Khái niệm về thị trường – phân khúc thị trường - Pdf 28

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1Phân khúc thò trường
1.1.1 Khái niệm về thò trường – phân khúc thò trường:
Phân khúc thò trường là một hoạt động xác đònh những đặc điểm chung của một
nhóm đối tượng khách hàng trong thò trường tổng thể. Những đặc điểm này có thể nhận
biết theo thu nhập, tuổi tác, mối quan tâm cá nhân, văn hóa chủng tộc, các nhu cầu đặc
biệt.
Mục đích của việc phân khúc là chia thò trường tổng thể thành những thò trường
nhỏ hơn với những khách hàng có chung nhu cầu. Việc nhận biết các phân khúc thò
trường này giúp công ty:
- Tạo ra sản phẩm và dòch vụ đáp ứng nhu cầu của các khách hàng cụ thể.
- Tập trung các nguồn lực Marketing một cách có hiệu quả hơn.
1.1: Sơ đồ thị trường bao qt
Nguồn:( www.marketingchienluoc.com)
1.1.2 Các tiêu thức phân khúc thò trường:
Có thể chia phân khúc thò trường ra làm 3 lónh vực, phân khúc thò trường người tiêu
dùng, phân khúc thò trường doanh nghiệp và phân khúc thò trường quốc tế.
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
1.1.2.1 Phân khúc theo thò trường người tiêu dùng
 Phân khúc theo khu vực đòa lý
Là chia thò trường theo từng đơn vò đòa lý chẳng hạn như theo vùng miền như miền
Bắc, miền Trung và miền Nam hoặc theo từng tỉnh hoặc quận huyện. Doanh nghiệp có
thể xác đònh chỉ hoạt động trên một vùng giới hạn đòa lý nào đó hoặc có thể hoạt động
trên toàn bộ lãnh thổ nhưng tập trung chú ý vào sự khác biệt về nhu cầu, ý muốn của
khách hàng giữa vùng này với vùng khác yêu cầu việc phân chia thò trường thành nhiều
đơn vò đòa lý khác nhau.
Yêu cầu việc phân chia thò trường thành nhiều đơn vò đòa lý khác nhau ví dụ như
quốc gia, vùng, tiểu bang, hạt, thành phố hay thậm phí vùng lân cận. Một công ty có thể
quyết đònh hoạt động tại một hay một vài khu vực đòa lý nhất đònh hay hoạt động tại tất

Các công ty tiếp thò đến những người tiêu dùng trưởng thành thường sử dụng các
hình ảnh và sự hấp dẫn tích cực. Ví dụ: phim quảng cáo cho Olay ProVital được thiết kế
nhằm cải thiện tính đàn hồi và vẻ bề ngoài của “làn da đang lão hóa” của phụ nữ trên
50 tuổi quay cảnh một người phụ nữ phát ngôn đứng tuổi trông vẫn còn rất hấp dẫn và
các thông điệp trẻ trung.
 Phân khúc theo giới tính tiêu dùng.
Được sử dụng từ lâu trong các sản phẩm áo quần, mỹ phẩm, đồ dùng trong phòng
tắm và tạp chí. Ví dụ: Proctor & Gamble là một trong những công ty đi tiên phong với
Secret, một nhãn hiệu về chất chống chảy nhiều mồ hôi có công thức đặc biệt của một
hóa chất dành cho phụ nữ được đóng gói và quảng cáo nhằm tăng cường hình ảnh nữ
tính.
 Phân khúc theo thu nhập
Đã được sử dụng từ lâu bởi những nhà tiếp thò các sản phẩm và dòch vụ như xe hơi,
tàu thuyền, áo quần, mỹ phẩm, dòch vụ tài chính và du lòch. Nhiều công ty nhắm đến
những người tiêu dùng giàu có với các sản phẩm xa xỉ và những dòch vụ tiện nghi. Các
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
cửa hiệu như Neiman Marcus bán mọi thứ từ trang sức đắt tiền và áo quần thời trang cao
cấp cho đến quả mơ bóng loáng của Úc có giá đến 20 USD một pao.
Tuy nhiên, không phải tất cả các công ty sử dụng phân khúc thu nhập đều nhắm đến
những người giàu có. Ví dụ: nhiều nhà bán lẻ như các chuỗi cửa hiệu Dollar General,
Family Dollar và Dollar Tree đã thành công trong việc nhắm đến thò trường mục tiêu là
những nhóm thu nhập thấp hơn. Hơn một nửa doanh số bán hàng tại những cửa hiệu này
là đến từ những người mua sắm với thu nhập gia đình dưới mức 30.000 USD/năm.
 Phân khúc theo tâm lý
Phân khúc thò trường theo tâm lý là chia thò trường thành từng nhóm dựa trên sự
khác biệt về tầng lớp xã hội, lối sống, cá tính.
Phân chia những người mua hàng thành các nhóm khác nhau dựa vào giai tầng xã
hội, lối sống, hay đặc tính cá nhân. Những người trong cùng nhóm tâm lý có thể có tính
chất tâm lý rất khác nhau.

