậu , đảm đang. Chị của Hồ Chủ tịch là Nguyễn Thị Thanh, tức Bạch Liên
(1884 – 1954) . Trong hồ sơ của mật thám Pháp, bản lý lịch của Nguyễn Tất
Thành khi xin vào xưởng Ba Son (1911), có ghi: " Nguyễn Thị Thanh tức
Bạch Liên sống độc thân có liên lạc với qn phiến loạn ở Nghệ Tĩnh, lấy trộm
3 khẩu súng trong trại lính Vinh, đã bị kết án 9 năm khổ sai ". Anh của
Người là Nguyễn Sinh Khiêm, tức Nguyễn Tất Đạt (1888- 1950), đều tham gia
phong trào chống thực dân Pháp và bị tù đày. Từ 1890 đến
1901 Bác sống ở q ngoại, cách làng Kim Liên q nội khơng xa. Người thầy
có ảnh hưởng nhất trong tuổi ấu thơ của Người là cử nhân Vương Thúc Q.
Cụ Q là bạn thân của cụ Phó bảng Sắc và là con thủ lĩnh Chung nghĩa binh
Phan Thiết, đạy học ở trường Dục Thanh do một số nhà giáo u nước lập ra.
Sau đó, Người và Sài Gòn rồi xuống tàu xuất dương để đi tìm đường cứu
nước.
2.Quá trình ra đi tìm đường cứu nước :
Sau một thời gian ngắn ở Sài gòn, giữa năm 1911 lấy tên là Ba, Hồ Chủ
tịch làm phụ bếp dưới tàu bn Đơ đốc La Tút Sơ Tơ Rê Vi Lơ (Amiral
Latouche Tréville) thuộc Hãng vận tải hợp nhất của Pháp. Từ đó Người ra đi,
trước tiên là sang Pháp. Người khơng chỉ dừng lại ở nước Pháp mà còn đi
nhiều nước châu Âu, châu Phi và châu Mỹ.Người đã làm nhiều việc để kiếm
sống: làm trên tàu, nấu bếp, làm vườn khi ở La Ha Vơ Rơ (Le Havre); qt
tuyết, đốt lò và phục vụ khách sạn ở Ln Đơn (Anh). Tại đây, Người tham gia
Cơng đồn lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh u nước của nhân dân
Ai Len, liên hệ với một số người Việt Nam u nước ở Pháp. Tại Mỹ, Hồ Chủ
tịch đã đi làm th ở phố Bơrútlin.Qua nhiều nơi, Người thấy rõ những cảnh
bất cơng, tàn bạo của xã hội tư bản và ở đâu giai cấp cơng nhân và nhân dân
lao động cũng bị áp bức, bóc lột rất dã man, các dân tộc thuộc địa đều có một
kẻ thù là bọn đế quốc thực dân. Do đó, Người nhận rõ giai cấp cơng nhân và
nhân dân lao động các nước đều là bạn.
Năm 1917, giữa những ngày ác liệt của chiến tranh thế giới thứ nhất, từ
Anh trở lại Pháp, Người tham gia Đảng xã hội Pháp và lập ra Hội những
người Việt Nam u nước để tun truyền và giác ngộ Việt kiều ở Pháp. Vừa
hoạt động chính trị, vừa phải tự kiếm sống một cách chật vật, khi thì làm cho
một hiệu ảnh, khi thì vẽ th tại một xưởng "đồ cổ mỹ nghệ Trung hoa".
Người tập viết báo, phân phát truyền đơn tại các cuộc họp đề tố cáo tội ác của
thực dân Pháp ở thuộc địa. Giữa những ngày hoạt động sơi nổi đó thì cách
mạng tháng Mười Nga bùng nổ làm chấn động tồn cầu. Cách mạng tháng
mười Nga đã có một ảnh hưởng quyết định trong đời hoạt động của Hồ Chủ
lịch. Người quyết tâm đi theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga.
