MỤC LỤC
&
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BIỂU TÌNH
Trang
Phần mở đầu 1
1. Khái niệm biểu tình…………………………………………………………………… .6
2. Phân biệt giữa biều tình với một số hoạt động khác……………………… ….…13
3. Ý nghĩa của biểu tình…………………………………………………………….… 15
4. Vì sao phải luật hóa biểu tình trong thời gian sớm nhất……….…………… …16
5. Mối quan hệ giữa quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác….….…19
5.1. Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và biểu tinh…………………….……… …19
5.2. Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận……….… … 20
5.3. Quyền biểu tình và quyền tự do hội họp……………………… ……… ….… 22
6. Xu hướng phát triển của biểu tình trên thế giới……………………………… 23
6.1. Xu hướng phát triển chung của thế giới……………………………………… 23
6.2. Xu hướng quốc tế hóa biểu tình……………………………………………… 24
Kết luận chương I………………………………………………………….25
CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT VỀ BIỂU TÌNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
1. Quy định về việc thông báo khi tổ chức biểu tình 30
2 Cấm hoặc hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số
trường hợp………….36
3. Cấm và thời gian cấm biểu tình……… …………………………………38
4 Phạm vi cấm biểu
tình. 41
5 Vấn đề quy trách nhiệm 43
5.1 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức 43
5.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước 44
6. Chế tài xử phạt 45
hội.
Đòi hỏi của một nền pháp chế.
Thực tế cho thấy muốn xã hội ổn định thì những vấn đề quan trọng liên
quan trực tiếp đến Nhà nước, công dân, xã hội… phải được luật hóa và phổ biến
một cách đầy đủ, kịp thời. Biểu tình là một lĩnh vực rất quan trọng có tác động
không chỉ đến an ninh mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.
Bởi vậy, không có pháp luật về biểu tình để điều chỉnh trực tiếp là một thiếu sót
lớn. Có luật biểu tình thì chúng ta mới có thể thực thi được quyền biểu tình trên
thực tế. Đó không chỉ là cơ sở để Nhà nước tổ chức thi hành luật biểu tình một
cách chính thức mà còn là khuôn khổ, chuẩn mực để nhân dân thực hiện quyền
biểu tình. Cả Nhà nước và nhân dân đều dựa trên luật biểu tình để thực hiện quyền
và nhiệm vụ của mình. Luật biểu tình không có thì không thể xử lý những vướng
mắc phát sinh, nếu để tình trạng đó diễn ra dài không những ảnh hưởng đến tâm lý
xã hội mà còn ảnh hưởng xấu đến hệ thống pháp luật của nước ta
Về chính trị xã hội
Trên thực tế, trong những năm qua, biểu tình đã xảy ra ở nhiều nơi và mỗi
nơi người dân biểu tình theo những cách mà mình cho là đúng. Ví dụ như treo cờ
tổ quốc, viết nội dung mình muốn yêu cầu lên giấy, lên áo… thậm chí đem cả đồ
dùng cá nhân như chiếu, mùng màn, quần áo, đồ ăn, nước uống… đi biểu tình và
ngủ luôn trên vỉa hè. Khi có đám đông biểu tình diễn ra như trên làm cho nhiều
người dân muốn tìm hiểu xem việc gì xảy ra và hậu quả là khi có biểu tình thường
kèm theo ách tắc giao thông, hoặc trật tự công cộng bị đảo lộn.
Trước thực trạng đó, cơ quan Nhà nước rất lúng túng trong việc giải quyết
khi có một cuộc biểu tình xảy ra. Nếu lực lượng cảnh sát vào cuộc để ngăn ngừa
những cuộc biểu tình thì dễ bị những phần tử phản động cho là làm mất dân chủ,
áp bức nhân dân…còn nếu không có động thái để giữ gìn trật tự công cộng thì có
thể tính mạng, sức khỏe của nhiều người khác bị ảnh hưởng.
Việt Nam chưa có luật biểu tình nên chưa có sự phân biệt giữa quyền biểu
tình với quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội họp. Lợi dụng kẽ hở đó, những
kẻ phản động thường đồng nhất quyền biểu tình vào quyền tự do ngôn luận và
nước là phải đảm bảo cho quyền này được thực hiện trên thực tế thông qua việc
ban hành luật biểu tình.
2. Xây dựng khái niệm “biểu tình” trên cơ sở đó giúp Nhà nước quản lý
được hoạt động biểu tình, đồng thời đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân
3. Phân biệt giữa biểu tình với bạo loạn, bạo động.
4. Nêu lên vai trò, ý nghĩa của hoạt động biểu tình.
5. Mối quan hệ giữa biểu tình và các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận.
6. Phân tích những quy định liên quan đến biểu tình tại Việt Nam và các
nước trên thế giới. trên cơ sở đó so sánh đối chiếu những điểm chính cần phải có
trong luật biểu tình để xây dựng luật luật biểu tình ở Việt Nam
Nhằm mục đích cao nhất và cuối cùng là đóng góp vào việc xây dựng luật biểu
tình của Việt Nam sau này.
3. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu mối quan hệ giữa thực tiễn
biểu tình và các quy định của pháp luật về quyền biểu tình ở Việt Nam. Ngoài ra
các tác giả còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp….
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu quyền biểu tình trên cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam và thế giới
Trước hết, các tác giả đã tìm hiểu những quy định pháp luật liên quan đến
biểu tình của Việt Nam trong Luật số 101/ SL – L - 003 ngày 20 – 5 - 1957 của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về quyền tự do hội họp. Mặc dù đây là một
văn bản không trực tiếp điều chỉnh vấn đề biểu tình nhưng hoạt động tự do hội họp
là một trong những tiền đề quan trọng để tiến tới việc thực hiện biểu tình. Do đó,
chúng ta có thể tham khảo, kế thừa những quan điểm pháp lý tiến bộ trong văn bản
trên để hoàn thiện các quy định về biểu tình trong quá trình xây dựng luật biểu tình
của nước ta sau này.
giới. Việc đảm bảo quyền biểu tình cho người dân là một xu thế tất yếu trên toàn
cầu. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với tất cả các nước. Vì thế, luật
hóa quyền biểu tình là điều cần thiết và chúng ta cũng nên theo xu hướng chung
này.
Trong chương II từ các quy định của pháp luật liên quan đến quyền biểu
tình ở Việt Nam và các nước trên thế giới các tác giả đã phân tích, so sánh để nêu
bật lên những ưu điểm, hạn chế. Từ đó rút ra những giải pháp cho kiến nghị xây
dựng luật biểu tình ở Việt Nam bao gồm các mục sau:
1. Quy định về việc thông báo khi tổ chức biểu tình
2. Cấm hoặc hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số trường hợp.
3. Cấm và thời gian cấm biểu tình.
4. Phạm vi cấm biểu tình.
5. Vấn đề quy trách nhiệm.
5.1 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức.
5.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước.
6. Chế tài xử phạt.
7. Cấm sử dụng loa ở một số địa điểm
8. Quyền hạn chế hoặc giải tán cuộc biểu tình của Nhà nước.
9. Lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo xây dựng luật biểu tình.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BIỂU TÌNH
1. Khái niệm biểu tình
Biểu tình là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, trên thế giới chưa có một định
nghĩa về biểu tình thật sự thống nhất. Những nước khác nhau có những quan điểm
về biểu tình cũng khác nhau. Luật pháp của nhiều quốc gia thừa nhận quyền biểu
tình nhưng hầu hết lại không định nghĩa thế nào là biểu tình.
Theo bách khoa toàn thư Bắc Mỹ (Encyclopaedia Americana) thì biểu tình
được hiểu “là hành động bất bạo lực của một nhóm người, nhằm mục đích đưa
đến cộng đồng một quan điểm hay một cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã
hội[1]”. Định nghĩa này đã nêu được ba yếu tố hợp thành đó là. Thứ nhất: hành
thành phố thì không thể gọi là một nhóm người được. Ví dụ cuộc biểu tình của 70
vạn quần chúng Sài Gòn ngày 16 – 6 - 1963 đã lôi kéo gần như mọi tầng lớp nhân
dân[3]. Cuộc biểu tình ngày 15 – 3 - 2010 ở Thái Lan do phe Áo đỏ phát động đã
thu hút khoảng một trăm ngàn người[4]. Một nhóm người là quá nhỏ, khái niệm đó
không thể bao hàm hết một lượng người quá lớn lên đến hàng vạn hoặc hàng triệu
người.
Thứ ba: mục đích của cuộc biểu tình. Hoạt động biểu tình nhằm đưa đến
một quan điểm hay hay cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã hội. Theo các tác
giả thì sự thống nhất về cách nhìn hay quan điểm đúng là mục đích của biểu tình
nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng. Nếu ta chỉ dừng ở đó thì không triệt
để. Thực chất, cái đích của người biểu tình là làm sao cho quyền lợi của mình, của
chủ thể khác hoặc của xã hội được đáp ứng. Các chủ thể bị phản đối cần phải có sự
thay đổi để đáp lại nguyện vọng của người biểu tình. Quan điểm hay cách nhìn
thống nhất chỉ là một bước mà người biểu tình mong muốn và cần đạt cho bằng
được, để đưa đến mục đích cuối cùng là quyền lợi. Đó có thể là những lợi ích về
vật chất hoặc tinh thần, trực tiếp hay gián tiếp. Theo các tác giả để được xem là
biểu tình trên thực tế thì nhất thiết phải có ba yếu tố sau.