sử dụng trước, người sử dụng tiềm năng, người sử dụng lần đầu và người sử dụng thường
xuyên về một sản phẩm. Ví dụ: một nghiên cứu tìm thấy rằng những người hiến máu
thường có lòng tự trọng thấp, ít muốn chấp nhận rủi ro và quan tâm nhiều hơn đến sức
khỏe của mình, trong khi những người không cho máu lại ở thái cực trái ngược trong cả
ba đặc tính này. Điều này gợi ý rằng những tổ chức xã hội nên sử dụng các cách tiếp cận
tiếp thò khác nhau nhằm giữ những người hiến máu hiện hành và thu hút thêm nhiều
người mới. Vò thế thò trường của một công ty cũng ảnh hưởng đến trọng tâm chú ý của
công ty. Các công ty dẫn đầu về thò phần tập trung vào việc thu hút những người sử dụng
tiềm năng trong khi các công ty nhỏ hơn tập trung vào việc thu hút những người sử dụng
hiện hành khỏi công ty dẫn đầu thò trường.
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
 Tình trạng về lòng trung thành
Một thò trường có thể được phân khúc theo sự trung thành của người tiêu dùng.
Những người tiêu dùng có thể trung thành với các nhãn hiệu (Tide), cửa hàng (Wal-
Mart) và công ty (Ford). Những người mua có thể được chia thành các nhóm tùy theo
mức độ trung thành của họ. Một số người tiêu dùng là hoàn toàn trung thành lúc nào họ
cũng chỉ mua một nhãn hiệu. Những người khác thìø trung thành ở mức độ nào đó, họ
trung thành với một đến hai hay ba nhãn hiệu của một sản phẩm đã biết hay ưa thích
một nhãn hiệu trong khi thỉnh thoảng vẫn mua sản phẩm thuộc các nhãn hiệu khác.
Cũng có những người tiêu dùng khác không trung thành với bất kỳ nhãn hiệu nào.
Những người này hoặc muốn một điều gì đó khác mỗi lần mua hàng hay họ mua bất cứ
thứ gì đang giảm giá.
Một công ty có thể học hỏi rất nhiều từ việc phân tích các kiểu hình trung thành
trong thò trường của mình. Công ty nên bắt đầu với việc nghiên cứu những khách hàng
trung thành của chính mình. Ví dụ: để hiểu tốt hơn các nhu cầu và hành vi của những
người tiêu dùng thức uống nhẹ chủ lực của mình, Pepsi đã quan sát họ tại những nơi mà
sản phẩm của mình được tiêu thụ tại nhà, cửa hàng, tại rạp chiếu phim, tại các sự kiện
thể thao và tại bãi biển.
 SỬ DỤNG NHIỀU CƠ SỞ PHÂN KHÚC