Năm 1918, chiến tranh thế giới kết thúc. Năm sau, các nước đế quốc chủ nghĩa
thắng trận họp hội nghị ở Véc xây (Verseille, Pháp) nhằm chia lại thị trường
đỡ của Đảng cộng sản Pháp, cùng với một số ngươi u nước của nhiều nước
thuộc địa Pháp, Người sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa. Là đại biểu của nhân
dân Đơng Dương, Người được bầu vào Ban chấp hành trung ương hội, làm ủy
viên thường trực. Năm 1922, Hội liên hiệp thuộc địa cho xuất bản tờ báo
Người cùng khổ (Le Paria). Hồ Chủ tịch là chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý
tờ báo ấy. Báo Người cùng khổ vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man
của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp nói riêng, thức tỉnh các
dân tộc bị áp bức nổi dậy đấu tranh cách mạng. Nó được sự đồng tình và ủng
hộ của giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động Pháp. Báo Người cùng khổ
được bí mật chuyền về nước cho nhân dân ta. Nhờ tờ báo ấy, nhiều người Việt
Nam u nước thấy rõ hơn những tội ác của thực dân Pháp và bước đầu hiểu
được Cách mạng tháng Mười Nga và Lê nin. Ngồi báo Người cùng khổ, Hồ
Chủ tịch còn sáng lập báo Việt Nam hồn, viết bằng tiếng Việt, là cơ quan tun
truyền, giác ngộ lòng u nước, ý thức dân tộc cho cơng nhân, nhân dân lao
động nước ta và những Việt kiều lúc ấy đang sống ở Pháp.
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
8
Tiểu luận lòch sử Đảng
3.Quá trình truyền bá CN Mác – Lênin vào Việt Nam và chuẩn
bò về chính trò – tư tưởng – tổ chức cho việc thành lập Đảng :
Hồ Chủ tịch là người đầu tiên trong lịch sử cách mạng nước ta nhận rõ
và tin tưởng tuyệt đối vào lực lượng cách mạng vơ địch của quần chúng
nhân dân sẽ lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay
sai. Muốn giải phóng dân tộc, Người chủ trương trở về nước, đi vào quần
chúng, tổ chức, huấn luyện, đồn kết và lãnh đạo họ đấu tranh, giành độc
lập, tự do. Hồ Chủ tịch về
Quảng Châu (Trung Quốc) vào giữa tháng 12 năm 1924. Ở đây, Người lấy
tên là Lý Thụy. Người đi bán báo, bán thuốc lá để có tiền sinh sống và hoạt
động cách mạng. Tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam, Người xúc
tiến việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một đảng
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
9
Tiểu luận lòch sử Đảng
tháng 10 năm 1923 và được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nơng dân.
Ngày 21 tháng 1 năm 1924, Lê nin mất, Hồ Chú tịch đi viếng Lê nin và viết
bài Lê nin và các dân tộc thuộc địa.Hồ Chủ tịch ở lại Liên Xơ một thời
gian, làm việc ở Quốc tế cộng sản và viết nhiều bài cho báo Sự thật của
Đảng cộng sản Liên Xơ, tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế cộng sản để
tiếp tục trình bày những ý kiến của mình về cách mạng giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa. Là đại biểu chính thức của Đảng cộng sản Pháp, Hồ
Chủ tịch dự Đại hội lần thứ năm của Quốc tế cộng sản (từ ngày 17 tháng 6
đến ngày 8 tháng 7 năm 1924 tại Maxcơva). Tại Đại hội lần thứ năm của
Quốc tế cộng sản, Người đọc một bản tham luận quan trọng, trình bày đầy
đủ lập trường, quan điểm của mình, thẳng thắn và thân ái phê bình một số
đảng cộng sản lúc ấy chưa quan tâm đúng mức đến cách mạng thuộc địa, đề
ra những biện pháp tích cực đề đầy mạnh phong trào cách mạng ở các nước
thuộc địa và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề giải phóng nơng dân ở các nước đó.
Năm 1924, Hồ Chủ tịch nói: "Vận mệnh của giai cấp vơ sản thế giới phụ
thuộc phần lớn vào các thuộc địa, nơi cung cấp lương thực và binh lính cho
các nước lớn đế quốc chủ nghĩa. Nếu chúng ta muốn đánh bại các nước này,
thì chúng ta trước hết phải tước hếtthuộc địa của chúng đi".
