Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa tại đồng bằng sông cửu long - Pdf 28



iTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ VŨ SƠN ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG
SẢN XUẤT LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã ngành: 62 62 01 15
2015
ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ VŨ SƠN

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
2.1. TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 7
2.2. TÁC ĐỘNG CỦA TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA 7
2.3. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT
TRONG SẢN XUẤT LÚA 9
2.4. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRONG SẢN XUẤT LÚA 10
2.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐẾN HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG TBKT
TRONG SẢN XUẤT LÚA 13
2.6. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU, CHUYỂN GIAO
VÀ ỨNG DỤNG TBKT TRONG NÔNG NGHIỆP 20
2.7. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 26

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 26
3.2. MỘT SỐ MÔ HÌNH ỨNG DỤNG TBKT TRONG SẢN XUẤT LÚA 33
3.3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ CHỌN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.4. TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 39
3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

CHƯƠNG 4: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 56
4.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐBSCL 56
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 56
4.1.2. Đất đai 56


5.2.3. Hiệu quả sản xuất theo mức độ ứng dụng mô hình TBKT 79
5.2.4. Hiệu quả sản xuất lúa giữa các vùng sinh thái 80
5.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ƯDTBKT VÀO SẢN XUẤT LÚA CỦA
NÔNG HỘ 82
5.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ƯDTBKT vào sản xuất lúa 85
5.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng TBKT theo vùng sinh thái 85
5.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ƯDTBKT vào sản xuất lúa 87 v

5.3.4. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng TBKT 88
5.4. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ VỀ KỸ THUẬT, HIỆU QUẢ PHÂN PHỐI NGUỒN
LỰC, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHI PHÍ VÀ HIỆU QUẢ THEO QUY MÔ SẢN XUẤT
90
5.4.1. Đánh giá hiệu quả kỹ thuật của hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL. 90
5.4.2. So sánh HQKT giữa nông hộ có ƯDTBKT và không ƯDTBKT 91
5.4.3. So sánh hiệu quả sản xuất của nông hộ theo từng vùng sinh thái 92
5.5. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG
HỘ 93
5.6. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ƯDTBKT VÀO SẢN XUẤT LÚA CỦA
NÔNG HỘ 95
5.6.1 Giải pháp nâng cao khả năng ƯDTBKT vào sản xuất lúa 95
5.6.2 Nâng cao HQSX từ đó nâng cao HQ ƯDTBKT vào sản xuất lúa 97
5.6.3 Sử dụng hợp lý các nguồn lực 100
5.7 Quy trình đánh giá ƯDTBKT 100

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
6.1. KẾT LUẬN 102
6.2. KIẾN NGHỊ 103

Bảng 5.6: Hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ vùng ĐBSCL 78
Bảng 5.7: Hiệu quả sản xuất lúa theo mức độ ứng dụng TBKT 80
Bảng 5.8: Hiệu quả sản xuất lúa theo vùng sinh thái 81
Bảng 5.9: Kết quả phân tích hồi quy bằng mô hình hồi qui logit 83
Bảng 5.10: Phân tích Binary logit theo vùng sinh thái 85
Bảng 5.11: Độ tin cậy của các biến quan sát 88
Bảng 5.12: Ma trận nhân tố sau khi xoay (Rotated Component Matrix) 89
Bảng 5.13: Hiệu quả kỹ thuật của hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL 90
Bảng 5.14: Hiệu quả kỹ thuật giữa hộ có ƯDTBKT và ƯDTBKT 91
Bảng 5.15: Hiệu quả kỹ thuật theo vùng sinh thái 92
Bảng 5.16: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ 93
Bảng 5.17: Lượng yếu tố đầu vào bình quân tối ưu trên cơ sở tối thiểu hoá chi phí sản
xuất và lượng đầu vào bình quân thực tế 99 vii

DANH MỤC HÌNH
Trang

Hình 3.1: Sơ đồ mô hình nghiên cứu theo hệ thống canh tác lúa 29
Hình 3.2: Tiến trình nghiên cứu 39
Hình 3.3: Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối 48
Hình 3.4: Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả đầu ra 49
Hình 4.1: Vị trí địa lý các tỉnh thuộc ĐBSCL 56
Hình 5.1: Tình hình tham gia tập huấn của nông hộ có ƯDTBKT 76
Hình 5.2: Quy trình đánh giá ƯDTBKT 101 1