trường quốc tế thành từng nhóm khác nhau có cùng nhu cầu và ý muốn tương tự như
nhau.
Rất ít công ty hoặc có nguồn lực hoặc có ý chí để hoạt động trong tất cả, hay phần
lớn, các quốc gia trên trái đất này. Mặc dù một số công ty lớn, ví dụ: Coca-Cola hay
Sony, bán sản phẩm trên 200 quốc gia thì hầu hết các công ty quốc tế chỉ tập trung vào
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
một nhóm quốc gia nhỏ hơn. Hoạt động tại nhiều nước làm bộc lộ những thách thức mới.
Các nước khác nhau, thậm chí những nước mà gần gũi nhau, cũng có thể khác biệt rất
lớn về kinh tế, văn hóa và chính trò. Như vậy, cũng giống như việc họ đã làm trong các
thò trường nội đòa của mình, các công ty quốc tế cần nhóm các thò trường thế giới của họ
thành những phân khúc với các nhu cầu và hành vi mua sắm riêng biệt. Các công ty có
thể phân khúc những thò trường quốc tế bằng cách sử dụng một hay một sự kết hợp của
nhiều biến số. Họ có thể phân khúc theo vò trí đòa lý, nhóm các quốc gia lại theo khu vực
ví dụ như Tây Âu, vành đai Thái Bình Dương, Trung Đông, Châu Phi.
Phân khúc đòa lý giả đònh rằng các quốc gia ở gần nhau sẽ có nhiều hành vi và
đặc điểm chung. Mặc dù điều này thường là đúng thì cũng có nhiều ngoại lệ. Ví dụ: Hoa
Kỳ và Canada có rất nhiều điểm chung thì cả hai quốc gia này khác biệt rất nhiều về
văn hóa và kinh tế so với nước Mêhicô láng giềng. Ngay cả trong một khu vực, người
tiêu dùng có thể khác biệt rất lớn.
Các thò trường thế giới cũng có thể được phân khúc trên cơ sở các nhân tố kinh tế.
Ví dụ: các quốc gia có thể được phân nhóm theo mức thu nhập của dân chúng hay theo
mức phát triển kinh tế chung của họ. Cơ cấu kinh tế của một công ty đònh hình nhu cầu
về sản phẩm và dòch vụ của người tiêu dùng của công ty đo và vì vậy các cơ hội tiếp thò
mà công ty đó đưa ra. Các nước cũng có thể được phân khúc theo các nhân tố chính trò
và pháp ly,ù ví dụ như loại hình và tính ổn đònh của chính phủ, tính dễ chấp nhận đối với
các công ty nước ngoài, các qui đònh về tiền tệ và số lượng viên chức chính phủ. Những
nhân tố này có thể đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chọn lựa của công ty về
quốc gia nào nên tham gia vào và cách thức thâm nhập thò trường quốc gia đó. Các nhân
tố văn hóa cũng có thể được sử dụng, qua đó phân nhóm các thò trường theo ngôn ngữ

SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
Trước khi có những bước đi cụ thể, cần đánh giá các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
mà doanh nghiệp bạn có thể phải đối mặt trong phân khúc thò trường mới và xác đònh
doanh nghiệp cần làm gì để tạo lợi thế cho mình.
Để có bức tranh tổng thể, tốt nhất là làm khảo sát một phân tích cạnh tranh, trong
đó chú ý đến phương thức bán hàng, việc đònh giá và các kênh phân phối của đối thủ
cạnh tranh.
Bạn sẽ làm gì nếu không thấy có đối thủ cạnh tranh trên phân khúc thò trường của
bạn? Đây chưa hẳn là dấu hiệu tốt. Điều đó có thể là do chưa có công ty nào phát hiện
ra thò trường hẹp đó. Nhưng cũng có thể nhiều công ty đã thử nghiệm và thất bại. Chính
vì vậy cần có phân tích thò trường một cách kỹ lưỡng và triển khai thận trọng để có thể
kiểm soát rủi ro.
1.1.4 Lợi ích của việc phân khúc:
- Việc phân khúc thò trường nhằm làm cho việc kinh doanh thực hiện dễ dàng hơn
đem lại hiệu quả cao hơn.
- Giúp các công ty xác đònh rõ và nhắm đúng vào thò trường mục tiêu của họ.
- Doanh nghiệp cần thực hiện phân khúc thò trường vì công việc phân khúc thò
trường đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm hiểu thò trường của mình một cách kỹ càng hơn. Có
như thế doanh nghiệp mới có thể chia khách hàng theo từng nhóm, những nhóm khách
hàng có cách ứng xử như nhau khi tiếp cận một giải pháp Marketing.
- Quy trình phân khúc thò trường còn đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu động cơ của
sự chọn lựa và yếu tố ưa chuộng của khách hàng trên thò trường, thông qua đó phát hiện
ra cơ sở của ưu thế cạnh tranh.
- Phân khúc thò trường còn giúp cho doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội trên thò trường
thông qua công việc phân tích nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Từ đó có thể đưa ra
những sản phẩm cùng loại nhưng có công dụng khác nhau, bao bì khác nhau, giá thành
khác nhau để phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của những đối tượng khách hàng
khác nhau.
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 10