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã chứng minh
quan điểm cách mạng của Hồ Chủ tịch là hồn tồn đúng. Người khẩn thiết
đề nghị Quốc tế cộng sản đến phong trào giải phóng dân tộc, cần tuyển lựa
đảng viên và đào tạo cán bộ cách mạng là người thuộc địa, bằng cách gửi họ
sang học ở trường Đại học phương Đơng tại Maxcơva, tăng cường cơng tác
tun truyền cách mạng ở các nước thuộc địa v.v… Từ năm 1920, Hồ
Chủ tịch đã thấy rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng
lợi thì phải đi theo con đường cách mạng vơ sản. Người vạch rõ kẻ thù chủ
yếu của nhân dân các nước thuộc địa là chủ nghĩa đế quốc và bọn phong
Lan về Hương Cảng (Hồng Kơng), triệu tập Hội nghị thành lập Đảng họp
vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 ở Cửu Long, gần Hương Cảng (Trung Quốc).
Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị quyết định thống nhất ba tổ chức cộng
sản ở Việt Nam thành một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thơng
qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và điều lệ đảng do Hồ Chủ tịch
thảo ra.
4.Hồ chủ tòch và bản tuyên ngôn đôc lập khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà ( 1940 – 1945 ) :
Từ năm 1924 Hồ Chủ tịch đã nhận định Đơng Dương và Thái Bình
Dương sẽ là một lò lửa của chiến tranh thế giới mới. Khi Đảng ta thành lập,
Người phân tích những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc và dự đốn là cuộc
chiến tranh thế giới thứ hai sẽ bùng nỗ. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế
giới thứ hai nổ ra. Đảng ta đã kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng
tâm cơng tác về nơng thơn. Tháng 11 năm
1939, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu do đồng chí Nguyễn Văn Cừ,
Tổng bí thư của Đảng chủ trì, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược,
tập trung lực lượng vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thành lập Mặt trận
dân tộc thống nhất phản đế Đơng Dương. Trong thời gian ấy, Hồ Chủ tịch
(lấy tên là Hồ Quang) đã về tới Hoa Nam (Trung Quốc) để bắt liên lạc với
Trung ương Đảng và chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động. Đồng thời,
Người chủ trương giữ vững liên lạc với quốc tế, củng cố các tổ chức cách
mạng của ta ở ngồi nước và chuẩn bị ứng phó với tình hình sẽ xảy ra khi
"Hoa qn nhập Việt".
Tháng 6 năm 1940, phát xít Đức tiến cơng nước Pháp, Chính phủ tư
sản Pháp đầu hàng, bọn thực dân Pháp ở Đơng Dương hoang mang. Hồ Chủ
tịch nhận định đó là thời cơ bắt đầu có lợi cho cách mạng Việt Nam. Lúc bấy
giờ, đang cơng tác ở Quế Lâm (Trung Quốc), Người đã tính đến việc xây
dựng căn cứ địa ở Cao Bằng. Người chỉ thị cho một số cán bộ của Đảng đang
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
11
Hai tay xây dựng một sơn hà."
(Pác bó hùng vĩ)
Tháng 5 năm 1941, thay mặt Quốc tế cộng sản, Hồ Chủ tịch chủ trì Hội
nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng. Trên cơ sở phân tích tình hình thế
giới và trong nước một cách khoa học. Hội nghị xác định nhiệm vụ giải
phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đơng Dương.Hội
nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt
Minh. Để nhấn mạnh khẩu hiệu giải phóng dân tộc, tên các hội quần chúng
đều thống nhất là "Hội cứu quốc". Hội nghị thay khấu hiệu "Thành lập
chính phủ liên bang cộng hòa dân chủ Đơng Dương" bằng khẩu hiệu
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
12
Tiểu luận lòch sử Đảng
"Thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa". Hội nghị còn quyết định
thành lập, phát triển và tăng cường lãnh đạo các tổ chức vũ trang và nửa vũ
trang.Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chú tịch, Hội nghị đã bầu Ban chấp
hành trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư của
Đảng. Sau Hội nghị một ngày, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi tồn dân đồn kết
đánh đuổi phát xít Nhật Pháp .Để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền, từ năm 1941, Hồ Chủ tịch chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao
Bằng và tự tay biên soạn một số tài liệu quan trọng về chiến thuật du kích:
Cách đánh du kích và Kinh nghiệm Trung Quốc. Ngồi ra, Người còn biên
dịch Phép dùng binh của Tơn Tử và sách dạy làm tướng của Khổng Minh
mà Người đặt dưới một đầu đề hồn tồn mới là Cách huấn luyện cán bộ
q nsự.Sau Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng, theo chỉ thị của
Hồ Chủ tịch, vấn đề "Nam tiến" được đặt ra và tiến hành một cách khẩn
trương. Người phân cơng một số cán bộ phụ trách đánh thơng hai con
đường Cao Bằng - Lạng Sơn và Cao Bằng - Bắc Kạn – Thái Ngun, để giữ
vững liên lạc với Thường vụ Trung ương Đảng và tạo điều kiện phát triển
cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng.Tháng 8 năm 1942 lấy tên
Cuối năm 1941 đầu năm 1942, chiến tranh du kích diễn ra 8 tháng liền ở Vũ
Nhai (Thái Ngun). Năm 1944, phong trào cách mạng phát triền khá mạnh.
