MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNO&PTNT VIỆT NAM,
Ngân hang Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam
NHNO&PTNT THANH
XUÂN
Ngân hang Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh Thanh Xuân
TCKT Tổ chức kinh tế
UTĐT Ủy thác đầu tư
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ1: BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH NHNO & PTNT THANH XUÂN
Sơ đồ 2: Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2005-2008
BẢNG 1: KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHNO&PTNT CHI NHÁNH THANH
XUÂN năm 2005-2008
Bảng 2: Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2005-2008
BẢNG 3: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn từ năm 2005-2008
BẢNG 4: Cơ cấu nguồn vốn có kỳ hạn giai đoạn từ năm 2005 - 2008
BẢNG 5: Cơ cấu nguồn vốn theo chủ thể
BẢNG 6: Tiền gửi tiết kiệm dân cư tại NHNo&PTNT Thanh Xuân
Bảng 7: Lãi suất huy động VND từ dân cư của một số ngân hàng trên địa bàn Hà Nội năm
2007
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương
mại, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã không ngừng phát triển và
ngày càng khẳng định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Bằng lượng
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Tìm hiểu chung về ngân hàng thương mại
1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Vào năm 1930, Đan Mạch ra luật ngân hàng trong đó có định nghĩa: “Những nhà
băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ
chuyển ngân.”
[1]
Đến năm 1941, các nhà kinh tế Pháp lại khẳng định rằng: “Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác
hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín
dụng hay dịch vụ tài chính”.
[1]
Điều 20 trong Luật các tổ chức tín dụng( Số 07/1997/QHX) của Việt Nam quy
định: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số
tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Mỗi khái niệm có khác nhau nhưng đều khẳng định rằng ngân hàng thương mại là
một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Nhiệm vụ thường
xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó
cộng thêm một khoản tiền lãi, sử dụng số tiền này cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán cùng một số nghiệp vụ khác.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố
chính sách đã đề ra.
• Thứ ba, ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hoà vốn giữa các ngành, các
vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh, các vùng trong
một nước
Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, ngân hàng
thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng
có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn.
• Thứ tư, ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn) cho các tổ
chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh và hoạt động ngân hàng
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các chủ thể kinh
tế theo hương tối ưu, nhất là đảm bảo các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” qua một hệ thống
đồng bộ về vốn.
• Thứ năm, ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các nước, thúc đẩy phát triển ngoại
thương, công nghiệp và các ngành có liên quan.
Cùng với xu hướng hội nhập, khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, các
quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng giao lưu buôn bán hợp tác tương trợ lẫn nhau.
Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại tê, quan hệ tín dụng với ngân hàng
nước ngoài, hệ thống ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù
hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Tóm lại, ngân hàng thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế hiện nay.
Ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn trong quá trình hình thành, phát triển, chuyển dịch cơ cấu
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, làm cho nền kinh tế tăng trưởng
mạnh, từ đó tạo động lực thúc đẩy quy mô tín dụng ngân hàng, giảm bớt rủi ro xảy ra. Điều
này cần được nhận thức và quán triệt xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách về
vốn, phương thức và cơ chế hoạt động của các ngân hàng thương mại.
3.1.4 Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh
doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường
để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối
tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
3.2 Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích
khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ tài
sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
3.2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích
nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán
nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng Nhà nước đề ra.
3.2.2 Nghiệp vụ cho vay:
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài sản có
của NHTM. Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ này mà ngân hàng cung cấp các khoản tín
dụng ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
3.2.3 Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được từ dân
cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như: hùn
vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các
khoản đầu tư đó.
3.3 Nghiệp vụ cung ứng dịch vụ.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản được nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các NHTM
đảm bảo an ninh cho số tiền đó. Khi đến hạn ngân hàng phải trả gốc và lãi cho chủ tài
khoản đó. Ngân hàng sẵn sàng trả lãi cho số dư tiền gửi của khách hàng mà không hề lấy
chi phí đảm bảo vì mục đích của ngân hàng không phải là thu tiền dịch vụ gửi giữ mà là
thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình.
• Về phía khách hàng
Việc mở tài khoản tiền gửi sẽ làm phát sinh tư cách chủ tài khoản, số dư trên tài khoản
thực chất là khoản có phải đòi của khách hàng đối với khách hàng, đồng thời là khoản nợ
phải trả của ngân hàng đối với khách hàng. Nếu khách hàng chấp nhận tài khoản tiền gửi ở
ngân hàng, điều đó có nghĩa là với tư cách chủ nợ của ngân hàng, khách hàng có quyền
yêu cầu ngân hàng hoàn trả toàn bộ số tiền đã gửi kèm theo lãi đã thỏa thuận.