Thứ nhất: nhiều người tham gia. Thứ hai: phải thể hiện sự ủng hộ hay
phản đối công khai. Thứ ba: mục đích của biểu tình nhằm đòi hỏi quyền lợi cho
mình cho xã hội hoặc cho một đối tượng nào đó.
Thứ nhất: có nhiều người tham gia. Bất kỳ một cuộc biểu tình nào nổ ra
cũng phải tập hợp được một lực lượng đông đảo. Họ bày tỏ những quan điểm của
mình và phản đối chính sách của Nhà nước, tổ chức hay cá nhân nào đó. Đấu tranh
bằng phương pháp hòa bình là chủ đạo nên phải nhiều người mới tạo được sức
mạnh cần thiết để tác động đến những chủ thể mà họ không bằng lòng. Ví dụ: cuộc
biểu tình đòi thả Phan Bội Châu có hàng vạn người đủ các tầng lớp nhân dân[5].
Lịch sử hình thành của quyền biểu tình cũng được thực hiện dưới hình thức nhiều
người. Họ có thể có những cách thức đấu tranh khác nhau nhưng không đối lập.
Tất cả những người biểu tình có điểm chung đó là: hướng đến đối tượng mà họ ủng
hộ hay phản đối để đòi hỏi những gì mà mình mong muốn. Vì thế, người biểu tình
đối của người biểu tình. Ví dụ: phe Áo đỏ ở Thái Lan phát động một cuộc biểu tình
trên quy mô lớn phản đối các nhà lãnh đạo và sự điều hành của Chính phủ. Người
đứng đầu và đoàn biểu tình “gây sức ép đòi Thủ tướng từ chức, giải tán Hạ Viện và
tiến hành bầu cử sớm”[9]. Trong trường hợp này, người biểu tình rõ ràng thể hiện
thái độ không đồng tình với những chủ trương mà những người đứng đầu Chính
phủ đưa ra. Tuy nhiên, biểu tình không chỉ thể hiện sự phản đối, mà trong nhiều
trường hợp nó còn bày tỏ sự ủng hộ. Nhiều vấn đề người dân bày tỏ thái độ ủng hộ,
đơn thuần chỉ vì họ thấy nó phù hợp, đem lại lợi ích cho mình và xã hội. Nếu
Chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân đang có những lựa chọn cách giải quyết cho một
vấn đề nào đó thì sự ủng hộ của người biểu tình góp phần củng cố quyết tâm của
những chủ thể đưa ra quyết định hơn. Ví dụ: cuộc biểu tình ngày 19 – 4 - 2010 của
người dân New York. “Cuộc biểu tình do Chiến dịch Hỗ trợ và trách nhiệm với các
nạn nhân chất độc da cam dioxin Việt Nam phát động đã diễn ra tại công viên
Prospect, nơi diễn ra sự kiện chạy vì nước sạch của công ty Dow tổ chức. Những
người tổ chức biểu tình cho rằng công ty Dow đang lợi dụng các hoạt động như:
Chạy vì nước sạch để che giấu hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và phá hủy hệ sinh
thái ở Việt Nam và nhiều nơi khác”[10].
Sự phân biệt giữa ủng hộ hay phản đối cũng chỉ ở mức tương đối vì nhiều
cuộc biểu tình có sự đan xen giữa hai yếu tố này. Thông thường, một cuộc biểu
tình ủng hộ ai đó thì đồng thời cũng là một biểu hiện cho sự phản đối với bên kia.
Điển hình trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam. Người dân yêu chuộng
hòa bình trên toàn thế giới tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến của
Mỹ tại Việt Nam. Những cuộc biểu tình như thế này không thể nói chỉ có sự phản
đối. Thông qua sự không đồng tình với nhà cầm quyền Mỹ, người biểu tình đã trực
tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Sự tụ
họp đông người không thể hiện sự phản đối hoặc ủng hộ thì không là biểu tình. Có
thể đó là sự tụ họp, bàn bạc, thảo luận để đưa ra ý kiến mang tính chất đóng góp
hay bổ sung. Cách thức thể hiện cũng được thể hiện dưới những hình thức khác
nhau nhưng biểu tình phải công khai. Bản chất của biểu tình nằm ở chỗ. Bằng sức
mạnh của số đông, người biểu tình muốn truyền tải thông điệp đến đối tượng mà
thì tình hình xã hội càng phức tạp thêm.