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với thế mạnh về sản xuất lúa, thời
gian qua đã có nhiều đóng góp quan trọng cho an ninh lương thực quốc gia và
xuất khẩu gạo của cả nước. Nổi bật là sản lượng lúa tăng nhanh, đạt qui mô sản
xuất lúa hàng hóa lớn, đóng góp trên 50% sản lượng lúa, 90 - 95% lượng gạo xuất
khẩu
1
. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất mà vùng đang phải đối mặt là tình trạng biến
đổi khí hậu toàn cầu làm cho mực nước biển dâng cao gây ngập úng sâu và lâu
hơn, nước mặn xâm nhập nhiều. Mặt khác, do thâm canh tăng vụ nông dân sử
dụng quá nhiều phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật nên sâu bệnh và ô nhiễm
môi trường cũng đang tạo ra áp lực lớn cho hoạt động sản xuất. Do đó, ngành
nông nghiệp ĐBSCL đã sớm tiếp cận và đang triển khai các tiến bộ kỹ thuật
(TBKT) trong nông nghiệp nhằm giúp nông hộ vùng ĐBSCL giải quyết khó khăn,
đảm bảo phát triển bền vững. Nhiều chương trình hỗ trợ nông dân tiếp cận TBKT
vào sản xuất lúa ứng dụng các mô hình như quản lý dịch hại tổng hợp (IPM),
chương trình nông dân tham gia nghiên cứu (FPR), chương trình 3 giảm 3 tăng,
nhận chuyển giao kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) “tưới tiết
kiệm nước” và gần đây nhất là chương trình 1 phải 5 giảm đã và đang được triển
khai thực hiện.
Việc áp dụng các mô hình trên vào việc canh tác lúa không những giúp bà

và làm tăng thu nhập trong khoảng 29% theo Huỳnh Thanh Liêm (2013). Ngoài
ra, việc ƯDTBKT trong sản xuất lúa có thể làm giảm chi phí và tăng thu nhập
theo Nguyễn Quốc Nghi (2011).
Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng, một số địa phương
thì ƯDTBKT mang lại hiệu quả kinh tế, nhưng các địa phương khác lại thất bại.
Điều đó, cho thấy mức độ ƯDTBKT của các hộ là khác nhau. Bên cạnh đó, nguồn
lực của các nông hộ khác nhau cũng có thể dẫn đến những khác biệt này. Vì vậy,
vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải xem xét những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc
ƯDTBKT và hiệu quả của việc ƯDTBKT vào sản xuất lúa của nông hộ. Từ đó,
đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản
xuất lúa của nông hộ trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một vấn đề khác nữa
là trong thời gian qua nông dân có nhiều cách tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật
như qua phương tiện thông tin đại chúng, từ cơ quan khuyến nông, từ các công ty
kinh doanh vật tư nông nghiệp, … và công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật bằng
nhiều phương pháp khác nhau như chuyên mục khuyến nông, báo, đài; tập huấn
kỹ thuật; trình diễn thực nghiệm; tham quan hội thảo, … với mỗi cách tiếp cận,
với mỗi cách chuyển giao có ưu khuyết điểm riêng. Do đó, mục tiêu của Luận án
“Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong sản xuất lúa tại đồng bằng sông Cửu Long” nhằm đánh giá hiện trạng
ƯDTBKT vào sản xuất lúa của nông hộ ĐBSCL, chủ yếu tập trung 3 vùng sinh
thái: Vùng Đồng Tháp Mười: tỉnh Đồng Tháp, Vùng Tứ giác Long Xuyên: tỉnh
An Giang, tỉnh Kiên Giang, Vùng Bán đảo Cà Mau: tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu
Giang; đồng thời đề xuất các giải pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông hộ
sản xuất hiệu quả hơn trong thời gian tới, góp phần tăng năng suất, nâng cao hiệu
quả cho hộ trồng lúa trong vùng ĐBSCL.
1.5.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, tiến bộ kỹ thuật được thể hiện dưới các dạng chủ
yếu như: thay đổi quy trình, kỹ thuật sản xuất, thay đổi các nguồn lực đầu vào
hoặc kết hợp các mô hình trong quá trình sản xuất. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế
cho rằng, tiến bộ kỹ thuật là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến
thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng vật chất
nhất định. Còn đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sau cho nâng cao
được năng lực sản xuất để có thể làm ra nhiều sản phẩm hơn với số lượng đầu vào
4