Như vậy, trong nghiệp vụ huy động vốn khách hàng và ngân hàng luôn có mối quan hệ
mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Quyền lợi của đối tượng này chính là nghĩa vụ phải
thực hiện của đối tượng kia.
2. Các hình thức huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường:
Sau khi đã sử dụng hết lượng vốn tự có nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu giao
dịch, thanh toán của khách hàng thì các NHTM phải tiến hành huy động vốn từ bên ngoài.
Thông thường nguồn vốn huy động này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong kết cấu
nguồn vốn của ngân hàng, và cũng đảm bảo cho ngân hàng có thể hoạt động một cách bình
thường. Quá trình huy động vốn của NHTM chủ yếu dưới các hình thức sau:
2.1. Huy động vốn bằng tiền gửi không hỳ hạn.
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà chủ sở hữu của khoản tiền này có thể rút tiền
hoặc trả cho đối tác kinh doanh của họ bằng hình thức phát séc. Ở những nước có hệ thống
Ngân hàng phát triển hoạt động dựa trên công nghệ cao, thì việc rút tiền từ tài khoản này
phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc thực hiện qua các máy rút tiền tự động ATM
được lắp đặt rộng rãi.
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là thanh
toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách
thường xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố
rất quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu. Do đó, loại
tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người
thuộc rất lớn vào đặc tính về dân số – xã hội, tình hình kinh tế xã hội, đặc biệt là thu nhập
của dân cư, do đó các ngân hàng áp dụng mọi biện pháp để nâng cao uy tín và danh tiếng
của ngân hàng mình nhằm lôi kéo nhiều khách hàng gửi tiền tiết kiệm nhất.
2.3. Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng như vị trí đặc biệt quan trọng
trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại không chỉ về mặt quy mô đơn
thuần mà còn mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các danh mục trong tài sản nợ.
Vốn vay của ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu vẫn
bao gồm những nguồn cơ bản sau:
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
2.3.1. Vay từ ngân hàng Trung Ương.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài chính khác
trong nước mình được phép vay tiền từ NHTƯ trong những trường hợp cấp thiết như: thiếu
hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định giá trị đồng bản tệ cũng như ngăn
chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn, NHTƯ thường không muốn cho các
NHTM vay quá nhiều, khi đó nó có thể nâng mức lãi suất chiết khấu, lãi suất phạt lên cao
hoặc đưa ra những điều kiện vay mà hiếm NHTM nào có thể chịu được.
2.3.2. Vay từ các tổ chức tín dụng khác.
Cũng giống như trên, trong quá trình hoạt động của mình có những lúc NHTM phải
đối đầu với những tình huống khó khăn về tài chính như: thiếu hụt dự trữ bắt buộc, mất
khả năng thanh toán những khoản tiền lớn và để tránh nguy cơ mất khách hàng, bảo đảm
uy tín cho Ngân hàng thì giải pháp tốt nhất là đi vay. NHTM có thể đi vay từ nhiều nguồn
khác nhau và một trong số đó là đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên
ngân hàng hay thị trường tiền tệ trong và ngoài nước.
Việc vay mượn vốn giữa các NHTM, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng khác
được diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nó hình thành
nên một loại tài sản nợ khá thường xuyên trong bảng cân đối tài sản. Mặt khác nó còn đảm
bảo cho ngân hàng có những mối quan hệ tốt với các ngân hàng khác trong cùng hệ thống,
tỷ giá, đầu tư…trong đó quy định về việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng, tỷ
lệ huy động vốn so với vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu… nhằm đảm bảo an toàn, sự
bình đẳng cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng
dịch vụ, giảm chi phí, tăng khả năng tự bảo vệ trước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội
nhập.