hiệu quả và có lợi”.
* Theo AMA (American Marketing Association, 1985): “ Marketing là tiến trình
kế hoạch và thực hiện sự sáng tạo, đònh giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng
hóa và dòch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu của cá nhân và tổ
chức”.
* Theo Groroos ( 1990) :”Marketing là những hoạt động để thiết lập, duy trì và
củng cố lâu dài những mối liên hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu
của các bên. Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi và thỏa mãn những điều hứa hẹn
(Fulfilment of promises). ( Nguồn :”Principle of Marketing”, tác giả ; Frances Brasington
và Stephen Rettitt, 1997).
* “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và tổ chức có thể đạt được nhu cầu
và mong muốn thông qua việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trò giữa các bên”.
(Nguồn: “Principle of Marketing”, Philip Kotler và Armstong, 1994)
 Marketing – Mix :
Marketing – Mix không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là
một triết lí dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp ứng
và làm thỏa mãn cho nhu cầu của khách hàng.
Doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để xác đònh và phân khúc thò trường,
xây dựng giải pháp hấp dẫn để chào cho khách hàng và xây dựng thương hiệu với đònh
vò mạnh. Họ phải biết làm thế nào để làm giá cho giải pháp của mình một cách hấp dẫn,
hợp lí và làm thế nào để chọn và quản trò kênh phân phối để đưa sản phẩm của mình
đến tay người tiêu dùng một cách có hiệu quả. Họ cần phải biết làm thế nào để quảng
cáo và giới thiệu sản phẩm của mình để khách hàng biết và mua. Không chỉ thế họ cần
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
phải biết áp dụng chiến lược thò trường và phương pháp quản trò phù hợp với thực tế thò
trường đầy kỹ thuật mới trong xu hướng toàn cầu hóa.
Marketing – Mix hay còn gọi là Marketing hỗn hợp là sự phối hợp hoạt động của
những thành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của thò trường
trong một thời gian ngắn. Đây chính là sự vận động linh hoạt trong việc vận dụng 4

Mỗi sản phẩm có thể được mô tả theo các đặc tính khác nhau:
- Đặc tính kỹ thuật gồm: công thức, thành phần, vật liệu, kiểu dáng, màu sắc, cỡ
khổ, vật liệu…
- Đặc tính sử dụng gồm thời gian sử dụng, tính đặc thù, độ bền, an toàn, hiệu
năng,…
- Đặc tính tâm lý: gồm vẻ đẹp, vẻ trẻ trung, sự thoải mái, sự vững chắc.
- Đặc tính kết hợp: gồm giá cả, nhãn hiệu, sự đóng gói, tên gọi, các dòch vụ…
 Nhãn hiệu:
Việc lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm có ý nghóa quan trọng bảo đảm thành
công của phát triển sản phẩm mới. Việc lựa chọn nhãn hiệu phải đảm bảo những yêu
cầu tối thiểu sau:
- Phải hàm ý về lợi ích sản phẩm.
- Phải hàm chứa ý đồ về đònh vò.
- Phải hàm ý về chất lượng.
- Tên nhãn hiệu phải dễ phát âm và dễ nhớ.
- Không trùng hoặc không tương tự với nhãn hiệu của doanh nghiệp khác.
- Hợp với phong tục tập quán của thò trường mục tiêu.
 Bao bì – sự đóng gói: Bao bì sản phẩm phải đảm bảo thực hiện đồng thời 4
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
chức năng: bảo quản và bán hàng hóa, thông tin về hàng hóa, thẩm mỹ tạo nên sự hấp
dẫn của sản phẩm với khách hàng và chức năng thương mại.
Những yếu tố của một nhãn hiệu tốt:
- Gợi mở một cái gì đó về đặc tính của sản phẩm chẳng hạn như lợi ích, giá trò sử
dụng của sản phẩm .
- Dễ phát âm, đánh vần và dễ nhớ.
- Dễ phân biệt với các nhãn hàng khác.
- Thích nghi với sản phẩm mới để có thể thêm vào dòng sản phẩm sẵn có của
doanh nghiệp.
- Đúng luật lệ để có thể đăng ký nhãn hàng với cơ quan có thẩm quyền.