như cũ hoặc làm ra một lượng sản phẩm như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn.
Nhiều đổi mới công nghệ trong nông nghiệp còn nhằm để tiết kiệm lao động, tiết
kiệm đất đai theo Schultz (1953); Griliches, (1958). Phần lớn những tiến bộ kỹ
thuật ứng dụng vào sản xuất đều tạo ra khả năng đạt được mục tiêu kinh tế do xã
hội đặt ra như năng suất, đồng thời nó cũng tạo ra những hiệu quả xã hội khác như
cải thiện điều kiện sống, cải tạo môi trường sinh thái. Trong phạm vi của đề tài,
tiến bộ kỹ thuật được thể hiện dưới các dạng chủ yếu như: ứng dụng giống mới,
thay đổi quy trình, kỹ thuật sản xuất, thay đổi các nguồn lực đầu vào, hoặc kết hợp
các mô hình trong quá trình sản xuất. Phần lớn những tiến bộ kỹ thuật ứng dụng
vào sản xuất đều tạo ra khả năng đạt được mục tiêu kinh tế do xã hội đặt ra như
năng suất, đồng thời nó cũng tạo ra những hiệu quả xã hội khác như cải thiện điều
kiện sống, cải tạo môi trường sinh thái. Nội dung của nghiên cứu này chủ yếu tập
trung phân tích tác động của tiến bộ kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất của các mô hình
sản xuất có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, bao gồm: sạ hàng, IPM, 3 giảm 3 tăng, 1
phải 5 giảm.
Về mặt lý thuyết, có nhiều cách tiếp cận để đánh giá hiệu quả ứng dụng của
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Nếu tiếp cận theo phương pháp đánh giá “trước

vùng sinh thái khác nhau: Vùng Đồng Tháp Mười (tỉnh Đồng Tháp); vùng Tứ
giác Long Xuyên (tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang); vùng Bán đảo Cà Mau (tỉnh
Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang). Những địa bàn này có những đặc điểm riêng về điều
kiện địa lý và thổ nhưỡng cũng như các yếu tố về tập quán canh tác, sản xuất cũng
khác nhau. Chính vì thế, các địa bàn nghiên cứu đã được chọn lựa có khả năng
mang tính đại diện cao cho nghiên cứu.
1.5.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là nông hộ sản xuất lúa ở khu vực
ĐBSCL. Trong đó, hai đối tượng được lựa chọn là: nông hộ sản xuất lúa theo
phương thức sản xuất truyền thống và nông hộ sản xuất lúa có ƯDTBKT (bao
gồm ứng dụng một phần trong các mô hình hay ít nhất một mô hình tiến bộ kỹ
thuật).
1.5.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu
Các thông tin về ƯDTBKT, phương pháp canh tác của đối tượng nghiên
cứu và các thông tin về chi phí, năng suất, doanh thu,… được thu thập trong giai
đoạn 2013 - 2014. Bên cạnh đó, trong quá trình phỏng vấn, có nhiều hộ không sản
xuất lúa ở vụ Thu Đông do thời tiết không thuận lợi. Vì thế, các thông tin về chi
phí, năng suất trong vụ này không thu thập được. Do đó, Luận án chỉ tập trung
phân tích các thông tin về hiệu quả sản xuất của hộ sản xuất ở vùng ĐBSCL ở hai
vụ mùa: Đông Xuân và Hè Thu của giai đoạn sản xuất 2013 - 2014.
1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Sản xuất lúa là vấn đề quan trọng của Việt Nam theo cả hai mặt tiêu thụ và
phát triển kinh tế, đặc biệt là vấn đề bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Do đó,
sản lượng, hiệu quả kinh tế và tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật có vai trò
rất quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của
người dân cũng như đất nước. Những hiểu biết sâu hơn về tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong canh tác lúa sẽ là vấn đề rất được quan tâm, những thông tin thu thập
được như: đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm nông hộ, thói quen canh tác của
nông dân, những yếu tố canh tác và đặc tính vùng sinh thái trong canh tác lúa,
điều kiện về giao thông, thủy lợi, điện sẽ giúp lập ra những kế hoạch và chính 7