3.1.2 Yếu tố chính trị
Tình hình chính trị ổn định hay bất ổn, chính sách ngoại giao mở rộng hay thắt chặt
và các quan hệ hợp tác song phương, đa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
của ngân hàng thương mại trong đó có công tác huy động vốn. Chính trị ổn định, chính
sách ngoại giao mở rộng kích thích đầu tư nước ngoài, tăng cường quan hệ hợp tác với các
nước có nền kinh tế phát triển tạo cơ hội thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính lớn như
IMF, WB, ADB, ngân hàng đầu tư Bắc Âu, quỹ OPEC… từ đó đem lại cho ngân hàng
nhiều thời cơ và thách thức mới
3.1.3 Yếu tố kinh tế
Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định
nên gửi tiền vào ngân hàng, tích trữ vàng, ngoại hối hay đầu tư vào tài sản khác. Trong
điều kiện kinh tế bất ổn, giá cả và sức mua của tiền tệ biến động phức tạp, lạm phát xảy ra,
người dân có xu hướng tích trữ vàng, mua các ngoại tệ hoặc các dạng tài sản khác như
buôn bán bất động sản, các tài sản quý giá…nhằm mục đích an toàn tài sản. Ngược lại, nền
kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân có cái nhìn khả quan hơn
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
và có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng làm cho nguồn vốn trong ngân hàng thương mại
được tăng lên.
3.1.4 Yếu tố văn hoá - Xã hội
Các yếu tố thói quen, tập quán, tâm lý cũng ảnh hưởng phần nào đến hoạt động huy
động vốn. Chính vì vậy, các ngân hàng cần quan tâm đến các hoạt động marketing, quảng
cáo, tuyên truyền giúp người dân hiểu đúng và hiểu sâu hơn nữa về vai trò và chức năng
của ngân hàng.
tiền huy động này chịu ảnh hưởng nhiều bởi kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng cũng như
khả năng thanh toán và cho vay vì lượng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế luôn
luân chuyển và biến động theo nhu cầu thanh toán.
Như vậy, để thực hiện cơ chế lãi suất huy động hợp lý tức là vừa thu hút được vốn,
vừa đảm bảo sức cạnh tranh thì các NHTM phải thường xuyên theo dõi thống kê tình hình
biến động lãi suất trên thị trường và ngay trên địa bàn hoạt động để có các quyết định điều
chỉnh kịp thời phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trường và đặc điểm riêng của mỗi
ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần quan tâm đến lãi suất kho bạc, bởi vì trên
thực tế kho bạc thường phát hành tín phiếu trả lãi cao hơn lãi suất huy động của các ngân
hàng thương mại.
3.2.3. Các hình thức huy động vốn.
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có người vì mục
đích bảo đảm an toàn, có người gửi chủ yếu để lấy lãi tiêu xài hàng tháng, có người gửi
tiền vào ngân hàng để đồng vốn ngày càng được sinh sôi nảy nở Vì thế họ có những hình
thức gửi tiền cũng như lĩnh lãi khác nhau có thể là 3, 6, 9 tháng hoặc lâu hơn. Do vậy, để
có thể huy động được nhiều vốn trong dân cư, các ngân hàng thương mại phải đưa ra các
hình thức huy động đa dạng. Khi có nhiều hình thức huy động vốn sẽ tạo nhiều cơ hội cho
người gửi lựa chọn, đáp ứng những yêu cầu khắt khe, thoả mãn được mong muốn của họ.
Mỗi khách hàng đều tìm cho mình cách phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng, bảo đảm có
hiệu quả nhất với nguồn vốn của mình. Điều này đồng nghĩa với số lượng người gửi tăng
lên và số tiền được gửi vào ngân hàng cũng tăng theo tỷ lệ thuận, kéo theo sự giảm xuống
của chi phí huy động vốn.
Tuy nhiên, việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn sẽ làm cho công việc quản
lý cũng như chi phí quản lý huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên, đòi hỏi NHTM phải
tìm cho mình được những mô hình quản lý vốn hợp lý, tiết kiệm chi phí huy động nhưng
vẫn đảm bảo nguyên tắc huy động vốn chung là: nguồn vốn có tính ổn định càng cao thì lãi
suất huy động cũng phải cao.
3.3. Các dịch vụ cung ứng.
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân
hàng có các dịch vụ hạn chế. Trong điều kiện ngân hàng có các dịch vụ ngân hàng qua thư
THANH XUÂN
I. Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Thanh
Xuân
1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
Ngày 01/04/1996, xuất phát từ nhu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động của NHNo &
PTNT Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt
Nam ký quyết định số 18/NHN-02 thành lập chi nhỏnh NHNo & PTNT quận Thanh xuõn
trực thuộc NHNo & PTNT Hà Nội, địa chỉ giao dịch 106 Nguyễn Trói - Quận Thanh
Xuõn-Hà Nội.