Việc các tác giả phân tích tỷ mỷ thế nào là biểu tình không phải để tranh cãi
thế nào là biểu tình, mà để đưa ra một định nghĩa về biểu tình thật toàn diện và phù
hợp với thực tiễn hiện nay nhằm xây dựng luật biểu tình. Trên cơ sở kiến nghị xây
dựng một văn bản pháp luật về vấn đề biểu tình. Văn bản pháp luật đó không chỉ
đáp ứng được những đòi hỏi rất bức thiết của người biểu tình mà đó còn là công cụ
để Nhà nước kiểm soát xã hội. Dù thực tế, biểu tình có diễn ra như thế nào nhưng
để đảm bảo được lợi ích chung thì pháp luật vẫn phải có sự hạn chế nhất định. Sự
hạn chế này không phải vì Nhà nước thu hẹp quyền biểu tình của người dân mà
mục đích nhằm bảo vệ sự an toàn của chính người biểu tình và sự ổn định chính trị,
tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển toàn diện.
Đứng trên phương diện pháp luật, các tác giả đưa ra định nghĩa chính thức
về biểu tình như sau:
Biểu tình là sự tập hợp tự nguyện từ mười người trở lên, hành động mang
tính phi bạo lực, để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề
nào đó trước Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình,
cho chủ thể khác hoặc cho xã hội.
Con số mười người mà các tác giả đề xuất ở định nghĩa trên chỉ mang tính
tương đối. Qua thực tế cho thấy, biểu tình phải tập hợp được một lượng người
đông đảo, hai hoặc ba người không thể làm nên một cuộc biểu tình được. Chúng ta
không nên quy định theo kiểu “có nhiều người tham gia” bởi vì hai người trở lên
cũng được xem là nhiều người. Tuy khó nhưng luật phải đưa ra một con số cụ thể,
giới hạn nhỏ nhất là bao nhiêu để làm căn cứ xác định đâu là biểu tình. Nếu dựa
vào bản chất của biểu tình thì không thể xác định được chính xác phải có tối thiểu
bao nhiêu người tham gia thì sẽ được coi là một cuộc biểu tình. Sự lựa chọn con số
mười người, mười lăm người hoặc một con số khác làm định lượng tối thiểu để coi
đó là một cuộc biểu tình phần lớn do chủ quan của mỗi nhà làm luật ở mỗi quốc
gia. Việc xác định một con số tối thiểu sẽ giúp cho Nhà nước dễ dàng quản lý và
công nhận một cuộc biểu tình, tránh tình trạng luật không có quy định dẫn đến một
nhóm hai hoặc ba cũng đòi biểu tình nhưng hiệu quả của biểu tình không cao, đồng
cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn những dấu hiệu theo quy định của pháp luật.
Có như vậy, Nhà nước mới có thể kiểm soát được an ninh trật tự, đấu tranh có hiệu
quả với những người có âm mưu lợi dụng biểu tình để gây rối. Ví dụ: một ngàn
người biểu tình ở thành phố A tỏ thái độ không đồng tình với chính quyền trong
việc chậm trễ xử lý nguồn nước ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người
dân. Ban đầu, đoàn người diễu hành trong trạng thái ôn hòa nhưng khi đến trụ sở
Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A. Mười người người biểu tình đã tấn công nhân
viên bảo vệ, ném gạch đá vào cảnh sát cơ động, đập phá tường rào. Trường hợp
này, chúng ta không nên công nhận hành động bạo lực của mười người sau khi đến
trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A nằm trong hoạt động biểu tình mà xem xét
nó như những hành vi độc lập để xử lý.
Khái niệm của bất cứ một vấn đề nào đó luôn rất quan trọng, đặc biệt đối
với biểu tình khi mà chúng ta còn nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có định nghĩa
chính thức. Với vấn đề này các tác giả có kiến nghị như sau. Khi tiến hành xây
dựng luật biểu tình thì phải đưa ra khái niệm rõ ràng về biểu tình để khi nhìn vào
đó chúng ta thấy được những đặc trưng riêng có. Từ đó, đưa ra những khái niệm
pháp lý khác để phân biệt các hoạt động tương tự với biểu tình. Đó là các khái
niệm về bạo loạn, bạo động, nổi loạn, ẩu đả…
2. Phân biệt giữa biểu tình với một số hoạt động khác
Quan niệm về biểu tình đã không thật sự thống nhất còn cách hiểu của
chúng ta nhiều khi vẫn có sự lẫn lộn giữa hoạt động biểu tình với một số hoạt động
tương tự khác như: bạo động, bạo loạn, ẩu đả …Sự mập mờ ấy không chỉ gây khó
khăn cho hoạt động nghiên cứu nói chung mà còn dẫn đến nhiều cách hiểu và áp
dụng pháp luật không thật sự thống nhất. Ví dụ: một nhóm người kéo nhau diễu
hành ở đường. Sau đó họ tập trung quanh trụ sở của Ủy Ban Nhân Dân huyện A
đòi chính quyền phải giảm thuế sử dụng đất, tăng cường tiếp xúc để cung cấp
thông tin cho nhân dân. Trong trường hợp này, ta xem những hành động vây quanh
trụ sở của ủy Ban Nhân Dân, đưa ra những yêu sách là biểu tình hay bạo loạn, bạo
động. Việc xét hành động đó vào loại nào có vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi vì, Nhà
nước sẽ áp dụng những chế tài xử lý mà hậu quả của nó hoàn toàn khác nhau. Nếu
đổ chính quyền.