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, các tác giả như Schultz (1953), Grilleches,
(1958) đã từng nghiên cứu về sự đóng góp của công tác khuyến nông vào sự tăng
trưởng nông nghiệp. Cho đến nay, có hàng trăm công trình nghiên cứu ở các mức
độ khác nhau về đóng góp của tiến bộ kỹ thuật đối với sự phát triển của nông
nghiệp và nông thôn. Phát triển nông nghiệp tác động đến cả kinh tế - xã hội và
môi trường. Vì thế, khi đánh giá sự đóng góp của tiến bộ kỹ thuật, chúng ta
thường mong muốn xem xét tác động của nó đến cả ba bộ phận trên. Tuy nhiên,
hầu hết các nghiên cứu được tiến hành phần lớn tập trung vào đánh giá tác động
của tiến bộ kỹ thuật về mặt kinh tế. Trên thế giới các nghiên cứu về tác động của
tiến bộ kỹ thuật rất khác nhau. Theo không gian, phạm vi tác động của tiến bộ kỹ
thuật được xem xét ở các cấp độ như đồng ruộng, từng nông trại, từng cộng đồng,
từng vùng và cả nước. Theo đối tượng ứng dụng của tiến bộ kỹ thuật, tác động
của nó được xem xét ở phạm vi từng sản phẩm riêng biệt (lúa, sản phẩm thịt) hay
nhóm sản phẩm như lương thực, thực phẩm hay cả nền nông nghiệp. Trong phạm
vi từng sản phẩm, tiến bộ kỹ thuật được thể hiện dưới các dạng chủ yếu như: áp
dụng giống mới, thay đổi qui trình, kỹ thuật sản xuất, thay đối các nguồn lực đầu
vào, hoặc kết hợp các mô hình trong quá trình sản xuất. Các nhà kinh tế cho rằng
tiến bộ kỹ thuật là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến thức về
mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng vật chất nhất định.
Còn đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sao cho nâng cao được năng

với mô hình truyền thống, cụ thể là thu nhập tăng 13,5% và lợi nhuận tăng 42%.
Trong đó, trình độ học vấn, giống, phân bón, lao động, chuẩn bị đất, thủy lợi là
các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên đơn vị canh tác lúa có ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật.
Nguyễn Tuấn Sơn (2008) tiến hành đánh giá tác động về kinh tế - xã hội của
chương trình huấn luyện IPM cho hộ nông dân trồng lúa ở tỉnh Thái Bình. Kết
quả nghiên cứu cho thấy năng suất và thu nhập từ trồng lúa của các hộ tham gia
tập huấn IPM cao hơn nhiều so với các hộ chưa tham gia chương trình IPM ở cả
hai huyện điều tra và chi phí sản xuất lúa của các hộ nông dân IPM thấp hơn
nhiều so với các hộ chưa tham gia chương trình IPM; đặc biệt chi phí thuốc trừ
sâu, giống và lao động thuê đã giảm một cách đáng kể. Đồng thời, do tác động
của chương trình tập huấn nên số lần phun thuốc sâu cũng như thời gian mỗi lần
phun thuốc của nhóm nông dân IPM thấp hơn nhiều so với nhóm nông dân chưa
được tập huấn. Nông dân áp dụng mô hình IPM dễ dàng nhận biết ít nhất 5 loại
thiên địch và họ cũng chưa phun thuốc ngay khi quan sát thấy sâu bệnh xuất hiện
trên ruộng lúa mà còn tiếp tục theo dõi rồi mới quyết định có nên phun thuốc hay
không.
Chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng ưu điểm của ƯDTBKT vào sản xuất
nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng đã tạo ra khối lượng hàng hóa rất lớn,
góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và tăng kim ngạch xuất khẩu cả
nước. Tuy nhiên, tồn tại một vấn đề đó là thu nhập của người sản xuất lúa được
đánh giá là còn tương đối thấp bởi vì trong thời gian qua việc ƯDTBKT theo
9

chiều rộng nghĩa là nâng cao năng suất, tăng sản lượng dẫn đến tình trạng “trúng
mùa rớt giá” cho nên để giúp cho người sản xuất nâng cao thu nhập thì cần
chuyển hướng ƯDTBKT theo chiều sâu nghĩa là nâng cao chất lượng, giá trị gia