Ngày 03/07/1996, ngân hàng khai trương và chính thức đi vào hoạt động với tư
cách là một ngân hàng cấp 4. Sau một thời gian hoạt động, ngày 01/01/1999 NHNo &
PTNT Thanh Xuân được nâng cấp lên thành Ngân hàng cấp 3, loại 2. Một năm sau, NHNo
& PTNT quận Thanh Xuân được nâng lên thành ngân hàng cấp 2, loại 4, trực thuộc NHNo
& PTNT Hà Nội .
Ngày 27/11/2007, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Thanh Xuân được điều chỉnh
theo quyết định số 1292/NHNo-HĐQT-TCCB của Chủ tịch HĐQT từ chi nhánh NHNo &
PTNT Thanh Xuân trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội
(chi nhánh cấp 2) thành chi nhánh NHNo & PTNT Thanh Xuân trực thuộc Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động từ ngày
01/04/2008.
2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn -
chi nhánh Thanh Xuân
2.1. Tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Thanh
Xuân
Sơ đồ1: Bộ mỏy tổ chức của chi nhỏnh NHNo & PTNT Thanh Xuõn
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
2.2. Chức năng của các bộ phận
Ban giám đốc
NGÂN QUỸ
CÁC PHềNG GIAO DỊCH TRỰC THUỘC
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao dịch.
Kế toán nội bộ
+ Thực hiện cụng tỏc kế toỏn và quản lý chi tiờu nội bộ như chi trả lương cho cán bộ
công nhân viên
+ Bỏo cỏo tổng hợp thu chi hàng thỏng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc.
Kế toỏn giao dịch
+ Xử lý cỏc giao dịch như: nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cỏc cỏ nhõn, cỏc tổ
chức kinh tế, xó hội.
+ Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toỏn cho khỏch hàng.
+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu, uỷ
nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi
+ Tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ
kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động và sử dụng vốn.
+ Tổ chức thanh toỏn bự trừ và thanh toỏn liờn hàng.
+ Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi bỏo cỏo lờn ngõn hàng cấp
trờn.
- Phòng hành chính - nhân sự
+ Xây dựng và triển khai thực hiện các nội quy, quy chế của ngân hàng.
+ Thực hiện các vấn đề nhân sự như chi trả lương, BHXH, nghỉ phép
+ Tham mưu cho Ban điều hành trong việc xõy dựng và thực hiện kế hoạch tuyển
dụng đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nguồn nhõn lực toàn hệ thống.
+ Tổ chức thực hiện các công tác hành chính quản trị phục vụ cho hoạt động nghiệp
vụ của Ngân hàng.
+ Trực tiếp thực hiện cụng tỏc quản lý hành chớnh văn phũng theo đỳng quy định.
+ Thực hiện cụng tỏc hậu cần và chịu trỏch nhiệm đảm bảo an ninh cho hoạt động của chi
nhỏnh, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn lao động cho cỏn bộ nhõn viờn.
đoạn 2005-2008, công tác huy động vốn nhỡn chung tăng trưởng qua các năm, năm 2008
tổng nguồn vốn đạt tăng trưởng mạnh đạt tới 930.503 triệu đồng, tăng 541.654 triệu đồng
so năm 2007, đạt 172% kế hoạch TW giao.
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTN Thanh Xuân giai đoạn 2005-2008
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhỏnh Thanh Xuõn năm
2005-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiờu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1. Tổng thu nhập từ 31.723 37.947 72.256 83.670
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
HĐKD
Thu tớn dụng 30.335 35.293 68.948 75.593
Thu dịch vụ 284 802 803 6.910
Thu khỏc (thu XLRR) 672 1.852 2.505 1.167
2. Chi phí HĐKD 30.256 32.966 64.875 87.940
Chi trả lói 22.212 26.372 25.327 62.277
Chi ngoài lói 8.044 6.594 39.548 25.663
3. Chờnh lệch thu chi 1.467 4.981 7.381 - 1.401
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm 2005-2008
Chênh lệch thu chi của chi nhỏnh từ 2005-2008 tăng qua các năm. Năm 2005 là
1.467 triệu đồng, đạt tới 7.382 triệu đồng năm 2007. Từ năm 2007, chi nhánh phấn đấu
tăng thu dịch vụ từ thanh toán quốc tế và bảo lãnh (tăng 50% so với năm 2006), tăng các
khoản thu phí và dịch vụ, luôn đảm bảo lấy thu bù chi và có lói. Tuy nhiờn năm 2008, tổng
thu và tổng chi đều tăng, nhưng thu lớn hơn chi dẫn đến chênh lệch thu chi bị âm do sự
chuyển giao từ chi nhánh cấp II lên chi nhánh cấp I. Một mặt, điều này phản ánh chi nhánh
chuyển tiền và thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng và thu phí cao tại chi nhánh, ngoài ra
các nghiệp vụ khác như dịch vụ kều hối, bảo lónh, kinh doanh ngoại tệ… đều có khả năng
ngày càng mở rộng.