Sự khác biệt giữa biểu tình với bạo động, bạo loạn thể hiện ở những điểm
sau.
Thứ nhất: về tính bạo lực. Bạo động và bạo loạn luôn luôn có kèm theo
hành động bạo lực. Từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, hành động bạo lực là chủ đạo
và xuyên suốt. Cuộc bạo động năm 2003 tại Gia Lai và Đắc Lắc là một ví dụ. Dưới
sự kích động của bọn phản động nước ngoài. Những người dân tộc thiểu số mang
vũ khí các loại, tập trung chiếm trụ sở của chính quyền, đập phá nhiều công trình
công cộng. Hành động bạo lực này là có chủ ý và có sự chuẩn bị từ trước nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân và lập nên Nhà nước tự trị Đề Ga. Biểu tình không kèm
theo hành động bạo lực, nếu có bạo lực xảy ra trong lúc biểu tình thì hành động đó
chỉ là những biến tướng. Người có hành động bạo lực ấy sẽ bị xử lý riêng biệt và
hành động ấy không được xem là biểu tình. Ý chí chủ đạo của đoàn biểu tình vẫn
là ôn hòa, không chủ trương dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Thông thường bạo
lực chỉ xảy ra vào giai đoạn cuối. Cuộc biểu tình ngày 2 - 6 - 2007 của người dân
thành phố Rostock là một ví dụ. “Cuộc biểu tình bắt đầu trong tinh thần hòa hoãn,
phần lớn người biểu tình không có ý muốn bạo động. Tuy nhiên, một số trong đoàn
biểu tình đã gây hấn với lực lượng cảnh sát và bạo động xảy ra đã đẩy thành phố
cảng Rostock ở phía bắc nước Ðức vào tình trạng hỗn loạn[16]”.
Thứ hai: về mục đích. Bạo động và bạo loạn nhằm gây rối an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, hoặc lật đổ chính quyền. Trong khi đó, mục đích của người
biểu tình không phải đi gây rối an ninh chính trị hoặc lật đổ chính quyền mà họ đòi
hỏi quyền lợi cho mình, cho chủ thể khác hoặc cho toàn xã hội thông qua đấu tranh
ôn hòa. Ví dụ cuộc biểu tình chống đạo luật hôn nhân gia đình sửa đổi của Italia
ngày 12 – 5 - 2007. “Những người biểu tình đã yêu cầu Quốc hội bác bỏ đạo luật
kể trên bởi nó "phi truyền thống" và sẽ hủy hoại các gia đình truyền thống[17]”.
Các nước phát triển Châu Âu thường có tỷ lệ sinh thấp. Vì thế, việc Chính phủ
thông qua Luật hôn nhân gia đình sửa đổi có nội dung trao thêm quyền cho những
cặp kết hôn đồng giới đã thật sự đe dọa đến tương lai của xã hội. Đặc biệt, nó vi
phạm tính truyền thống của người Italia. Họ đi biểu tình vì muốn bảo vệ những giá
Đảng và Nhà nước ta đã tiếp thu nhiều quan điểm tiến bộ để thực hiện mục tiêu
của mình. Trong đó, quan điểm về một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã
được thừa nhận rộng rãi là một trong những bước đi tiếp theo trong quá trình xây
dựng mô hình Nhà nước của dân do dân và vì dân. Nhận thức này ngày càng thống
nhất trong toàn Đảng và được khẳng định rõ tại Đại hội IX của Đảng (4 - 2001):
Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.[18]
Quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụ thể
hóa trong Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
Khái niệm về Nhà nước pháp quyền được hiểu theo nguyên nghĩa là sự tối
thượng của pháp luật hay chế độ chính trị pháp trị (The rule of law). Nó bao gồm
hai nội dung sau (1) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và (2) Nhà nước bị
ràng buộc bởi pháp luật[19].