Mới, tỉnh An Giang. Nghiên cứu tìm hiểu và đo lường khả năng sinh lời và hiệu
quả quy mô hộ gia đình trong hai mô hình canh tác được lựa chọn. Ngoài ra, để
làm cho các kết luận từ những phát hiện có giá trị hơn tác giả tiến hành so sánh
hiệu quả giữa hai mô hình được lựa chọn. Phương pháp phân tích màng bao dữ
10

liệu (DEA) và phân tích chi phí - lợi ích (CBA) cách tiếp cận được sử dụng để
ước tính hiệu quả quy mô hộ gia đình và lợi nhuận tương ứng. Kết quả cho thấy
nông dân với mô hình luân canh cây trồng hiệu quả hơn mô hình trồng lúa liên
tục. Hiệu quả quy mô của nông dân với luân canh cây trồng cũng cao hơn khi
nông dân canh tác lúa liên tục.
Nguyễn Hữu Đặng (2012) nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trồng lúa của hộ ĐBSCL, Việt Nam trong giai đoạn
2008 - 2011. Nghiên cứu tập trung vào sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật của mô hình
trồng lúa ở 4 tỉnh thuộc ĐBSCL dựa trên nguồn dữ liệu được thu thập từ 155 hộ
trồng lúa, gồm An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng và Trà Vinh. Việc sử dụng kết
hợp hàm sản xuất biên Cobb-Douglas cùng hàm hiệu quả phi kỹ thuật để phân
tích bằng chương trình FRONTIER 4.1, tác giả cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung
bình của các hộ sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu là 88,96%. Với các nguồn lực
hiện có và các kỹ thuật phù hợp sản lượng của hộ trồng lúa còn có khả năng tăng
thêm 11,04%. Tuy nhiên, hiệu quả kỹ thuật đang có xu hướng giảm, từ 89,2% vào
năm 2008 giảm xuống còn 88,7% vào năm 2011. Các yếu tố đầu vào như đất đai,
lao động, loại giống và việc điều chỉnh giảm lượng phân đạm, tăng phân lân đã
đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng của hộ trong giai đoạn trên. Bên
cạnh đó, tập huấn kỹ thuật, tham gia hiệp hội, tín dụng nông nghiệp đã đóng góp
tích cực vào cải thiện hiệu quả kỹ thuật của hộ. Ngược lại, thâm niên kinh nghiệm
của chủ hộ, tỷ lệ đất thuê là các yếu tố làm hạn chế khả năng cải thiện hiệu quả kỹ