Từ khu căn cứ Bắc Sơn, Vũ Nhai và Cao Bằng, phong trào lên cao, chuyển
sang đấu tranh du kích. Tháng 7 năm 1944, liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng
họp nhận định tình hình và cho rằng điều kiện đã chín muồi để phát động
chiến tranh du kích trong liên tỉnh. Sau đó, liên tỉnh ủy sắp tổ chức một
cuộc họp cuối cùng để giải quyết những vấn đề còn lại và quyết định ngày
giờ khởi nghĩa, thì Hồ Chủ tịch vừa trở về đến Pác-bó (Cao-bằng). Sau khi
nghe báo cáo về tình hình và nghị quyết của liên tỉnh ủy Hồ Chủ tịch quyết
định hỗn cuộc khởi nghĩa, vì nghị quyết ấy mới căn cứ vào tình hình Cao -
Bắc - Lạng, chưa căn cứ vào tình hình tồn quốc, tức là chỉ thấy bộ phận mà
khơng thấy tồn thể. Người nhận định: bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình
phát triển đã qua, nhưng thời kỳ tổng khởi nghĩa tồn dân chưa đến.
Trên cơ sở các lực lượng vũ trang nhân dân đang hình thành, thực hiện
chỉ thị của Hồ Chủ tịch, ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tun
truyền giải phóng qn được thành lập do đồng chí Võ Ngun Giáp chỉ
huy. Người nâng cao vai trò tun truyền, giác ngộ cách mạng, vì cuộc
kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của tồn dân, cần phải động viên
tồn dần, vũ trang tồn dân,
Để tiến hành đấu tranh vũ trang, Người nhấn mạnh: phải hành động
kiên quyết và nhanh chóng, trận đầu nhất định phải giành được thắng lợi.
Trong hoạt động, phải huấn luyện, trau dồi kinh nghiệm cho các đội vũ
trang địa phương, phối hợp tác chiến, giữ vững liên lạc với cơ quan lãnh
đạo. Về chiến thuật tác chiến, Người căn dặn phải vận dụng lối đánh du
kích, bí mật, tích cực, nhanh chóng; tránh chủ quan, khinh địch; khi đi địch
khơng biết, khi đến địch khơng hay. Người gửi thư cho đồng bào tồn quốc
khẳng định thời cơ giải phóng dân tộc sắp đến gần và kêu gọi các đảng phái,
các đồn thể ra sức chuẩn bị để họp tồn quốc đại biểu đại hội.Từ Hội nghị
lần thứ tám của Trung ương Đảng và nhất là từ tháng 9 năm 1944, Hồ Chủ
tịch và Trung ương Đảng đã nhận định rằng phát xít Nhật và thực dân Pháp
đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho
được độc lập" .Do đề nghị của Hồ Chủ tịch, Hội nghị tồn quốc của Đảng
và Quốc dân đại hội được chuẩn bị từ trước đã liên tiếp họp ở Tân Trào giữa
lúc Qn đội Xơ Viết vừa mới tiêu diệt được đội qn chủ lực của phát xít
Nhật ở Đơng Bắc Trung Quốc. Hội nghị tồn quốc của Đảng họp từ ngày 13
đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 quyết định tổng khởi nghĩa và nêu ra mục
tiêu đấu tranh là "phản đối xâm lược!" "hồn tồn độc lập ! ", "chính quyền
nhân dân !" và ba ngun tắc: tập trung, thống nhất và kịp thời đề chỉ đạo
khởi nghĩa; đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, khơng kể thành phố
hay là nơng thơn; phải phối hợp đấu tranh qn sự với đấu tranh chính trị,
làm tan rã tinh thần qn địch trước khi đánh. Tiếp theo Hội nghị tồn quốc
của Đảng, Quốc dân đại hội họp ngày 16 tháng 8 năm 1945, dưới quyền
chủ tọa của Hồ Chủ tịch. Quốc dân đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương
tổng khởi nghĩa của Đảng ta và của Tổng bộ Việt Minh. Đại hội cử ra Ủy
ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đồng thời,
Đại hội còn quy định quốc kỳ và quốc ca của nước Việt Nam mới. Cả nước
vang lên lời kêu gọi tổng khởi nghĩa của Hồ Chủ tịch: "Hỡi đồng bào u
q!Hiện nay qn đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp
nước Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Tồn quốc đồng bào
hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
15
Tiểu luận lòch sử Đảng
trên thế giới đang dua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta khơng
thể chậm trễ.Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Hồ Chú tịch từ Tân Trào (Tun
Quang) trở về Hà Nội, để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách
mạng. Hồ Chủ tịch chủ tọa các phiên họp Thường vụ Trung ương Đảng tại
Hà Nội, quyết định những vấn đề quan trọng về đối nội và đối ngoại trong
tình hình mới. Trước hết, phải sớm ra bản Tun ngơn độc lập, cơng bố
lực lượng của mình nhân dân ta đã phải đối phó với tình hình cực kỳ khó
khăn, phức tạp. Nạn đói khủng khiếp do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây
ra vẫn còn đe dọa nhân dân ta. Kinh tế, tài chính nước ta kiệt quệ. Trong khi
đó ở miền Bắc, 20 vạn qn Tưởng thừa lệnh đế quốc Mỹ kéo sang Việt Nam
mượn cớ tước vũ khí qn Nhật, kỳ thật là nhằm thực hiện âm mưu tiêu diệt
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
16
Tiểu luận lòch sử Đảng
Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động nước ta lật đổ chính quyền
nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho Mỹ, Tưởng. Bọn
phản cách mạng như Việt Nam quốc dân đảng, Phục quốc, Việt Nam cách
mạng đồng minh hội, v.v đòi thay đổi thành phần Chính phủ, thay đổi Quốc
kỳ và đòi Hồ Chủ tịch phải từ chức v.v Ở miền Nam, nấp sau lưng qn đội
Anh, thực dân Pháp đã quay trở lại đánh chiếm nước ta một lần nữa. Bọn
phản động cũng nổi dậy làm tay sai cho thực dân Pháp, tìm mọi cách chống
lại cuộc kháng chiến của đồng bào ta ở miền Nam. Trong lúc vận mệnh của
Nhà nước ta như "ngàn cân treo sợi tóc" Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân tăng
cường đồn kết chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm và đề
ra khẩu hiệu kháng chiến đi đơi với kiến quốc. Để thực hiện nhiệm vụ chủ
yếu lúc này là giữ vững chính quyền cách mạng, Hồ Chủ tịch đặt vấn đề phải
tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử, bầu Quốc hội, thành lập
Chính phủ chính thức và ban hành Hiến pháp dân chủ, làm cho nhân dân tin
tưởng vào chế độ mới. Trước thế giới, chính quyền do dân bầu ra sẽ có một
giá trị pháp lý khơng thể phủ nhận được.Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc tổng
tuyển cử tiến hành thắng lợi trong cả nước. Tồn dân ta tỏ rõ sự tín nhiệm
đặc biệt đối với Hồ Chủ tịch. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, trong kỳ họp đầu
tiên của Quốc hội, Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Uỷ ban dự thảo hiến pháp được thành lập do Hồ Chủ tịch trực tiếp
chỉ đạo.
Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội thơng qua Hiến Pháp đầu tiên của
tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Pháp và nâng cao uy tín
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Người tỏ rõ thiện
chí hòa bình của nhân dân ta trên ngun tắc bảo vệ chủ quyền và thống nhất
của dân tộc ta: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sơng có thể cạn,
núi có thể mòn, song chân lý đó khơng bao giờ thay đổi.Do thái độ ngoan cố
và hiếu chiến của thực dân Pháp, cuộc đàm phán chính thức giữa đồn đại
biểu Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu với đồn đại biểu
Chính phủ Pháp tại Phơng Ten Nơ Bơ Lơ (Fontaine Bleau) khơng thành
cơng. Hồ Chủ tịch ký Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 với Chính phủ
Pháp để tranh thủ thời gian tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc
kháng chiến tồn quốc, điều mà Người biết chắc chắn sẽ xảy ra. Trước những
hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19 tháng 12 năm
1946, cuộc kháng chiến từ cục bộ đã lan ra khắp nước.Ngày 20 tháng 12 năm
1946, Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi tồn quốc khángchiến: "Chúng ta muốn hòa
bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân
Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa". "Khơng Chúng
ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định khơng chịu mất nước,nhất định khơng chịu
làm nơ lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!"Bất kỳ dàn ơng, đàn bà,
bất kỳ người già, người trẻ khơng chia tơn giáo đảng phái, dân tộc, hễ là
người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có
súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, khơng có gươm thì dùng cuốc,
thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước"
Để động viên mọi lực lượng kháng chiến, tháng 6 năm 1948, Hồ Chủ tịch
ra Lời kêu gọi thi đua u nước: thi đua diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt
giặc ngoại xâm; thi đua thực hiện tồn dân kháng chiến, tồn diện kháng
chiến, tiền tuyến thi đua giết giặc, hậu phương thi đua sản xuất và tiết kiệm.
Hồ Chủ tịch ln ln chăm lo củng cố và phát triển Đảng. Hồ Chủ tịch chỉ
rõ Đảng cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu, tồn Đảng phải nhất trí về
tư tưởng, thống nhất về tổ chức và hành động. Cán bộ, đảng viên phải kiên
quyết chấp hành đúng mọi chính sách của Đảng và Chính phủ; phải liên hệ
Tháng 9 năm 1950, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng quyết định mở
chiến dịch biên giới. Lần đầu tiên qn ta mở một chiến dịch lớn như thế.
Hồ Chủ tịch đích thân ra mặt trận, trực tiếp tham gia chỉ đạo tác chiến.
Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu tồn quốc lần thú hai của Đảng họp tại
căn cứ địa Việt Bắc. Trong Báo cáo chính trị đọc trước Đại hội, Hồ Chủ
tịch tổng kết kinh nghiệm hoạt động trong 21 năm qua, khẳng định đường
lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, vạch rõ ưu khuyết điểm của cán bộ đảng
viên. Bản báo cáo vạch trần âm mưu của đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào
Đơng dương, nêu lên khẩu hiệu chính của ta là: "Tiêu diệt thực dân Pháp và
đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hồn tồn, bảo vệ hồ
bình thế giới". Hồ Chủ tịch nhấn mạnh cần phải chú trọng, tăng cường đồn
kết tồn dân, phát huy truyền thống u nước của dân tộc. Hồ Chủ tịch còn
nêu lên sự cần thiết của tình đồn kết giữa các nước anh em Lào, Cam Pu
Chia tiến đến thành lập Mặt trận các dân tộc Việt Nam Khơ me Lào. Chính
cương Đảng lao động Việt Nam là sự tổng hợp những ý kiến lớn trong Báo
cáo chính trị của Hồ Chủ tịch và báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của
đồng chí Trường Chinh. Nó đã khẳng định đường lối cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và soi sáng
đường lối kháng chiến để đi đến thắng lợi hồn tồn. Về Đảng lao động
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
19
Tiểu luận lòch sử Đảng
Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh lập trường quan điểm của Đảng và tư
cách đảng viên: Đảng viên Đảng lao động Việt Nam là những ngườimà:
Giầu sang khơng thể quyến rũ. Nghèo khó
khơng thể chuyển lay. Uy lực khơng thể khuất phục" Đại hội đã
bầu ra Ban chấp hành trung ương mới và nhất trí bầu Hồ Chủ tịch làm Chủ
tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng bí thư cThực
hiện chủ trương mở rộng và tăng cường khối đồn kết dân tộc, ngày 3 tháng
3 năm 1951, Việt Minh và Liên Việt mở Đại hội quyết định hợp nhất thành
phải cam kết tơn trọng Hiệp nghị Giơ ne vơ về Đơng Dương. Ngày 22
tháng 7 năm 1954, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào cả nước ra sức phấn
đấu đề củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hồn thành độc lập, dân chủ
trong cả nước.Chiến thắng Điện Biên Phủ đã thể hiện đường lối kháng
chiến đúng đắn và sáng tạo: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
20
Tiểu luận lòch sử Đảng
nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh, góp phần thúc đẩy
q trình sụp đổ nhanh chóng của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế
quốc. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta, đồng thời cũng là thắng lợi
của các lực lượng hào binh, hân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới".