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở việc thiết lập một
khuôn khổ pháp lý nhằm chế ngự quyền lực nhà nước, thực hiện quyền dân chủ mà
còn hướng tới một xã hội phát triển bền vững, toàn diện và tích cực nhằm giải
phóng con người[20].
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ của dân, do
dân, vì dân nên nhiệm vụ của hệ thống pháp luật nước ta là phải đảm bảo các
quyền con người, quyền công dân cho nhân dân ta được thực thi trong đời sống. Ý
chí lợi ích của nhân dân không chỉ dựa trên các văn bản pháp luật mà cần phải trở
thành những ứng xử trên thực tế.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước xây dựng một Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân bằng việc từng bước hoàn
thiện một hệ thống pháp luật dân chủ và tiến bộ nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhân
dân. Tuy nhiên, vẫn còn những quyền công dân mà thực tế chưa đi vào đời sống,
Việc các thế lực thù địch, phản động có thể tiến hành các hoạt động chống
phá ta bằng hình thức biểu tình một phần là do sự nhận thức kém của người dân
nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng, nhưng một phần cũng không kém quan trọng là do việc
chúng ta thiếu những quy định về mặt pháp lý trực tiếp điều chỉnh vấn đề biểu tình
từ đó tạo ra khe hở để những thế lực nêu trên lợi dụng. Bên cạnh đó, các hình thức
gần giống với biểu tình như bạo động, bạo loạn vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng
với biểu tình trên cơ sở pháp lý nên các phần tử xấu đồng nhất các hoạt động bạo
động bạo loạn là biểu tình và cho rằng đó là sự thể hiện dân chủ.
Từ đó cho thấy, Nhà nước cần phải có một công cụ pháp lý để hạn chế việc
lợi dụng biểu tình của các phần tử xấu nhằm chống phá chế độ ta. Vì vậy xây dựng
luật biểu tình nhằm đáp ứng được yêu cầu này.
Biểu tình là một cách để nhân dân hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ phía
cơ quan Nhà nước
Hầu hết các Nhà nước sau khi ra đời đều có xu hướng lạm dụng quyền lực.
Từ sự lạm dụng quyền lực này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực phát sinh. Tuy có quyền
lực rất lớn nhưng Nhà nước không thể bất chấp mọi phản ứng của nhân dân để làm
tất cả mọi việc theo quan điểm của mình. Thông qua biểu tình, nhân dân có thể
ngăn ngừa hoặc ít nhất cũng làm giảm bớt sự lạm dụng quyền lực của Nhà nước.
Sự hạn chế quyền lực này của nhân dân thông qua cơ chế tự do ngôn luận, tự do
hội họp, tự do thông tin, bàn bạc tranh luận. Nhân dân có thể kiểm tra và theo dõi
việc thực hiện quyền lực Nhà nước và có thể thách thức hoặc “đạp đổ” hoặc “đuổi
Chính phủ đi”[22]. “Sự giám sát của nhân dân sẽ dẫn đến một hệ quả rất quan
trọng là nhân dân sẽ chế ngự bằng việc biểu tình phản đối hoặc thay đổi Chính phủ
một cách hòa bình hoặc phương thức cuối cùng là nổi dậy bằng khởi nghĩa, đấu
tranh vũ trang”[23].
5. Mối quan hệ giữa quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác.
Theo nhóm tác giả thì quyền là khả năng của một chủ thể được làm hay
không làm một việc gì đó trong giới hạn mà những chủ thể khác không được phép
ngăn cản.
Từ nhận định trên, ta có thể rút ra quyền biểu tình được hợp thành bởi hai
dân, là công cụ để bảo vệ tự do dân chủ thì phải trải qua giai đoạn nhận thức và
điều chỉnh pháp luật. Sự hoàn thiện về lý luận về biểu tình góp phần thúc đẩy hoạt
động biểu tình phát triển theo hướng tích cực hơn. Sự phát triển song hành giữa
biểu tình và quyền biểu tình là điều kiện tốt nhất để họat động biểu tình phát huy
vai trò của nó. Cái mà người biểu tình thực sự quan tâm đó là quyền biểu tình được
thực thi như thế nào trên thực tế. Thực tiễn là gốc rễ của mọi vấn đề, định hướng
cho pháp luật bám sát cuộc sống nhưng lý luận cũng có vai trò rất quan trọng. Có
sự ghi nhận quyền biểu tình bằng những quy định cụ thể thì hoạt động biểu tình
mới có thể diễn ra dễ dàng và dân chủ hơn.
5.2. Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận
Tự do ngôn luận là sự tự do phát biểu (freedom of expression) mà không bị
kiểm duyệt hoặc hạn chế[26].
Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người,
quyền này đã được thừa nhận như là một quyền con người trong Tuyên ngôn Quốc
tế về Nhân quyền và được thừa nhận tại Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền
Dân sự và Chính trị International Covenant on Civil and Political Rights -
ICCPR).
Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm,
tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất
cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình". [27]
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận"[1][2] [28] có nghĩa là mọi người được tự
do bày tỏ ý kiến quan điểm của mình dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm tìm
kiếm, chia sẻ thông tin, tư tưởng và biểu đạt những tư tưởng đó. Trong số những
hình thức thể hiện quyền này thì hoạt động biểu tình là một phần trong đó. Bởi vì,
tự do ngôn luận là tự do bày tỏ ý kiến quan điểm của mình trước một vấn đề hay sự
kiện nào đó, biểu tình cũng mang tính chất như vậy. Nó cũng là hoạt động bày tỏ
quan điểm ý kiến của mình nhưng ở góc độ lớn hơn, tập hợp được nhiều quan điểm
mang tính tập thể hơn. Như vậy, biểu tình chính là một hình thức của tự do ngôn
luận.
5.3. Quyền biểu tình và quyền tự do hội họp
Như đã định nghĩa ở trên, hoạt động biểu tình phải gắn liền với sự tụ họp
của nhiều người và sự tụ họp này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Chính
vì vậy, bất cứ ai muốn biểu tình thì trước tiên phải có quyền tự do hội hop.
Quyền tự do hội họp là quyền được liên kết lại của một nhóm người trước một vấn
đề nào đó mà họ quan tâm. Mục đích để tiến hành hội họp là để trao đổi ý kiến với
nhau. Đứng trước một vấn đề, mọi người thường có nhu cầu chia sẻ, bàn luận với
những người có cùng suy nghĩ, quan điểm với mình. Tự do hội họp là một trong
những quyền cơ bản của con người và được ghi nhận rộng rãi trong Tuyên Ngôn
Về Nhân Quyền Quốc Tế, Điều 20 của tuyên ngôn này.
Điều 20:
1. Mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hội họp một cách hòa bình.
2. Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.
Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 cũng ghi nhận
quyền này ở Điều 21.
Quyền hội họp hoà bình phải được công nhận. Việc thực hiện quyền này
không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong
một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để
bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người
khác.
Từ những ghi nhận mang tính quốc tế về quyền tự do hội họp và sự phân
tích của tác giả cho thấy. Quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận có quan hệ mật
thiết với nhau. Quyền tự do hội họp là tiền đề quan trọng để có được quyền biểu
tình. Nếu không có tự do hội họp sẽ không bao giờ có được quyền biểu tình và hoạt
động biểu tình. Bởi lẽ, khi đã có được sự tự do bày tỏ ý kiến và quan điểm cộng với
việc được phép tự do hội họp với những người có cùng quan điểm, cùng suy nghĩ
về một vấn đề cùng quan tâm thì khi đó biểu tình mới có thể diễn ra theo đúng bản
chất của nó. Tức là việc thực hiện một quyền, một hoạt động chính trị trong khuôn
khổ của pháp luật với mục đích đòi hỏi những quyền lợi.
Việc luật hóa quyền biểu tình có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện
những quyền cơ bản của con người ngày càng được thế giới có trách nhiệm hơn
theo hướng mở rộng tối đa trong khả năng và điều kiện kinh tế. Khoản 2 Điều 5
công Ước quốc tế về Quyền Dân Sự Và Chính Trị năm 1966 cũng là một sự khẳng
định đối với việc bảo vệ những quyền cơ bản của con người trong đó có quyền
biểu tình. “Không được hạn chế hoặc huỷ bỏ bất kỳ quyền cơ bản nào của con
người mà đã được công nhận hoặc hiện đang tồn tại ở bất kỳ quốc gia thành viên
nào của Công ước này trên cơ sở luật, điều ước, các quy định pháp luật hoặc tập
quán, với lý do là Công ước này không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận
ở một mức độ thấp hơn”. Thế giới ngày càng văn minh. Việc đảm bảo quyền con
người là một tất yếu vì thế đòi hỏi phải mở rộng dân chủ hơn hay ít nhất cũng phải
duy trì những quyền đã được thừa nhận. Hạn chế quyền con người chính là đi
ngược lại lợi ích nhân dân, cản trở sự phát triển. Biểu tình đóng một vai trò rất
quan trọng để nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Vì
thế, chúng ta phải xem biểu tình là một hoạt động chính trị bình thường của cả
cộng đồng.