Chi nhánh đó thu hút được một số khách hàng tham gia nhập khẩu về giao dịch
như: Công ty CP điện tử chuyên dụng HANEL, công ty TNHH Thanh Phương, công ty
TM&XD Vĩnh Phát…Và một số khách hàng xuất khẩu: Công ty TNHH Tín Viên, công ty
TNHH Tùng Thúy…đó một phần cõn đối được nhu cầu ngoại tệ tại chi nhỏnh.
II. Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi
nhánh Thanh Xuân
1. Cơ cấu nguồn vốn
1.1. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền
Là một ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông thôn nên nguồn vốn chủ
yếu là vốn nội tệ. Vốn nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
là nguồn vốn chủ đạo nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng sử dụng vốn đầu tư trong nước
cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp quốc doanh và mở rộng sang cho
vay cả cỏc doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Để thực hiện mục tiêu trên, trong những năm
qua ngân hàng đó khụng ngừng đẩy mạnh các hoạt động về huy động, quản lý và sử dụng
vốn và đó đạt được kết quả khả quan: tổng nguồn nói chung và vốn nội tệ nói riêng liên tục
tăng trưởng nhanh chóng qua các năm.
Bảng 2: Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2005-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiờu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng nguồn vốn 329.871 409.382 388.849 930.503
Vốn VND 243.932 303.784 288.107 849.101
Vốn ngoại tệ 85.939 105.589 100.742 81.399
Sơ đồ 2: Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2005-2008
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
22
phục vụ cho nhu cầu tín dụng ngoại tệ và tạo thuận lợi cho ngân hàng.
1.2. Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn
Bảng 3: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn từ năm 2005-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
ST
(Trđ)
TT
(%)
ST
(Trđ)
TT
(%)
ST
(Trđ)
TT
(%)
ST
(Trđ)
TT
(%)
Tổng nguồn vốn 488.894 100 409.328 100 388.858 100 930.503 100
Nguồn khụng kỳ
hạn
39.528 8 39.521 10 47.578 12 128.089 14
Nguồn cú kỳ hạn 449.380 92 369.861 90 341.271 88 802.414 86
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2005-2008)
Cũng như các chi nhánh của NHTM đặc biệt là NHNo&PTNT VN là thu hút ngày
càng nhiều nguồn vốn có kỳ hạn bởi đây là nguồn vốn ổn định và do đó ngân hàng có thể
(%)
ST
(Trđ)
TT
(%)
Nguồn cú kỳ hạn 290.342 100 369.861 100 341.271 100 802.414 100
Dưới 12 tháng 76.729 26 98.921 27 57.096 17 82.494 10
Trờn 12 thỏng 213.613 74 270.940 73 284.175 83 719.920 90
(Nguồn báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2005-2008)
Nguồn tiền có kỳ hạn của ngân hàng bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức và cá
nhân, tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư và các công cụ nợ (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
tiền gửi). Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mặc dù
việc thu hút nguồn vốn có kỳ hạn đũi hỏi chi phớ rất lớn nhưng nguồn vốn này giúp cho
ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh, kế hoạch hóa được nguồn vốn và sử dụng vốn.
Nhỡn chung, nguồn vốn cú kỳ hạn tăng đều qua các năm và tăng mạnh nhất vào
năm 2008 mà kết quả này có được chủ yếu là do sự tăng lên của nguồn trung và dài hạn
(trên 12 tháng), chiếm 90% trong tổng vốn có kỳ hạn. Để duy trỡ sự tăng trưởng này, ngân
hàng cần tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm của đối tượng khách hàng để phát triển
các sản phẩm và các phương thức huy động vốn phù hợp và hiệu quả.
1.3. Cơ cấu huy động vốn theo chủ thể
Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn theo chủ thể
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiờu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng nguồn
vốn
329.871 409.382 388.849 422.203
Dân cư 292.385 367.636 338.463 327.181
Tổ chức kinh tế 37.452 41.474 50.264 564.774