Việt Nam - Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh, trở thành khẩu hiệu chiến đấu
của các dân tộc bị áp bức, được nhân dân thế giới nhắc đến với niềm tự hào
và cảm phục
6.Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng XHCN và cuộc đấu tranh
của toàn dân nhằm thực hiện hoà bình thống nhất đất nước
(19540-1965) :
Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ năm
1954 về Đơng Dương mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng Việt
Nam. Hòa bình được lập lại ở Đơng Dương; miền Bắc Việt Nam được giải
phóng khỏi ách đế quốc.
Ngày 1 tháng 1 năm 1955, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhân dân ta
vui mừng đón chào Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về
Thủ đơ sau những năm kháng chiến gian khổ và anh dũng. Từ năm 1955, ở
miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ ra sức hất cẳng thực dân Pháp, âm mưu
biến một nửa nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ qn sự của Mỹ,
chuẩn bị gây lại chiến tranh. Trước tình hình mới, Hồ Chủ tịch và Trung
ương Đảng nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược phải đồng thời tiến hành: Xây
dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực
nhân dân ta và chỉ rõ con đường vẻ vang mà nhân dân ta đang noi theo.
Cơng cuộc khơi phục kinh tế ở miền Bắc đã hồn thành thắng lợi, Hồ Chủ
tịch và Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta bước vào thới kỳ cải tạo xa
hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hóa (1958 -1960).
Ngày 3 tháng 8 năm 1959, Người viết thư kêu gọi nơng dân ra sức phát
triển và củng cố các tổ đổi cơng và hợp tác xã, đồng thời phải thi đua cải
tiến kỹ thuật, đó là hai chân của nơng nghiệp,đưa nơng nghiệp phát triển
nhanh. Đến cuối năm 1960, việc cải tạo nơng nghiệp theo hình thức hợp tác
xã bậc thấp đã căn bản hồn thành. Cuộc vận động cải tạo cơng thương
nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh và thủ cơng nghiệp theo chủ nghĩa xã hội
cũng tiến hành có kết quả tốt. Với những thắng lợi đó, quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa đã được xác lập trên miền Bắc nước ta. Trong cơng cuộc xây
dựng đất nước, Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân ta phải dựa vào sức mình là
chính, đồng thời coi trọng sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước anh em.Để
củng cố mối đồn kết quốc tế trong tinh thần quốc tế vơ sản, tháng 6 năm
1955, Hồ Chủ tịch đi thăm Liên Xơ, Trung Quốc, Mơng Cổ và một số nước
xã hội chủ nghĩa (năm 1957), tiếp đến là các nước Ấn Độ (tháng 2 năm
1958), In-đơ-nêxia (tháng 2 năm 1959). Đi đến đâu Hồ Chủ tịch và đồn đại
biểu Việt Nam cũng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình đối với sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa Xã hội của nhân dân ta. Trong hai cuộc Hội nghị quốc tế
các đảng cộng sản và cơng nhân họp tại Maxcơva (tháng 11 năm 1957 và
tháng 11 năm 1960), Đồn đại biểu Đảng ta do Hồ Chủ tịch dẫn đầu đã
đóng góp tích cực vào việc tổng kết những vấn đề chiến lược và sách lược
của cách mạng thế giới, đề ra những quy luật phổ biến của sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đầu năm 1960, chào
mừng Đảng ta 30 tuổi và đón chào Đại hội lần thứ ba của Đảng sắp họp, Hồ
Chủ tịch viết bài Ba mươi năm hoạt động của Đảng tổng kết lịch sử Đảng ta
qua 30 năm đấu tranh oanh liệt và chiến thắng vẻ vang.Tháng 9 năm 1960,
Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ ba của Đảng họp tại Thủ đơ Hà Nội. Đại
hội thơng qua Điều lệ mới của Đảng, bầu ra Ban chấp hành trung ương mới
thăm Người. Mỗi lần gặp, Hồ Chủ tịch đều hỏi thăm tình hình miền Nam rất
tỉ mỉ và Người rất vui.
7. Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965 –
1969 ) :
Trước nguy cơ thất bại trong chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam,
đế quốc Mỹ điên cuồng gây chiến tranh phá hoại bằng khơng qn và hải qn
đối với miền Bắc, đồng thời liều lĩnh chuyển "chiến tranh đặc biệt" của chúng
ở miền Nam ra chiến tranh cục bộ.
Trước tình hình nghiêm trọng do âm mưu và hành động chiến tranh mới của
đế quốc Mỹ gây ra, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng nêu cao quyết tâm động
viên lực lượng của tồn Đảng, tồn qn, tồn dân kiên quyết đánh bại cuộc
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, nhằm bảo
vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hồn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất Tổ
quốc. Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng nêu rõ nhiệm vụ cấp bách của cách
mạng miền Bắc là phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển
hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng, để miền Bắc có
đủ sức mạnh kịp thời đáp ứng u cầu bảo vệ miền Bắc, chi viện cho cách
mạng miền Nam, đồng thời nên tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
23
Tiểu luận lòch sử Đảng
của chủ nghĩa xã hội. Lời kêu gọi Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
của Hồ Chủ tịch lại vang lên như tiếng kêu xung trận: Chiến tranh có thể kéo
dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số
thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết khơng
sợ ! Khơng có gì q hơn độc lập tự do. Người nhắc nhở cán bộ phải chú ý từ
việc đào hầm trú ẩn đến việc sơ tán người già và trẻ em. Người thăm hỏi đồng
bào những nơi bị địch bắn phá, chăm lo việc ổn định đời sống của nhân dân.
Người đi thăm nhiều đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân, gửi hoa
tháng 12 năm 1966, Hồ Chủ tịch nêu rõ sự xâm lược của Mỹ là nguồn gốc
duy nhất, là ngun nhân trực tiếp gây nên tình hình nghiêm trọng ở Việt
Nam và Đơng Nam Á. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng tranh
SV: Nguyễn Ngọc Hiếu
24
Tiểu luận lòch sử Đảng
thủ được sự ủng hộ tích cực của dư luận tiến bộ tồn thế giới. Ngay trên đất
Mỹ, bọn cầm đầu hiếu chiến Mỹ cũng ngày càng bị cơ lập.
Thay mặt nhân dân Việt Nam, Hồ Chủ tịch nhiều lần cảm ơn sự ủng hộ
đầy nhiệt tình đó. Một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới ủng hộ
nhân dân Việt Nam chống Mỹ đã được hình thành. Việt Nam đã trở thành
vấn đề lương tâm của thời đại.Bị thua đau ở cả hai miền nước ta, ngày 1
tháng 1 năm 1968, Chính phủ Mỹ buộc phải chấm dứt khơng điều kiện việc
ném bom và bắn phá trên tồn bộ lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
và phải nói chuyện với đại diện của Chính phủ ta và đại diện Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pa ri. Sau bốn
năm chiến đấu vơ cùng anh dũng, qn và dân ta đã giành được thắng lợi vẻ
vang: đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc
nước ta.
Hồ Chủ tịch kêu gọi qn và dân cả ở hai miền phải nâng cao cảnh giác,
tăng cường lực lượng liên tục tiến cơng, giành lấy thắng lợi hồn tồn: "Hễ
còn một tên xâm lược nào trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu,
qt sạch nó đi". "Dù Mỹ đưa thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lơi kéo
thêm qn đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này, thì qn và
dân ta cũng quyết đánh thắng chúng".Tháng 8 năm 1967, Đại hội bất thường
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp đã thơng qua Cương
lĩnh chính trị nhằm mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ,
đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân miền Nam đến tồn thắng.
Tồn bộ q trình phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân
ta qua các giai đoạn đã dẫn tới cuộc tổng tiến cơng và nổi dậy long trời