khách hàng đặc biệt là ở những thò trường mà thu nhập của dân cư còn thấp. Trong việc
phát triển sản phẩm mới doanh nghiệp phải có chính sách giá thích hợp để tạo cho sản
phẩm có chỗ đứng vững chắc trên thò trường.
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
Trong chính sách giá đối với sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể theo đuổi những
mục tiêu cơ bản sau đây:
- Để tồn tại (giá cao hơn chi phí)
- Để tối đa hóa lợi nhuận trước mắt
- Để tăng thò phần
- Để thu hồi vốn nhanh
- Để dẫn đầu về chất lượng
Các mục tiêu khác: một doanh nghiệp có thể dùng giá để phục vụ cho một số mục
tiêu cụ thể hơn. Doanh nghiệp có thể đặt giá ở mức thấp để ngăn chặn cạnh tranh hay
đặt giá bằng giá của đối thủ cạnh tranh để giữ ổn đònh thò trường. Giá có thể được quyết
đònh ở mức giữ uy tín cũng như hỗ trợ các hãng buôn hay để tránh sự can thiệp của chính
phủ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể dựa vào ý muốn chủ quan của mình để đònh
giá. Bạn cần phải tuân thủ những ràng buộc nhất đònh.
 Chính sách giá hớt váng (Skimming) và giá thâm nhập thò trường (Penetration):
Khi xác đònh giá cho một sản phẩm, nhất là sản phẩm mới, doanh nghiệp cần xem
xét áp dụng chính sách giá hớt váng thò trường (skimming) hay giá thâm nhập thò trường
(penetration pricing).
* Chính sách giá hớt váng thò trường (Market – Skimming Pricing): hớt ván thò
trường liên quan đến việc đònh giá cao so với giá thò trưỡng. Chính sách này đặc biệt
thích hợp với các sản phẩm mới vì:
- Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm, giá không phải là yếu tố quan
trọng nhất.
- Thò trường sẽ được phân đònh theo thu nhập nhờ giá cao.
- Nó có thể là một yếu tố bảo vệ một khi giá cả xác đònh sai.

SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
- Xem xét kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh.
- Các kênh phân phối cần đảm bảo tăng doanh số bán của công ty và thiết lập
mối quan hệ bền vững với các trung gian.
Có ba loại kênh phân phối chính:
 Phân phối đặc quyền:
- Hạn chế số nhà phân phối trung gian.
- Nhà trung gian không bán hàng của đối thủ cạnh tranh.
- Doanh nghiệp hy vọng khách hàng có đủ kiến thức và năng động để mua sản
phẩm.
- Tăng cường ấn tượng của sản phẩm và có lãi cao.
- Chọn một đòa điểm để bán sản phẩm.
 Phân phối có chọn lọc: là phương thức trong đó số doanh nghiệp sản xuất
nhiều hơn số nhà phân phối và doanh nghiệp sản xuất không tốn nhiều chi phí để kiểm
soát các đòa điểm bán hàng .
 Phân phối rộng rãi:
Doanh nghiệp sẽ tìm nhiều đòa điểm bán hàng tạo thuận lợi cho khách hàng tìm
kiếm sản phẩm nhưng sẽ mất khả năng kiểm soát hệ thống bán hàng.
1.2.2.4 Hình thức chiêu thò:
Chính sách truyền thống và bán hàng khi một sản phẩm mới được giới thiệu trên
thò trường, mục tiêu chính của chính sách truyền thông và xúc tiến bán hàng là:
- Thông báo với khách hàng tiềm năng rằng hiện nay đã có một sản phẩm mới,
sản phẩm mới được sử dụng thế nào và những lợi ích của sản phẩm mới.
- Bán trực tiếp cần được tăng cường nhằm vào cả người phân phối và người tiêu
dùng.
- Thay vì gọi điện hay gặp gỡ từng khách hàng, doanh nghiệp có thể giới thiệu
sản phẩm mới tại hội chợ thu hút được các khách hàng có quan tâm. Các quyết đònh xúc
tiến là các quyết đònh liên quan đến việc giao tiếp và bán hàng cho những khách hàng
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 19