6.2. Xu hướng quốc tế hóa biểu tình
Trong một quốc gia, hoạt động biểu tình là hiện tượng mang tính thường
xuyên và phổ biến, thể hiện mối tương tác giữa Nhà nước với nhân dân. Nhưng
không chỉ chỉ có thế, trong lịch sử đã từng diễn ra nhiều cuộc biểu tình của nhân
dân các nước đối với những nước khác. Ví dụ: trong chiến tranh giữa Pháp - Việt
Nam, Mỹ - Việt Nam không chỉ nhân tiến bộ Pháp, Mỹ biểu tình phản đối chiến
tranh đối với chính quyền chính quốc mà nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp
năm châu cũng biểu tình thể hiện sự ủng hộ đối với cách mạng Việt Nam. Gần đây
nhất là cuộc chiến tranh tại Iraq do Mỹ phát động đã vấp phải một làn sóng biểu
tình mạnh mẽ trên thế giới. “Trên khắp các đường phố trung tâm ở các thành phố
lớn của Mỹ và Châu Âu, đoàn người biểu tình giơ cao khẩu hiệu phản đối cuộc
chiến tranh và yêu cầu đưa binh lính trở về. Đây là những cuộc biểu tình có quy
mô và thể hiện sự bất bình của dân chúng đối với cuộc chiến đang ngày càng bế tắc
tại Iraq[29]. Thế nhưng, những hoạt động biểu tình chưa thực sự mạnh mẽ, còn
chậm trễ và cục bộ. Thế giới hiện nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ
lợi cho nhân dân. Vì vậy, các tác giả đưa ra khái niệm chính thức về biểu tình đứng
trên phương diện pháp lý. Mục 2 là sự phân biệt biểu tình với một số hoạt động
khác tương tự như bạo loạn, bạo động. Qua sự phân biệt đó mọi người sẽ thấy
được những đặc trưng riêng có của biểu tình và sẽ không bị lẫn lộn với các hoạt
động khác. Mục 3 các tác giả nêu lên ý nghĩa của biểu tình và Mục 4 nêu lên mối
quan hệ của quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác. Qua đó, chúng ta
thấy rõ quyền biểu tình là một trong những quyền cơ bản phải được luật quy định
và đưa vào thực thi. Mục 5 các tác giả đã nêu lên vai trò to lớn của biểu tình đối
với người dân và Nhà nước. Biểu tình không phải hoàn toàn tiêu cực như một số
người nghĩ, đó là một môi trường tương tác giữa mọi người trong xã hội với nhau,
giữa người dân với Nhà nước để tìm ra những cách giải quyết tốt nhất cho các vấn
đề còn vướng mắc. Cuối cùng, các tác giả nêu lên xu hướng phát triển của biểu
tình trên thế giới, Nhà nước ngày càng mở rộng và đảm bảo tốt hơn cho quyền lợi
của người dân. Thế giới thể hiện một xu hướng tiến bộ như vậy, Việt Nam ngày
càng hòa nhập với thế giới sâu rộng hơn. Vì thế, chúng ta cũng nên theo xu hướng
ấy của thế giới nhằm mở rộng dân chủ, khơi dậy tinh thần yêu nước trong nhân
dân.
Chương II:
PHÁP LUẬT VỀ BIỂU TÌNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
Biểu tình là một trong những hình thức biểu hiện của quyền tự do ngôn luận và
quyền tự do hội họp. Do đó, khi xem xét các quy định về quyền biểu tình trong hệ
thống pháp luật của các quốc gia ta sẽ bắt gặp các quy định gián tiếp về quyền biểu
tình thông qua các quy định về tự do ngôn luận hay tự do hội họp.
Luật pháp của Cannada đã ghi nhận quyền này tại Điểm c Điều 2 Hiến
chương về nhân quyền của Cananda[32].
Điều 1 Tu chính thứ nhất (First Amendment) của Quốc hội Hoa Kỳ cũng
công nhận những quyền này.
“Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo
hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân
vấn đề này.
Liên quan đến tụ tập nơi đông người, Chính phủ đã ban hành nghị định
38/2005/NĐ - CP, trong đó có quy định “Việc tập trung đông người ở nơi công
cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt
động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký[42]”.
Đây chỉ là văn bản điều chỉnh việc tụ họp của công dân một phần của hoạt động
biểu tình chứ không phải điều chỉnh toàn bộ họat động biểu tình.
Tham khảo luật pháp Việt Nam trước đây thì nước ta đã từng có luật liên
quan đến biểu tình đó là Luật số 101/SL – L - 003 ngày 20 – 5 - 1957 của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quy định về quyền tự do hội họp của công
dân[43], một trong những nội dung của quyền biểu tình.
Như vậy, chúng ta đã từng có luật “tiếp cận khá gần” với quyền biểu tình. Nhưng
để có thể có những quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề này thì không
phải dễ dàng. Đó là một việc làm đòi hỏi sự cẩn trọng cần thiết, đặc biệt biểu tình