hàng thử và các loại tiền thưởng.
- Chính sách “đẩy”: chính sách này góp phần hỗ trợ hoạt động bán lẻ và thiện chí
của các đại lý. Các hoạt động hỗ trợ trong chính sách này có thể là đào tạo cho đội ngũ
bán hàng của các nhà đại lý bán lẻ, trình bày các điểm bán hàng và trợ cấp quảng cáo.
 Tài liệu quảng cáo: có ưu điểm:
- Chi phí thấp hơn quảng cáo và bán hàng trực tiếp.
- Đem đến cho khách hàng một nội dung quảng cáo đáng tin cậy hơn so với quảng
cáo trên các phương tiện truyền thông. Thu hút được sự chú ý của nhiều người hơn.
- Khách hàng có thể có được nhiều thông tin hơn.
- Đúng lúc hơn.
 Quan hệ đối ngoại:
Những hoạt động này được tổ chức nhằm xây dựng và phát triển một hình ảnh hay
một mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp và công chúng khách hàng, nhân viên, cơ
quan đòa phương và chính phủ. Các phương tiện truyền thông có thể sử dụng trong các
chiến dòch quảng cáo:
- Báo chí
- Vô tuyến truyền hình
- Thư trực tiếp
- Truyền thanh
- Tạp chí
- Quảng cáo ngoài trời
1.3 Ma trận SWOT:
1.3.1 Phân tích SWOT:
Phân tích SWOT là một trong những kỹ năng hữu ích nhất. Nhờ công cụ này, nhà
lãnh đạo làm công việc hiệu quả, giảm thiểu stress, cải tiến khả năng quyết đònh, tối đa
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
hóa hiệu quả cá nhân và còn nhiều hơn nữa. Phân tích SWOT (SWOT Analysis) là một
kỹ thuật phân tích rất mạnh trong việc xác đònh Điểm mạnh và Điểm yếu để từ đó tìm ra
được Cơ hội và Nguy cơ. Sử dụng trong ngữ cảnh kinh doanh, nó giúp bạn hoạch đònh

người khác dường như nhận thấy được điểm yếu mà bạn không thấy? Có phải đối thủ
của bạn đang làm tốt hơn bạn? Có phải đây là tốt nhất để đối mặt với sự thật?
1.3.3.3 Cơ hội:
- Đâu là những cơ hội tốt nhất có thể mang lại?
- Đâu là xu thế tốt mà bạn đang mong đợi?
- Những cơ hội được xem là có hiệu quả (có ích) thường được mang đến như sau:
có sự thay đổi về công nghệ và thò trường ở cả quy mô rộng và hẹp, có sự thay đổi về
chính sách của nhà nước về lónh vực mà bạn tham gia, thay đổi về cơ cấu lónh vực xã
hội, về dân số, về cách sống, những sự kiện tại đòa phương, một cách tiếp cận hiệu quả
là nhìn vào điểm mạnh và tự vấn liệu có mở ra cơ hội nào không?
Tương tự nhìn vào điểm yếu và tự vấn liệu có thể có cơ hội bằng cách loại bỏ các
điểm yếu này không.
1.3.3.4 Nguy cơ:
- Trở ngại của bạn là gì?
- Đối thủ của bạn đang làm gì?
- Có phải đang có những thay đổi đối với nghề nghiệp , hay sản phẩm, dòch vụ của
bạn?
- Thay đổi công nghệ có ảnh hưởng đến vò trí của bạn hay không?
- Bạn đang có nợ xấu hay vấn đề đối với vốn lưu động hay không?
SVTH: Nguyễn Ngọc Hạnh Trang 23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Ngơ Ngọc Cương
- Liệu có điểm yếu nào của bạn đe dọa nghiêm trọng đến công việc của bạn
không?
- Tiến hành phân tích này đồng nghóa với việc chỉ ra được những gì cần thiết để
làm và đặt các vấn đề vào tầm ngắm.
- Điểm mạnh và điểm yếu thường là xuất phát từ nội tại trong tổ chức của bạn. Cơ
hội và nguy cơ thường liên quan đến những nhân tố bên ngoài. Vì thế có thể coi SWOT
chính là một công cụ quan trọng do có tầm bao quát lớn đối với một tổ chức
Bạn có thể áp dụng SWOT cho chính đối thủ cạnh tranh để từ đó tìm ra phương
thức hiệu quả trong cạnh tranh. Biết đòch, biết ta trăm trận trăm thắng mà.

Trích đoạn CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CƠNG TY TNHH TM – DV VIỄN THƠNG ÂN BẢO TỔNG GIÁM ĐỐC Quy trình hoạt động kinh doanh: Sản phẩm và khách hàng Phương thức xác định giá:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status