hưởng tới hiệu quả sản xuất; trong đó hiệu quả sản xuất được ước lượng bằng
cách sử dụng các chức năng của mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên. Một bảng
khảo sát gồm 50 nông hộ tham gia sản xuất lúa được lựa chọn ngẫu nhiên về đặc
điểm kinh tế - xã hội, các giá trị đầu vào gồm khu vực canh tác, giá trị phân bón,
lao động, giá trị đầu ra chính là sản lượng lúa thu hoạch nhằm đáp ứng mục đích
của bài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hiệu quả kỹ thuật dao
động từ 29,4% - 98,2% với trung bình là 86,6%, sản lượng lúa bình quân giảm
13,4% về mức độ tối đa có thể. Vì vậy, trong ngắn hạn có thể nâng cao hiệu quả
kỹ thuật trồng lúa trong khu vực nghiên cứu. Xem xét hiệu quả của các giống lúa
lai là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khi thực hiện
áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Chengappa P. G, Aldas J. và Srinivasa Gowda M. V. (2003) nghiên cứu
về lợi ích của mô hình canh tác các giống lúa lai tại Karnataka. Mục tiêu của
nghiên cứu này nhằm đánh giá lợi ích của các giống lúa lai và xác định các yếu
tố ảnh hưởng năng suất cũng như sự chấp nhận áp dụng của nông dân tại
Karnataka. Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí sản xuất khi áp dụng các giống
lúa lai cao hơn so với giống thường do có sự gia tăng chi phí giống, phân bón
và lao động. Tuy nhiên, năng suất của các giống lúa lai cao (8,41 tấn/ha) so với
giống thường (7,42 tấn/ha) dẫn đến chênh lệch về thu nhập khoảng 5%. Nghiên
cứu này còn cho thấy có quan hệ chặt chẽ giữa năng suất lúa và các yếu tố chi
phí như giống, phân bón, lao động; đồng thời, các tác giả cũng đã phát hiện các
nguyên nhân dẫn đến quyết định áp dụng các giống lúa mới như: hỗ trợ của
nhà nước về giá giống, khuyến nông, tính kháng sâu bệnh, rầy tốt, tính thích
nghi và năng suất cao.
Flordeliza H. Bordey (2004) trình bày kết quả đánh giá về khía cạnh kinh tế
- xã hội của việc áp dụng giống lúa lai trong sản xuất tại Philippines cũng xác
định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận sản xuất các giống lúa lai và cho
thấy rằng năng suất của giống lúa lai cao hơn so với các giống lúa truyền thống và
giá lúa lai cũng được trả cao hơn trên thị trường. Tuy nhiên, chi phí sản xuất của
mô hình lúa lai lại cao hơn do giá giống và mức độ sử dụng vật tư nông nghiệp

hàng thì chi phí giống chỉ còn ở mức 73% so với các mô hình khác và thuốc
bảo vệ thực vật chỉ còn 35% - 60% kết quả được thực hiện tại Long Điền B, vụ
lúa Đông Xuân. Nguyễn Kim Chung (2006) đã thực hiện nghiên cứu về chuyển
giao qui trình sản xuất lúa và so sánh hiệu quả kinh tế với qui trình sản xuất của
nông dân. Sử dụng phương pháp điều tra và xây dựng mô hình chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật, Luận án đã chứng minh được việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ
thuật về giống, gieo sạ hàng, bón phân theo bảng so màu lá lúa,…, cách quản lý
đồng ruộng hợp lý đã làm giảm chi phí sản xuất, đồng thời làm tăng năng suất lên
5% - 9% và lợi nhuận tăng 27% - 39% so với không áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Nguyễn Thị Thu An (2006) phân tích hiệu quả sản xuất của việc ƯDTBKT
vào sản xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cũng chỉ
ra rằng các mô hình được nông dân áp dụng là giống mới, IPM, 3 giảm 3 tăng.
Khi nông hộ áp dụng tiến bộ kỹ thuật năng suất bình quân tăng 6,73% so với
13

trước khi áp dụng kỹ thuật mới. Tuy nhiên, khi ứng dụng các mô hình kỹ thuật
vào sản xuất, thu nhập ròng của nông hộ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: chi phí
giống, phân bón, chi phí thu hoạch, nhiên liệu, vận chuyển và lãi vay.
2.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ
THUẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA
2.5.1. Đo lường hiệu quả sản xuất
Theo Farrell (1957), hiệu quả được định nghĩa là khả năng sản xuất ra một
mức đầu ra cho trước từ một khoản chi phí thấp nhất. Do vậy, hiệu quả của một nhà
sản xuất riêng lẻ có thể được đo lường bằng tỷ số giữa chi phí tối thiểu và chi phí
thực tế để sản xuất ra mức đầu ra cho trước đó. Định nghĩa này bao gồm hai chỉ
tiêu hiệu quả khác là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu
quả giá). Hiệu quả kỹ thuật đề cập đến khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước


thường tìm thấy sự khác biệt về số lượng trong điểm hiệu quả giữa hai phương pháp,
nhưng sự sắp xếp về thứ hạng hiệu quả trong DMUs có xu hướng rất tương tự trong cả
hai phương pháp. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp nào để sử dụng dường như là
“tùy ý”, như kết luận của Dhungana et. al (2004).
Bảng 2.1: So sánh ưu và nhược điểm của DEA và SFA
Data Envelopment Analysis (DEA) Stochastic Frontier Analysis
(SFA)
Nhất quán Cả hai phương pháp đều là phân tích hiệu quả biên, một đường biên sẽ được
xác định và điểm hiệu quả sẽ được xác định dựa trên đường biên đó
Đặc tính
Phương pháp phi tham số Phương pháp tham số
Đo lường
hiệu quả
Hiệu quả kỹ thuật, độ đàn hồi của quy
mô, hiệu quả qui mô, hiệu quả phân
phối, hiệu suất tắc nghẽn, thay đổi kỹ
thuật và thay đổi TFP
Hiệu quả kỹ thuật, độ đàn hồi của
quy mô, hiệu quả phân phối, thay
đổi kỹ thuật và thay đổi TFP
Điểm mạnh
Không giả định trước tất cả các hộ sản
xuất đều đạt hiệu quả
Xử lý hiệu quả trường hợp nhiều
đầu vào và nhiều đầu ra
Không cần thông tin về giá của các
yếu tố nhập lượng
Không cần ước lượng dạng hàm và
dạng phân phối của dữ liệu

Nguồn: Coelli et. al .(1997), Lan et al. (2003) 15

2.5.2. Một số nghiên cứu có liên quan về phương pháp đánh giá hiệu quả ứng
dụng tiến bộ kỹ trong sản xuất lúa
Các nghiên cứu đánh giá về vai trò của khuyến nông và hiệu quả trong
ƯDTBKT trong sản xuất lúa cho thấy ƯDTBKT vào sản xuất lúa đã đạt những
thành tựu quan trọng nâng cao năng suất, giảm giá thành, nâng cao chất lượng.
Trong chuyển giao và ƯDTBKT có vai trò quan trọng của ngành khuyến nông.
Không chỉ khuyến nông của nhà nước mà cả sự tham gia tích cực của doanh
nghiệp trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người trồng lúa.
Krasachat, W (2004) tiến hành đo lường hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất
nông nghiệp ở Thái Lan. Để ước tính hiệu quả, phương pháp phân tích màng bao
dữ liệu DEA được áp dụng cho dữ liệu, các kết quả thực nghiệm cho thấy có
nhiều khả năng để tăng mức độ hiệu quả bằng cách tăng quy mô trang trại. Kết
quả cho thấy nhìn chung lợi thế về quy mô của trang trại ngày càng tăng trong
ngành nông nghiệp ở Thái Lan. Tuy nhiên, các dịch vụ khuyến nông nên được
tăng cường sử dụng để tăng hiệu quả kỹ thuật cho một vài trang trại nông nghiệp
hoạt động không hiệu quả.
K.Bradley Watkins et. al (2013) sử dụng phương pháp phân tích màng bao
dữ liệu (Data Envelopment Analysis) để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả
phân phối nguồn lực và hiệu quả kinh tế của việc sản xuất lúa gạo ở Arkansas.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nông hộ có điểm số cao với hiệu quả kỹ
thuật (TE) trung bình đạt 0,899, trong đó hơn một nửa đạt hiệu quả kỹ thuật tối đa
với điểm số bằng 1. Điều này, có nghĩa là Arkansas sản xuất lúa gạo đạt hiệu quả

các mô hình tiến bộ kỹ thuật, nhiều nông hộ còn ứng dụng kết hợp nhiều mô hình
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa; (4) Việc ứng dụng các mô hình tiến bộ kỹ thuật
đã giúp nông hộ nâng cao hiệu quả sản xuất trên cùng đơn vị đất canh tác.
Nguyễn Quốc Nghi (2011) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
ƯDTBKT trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp. Số liệu sử dụng
trong nghiên cứu được thu thập từ 375 nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh.
Phương pháp phân tích hồi qui logit và phân tích nhân tố được sử dụng để xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến ƯDTBKT và mức độ ƯDTBKT vào sản xuất lúa
của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến trình độ học vấn, tham gia các
tổ chức xã hội, tổng diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng
nông nghiệp tương quan thuận với quyết định ứng dụng ƯDTBKT vào sản xuất
lúa của nông hộ. Mức độ ƯDTBKT vào sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng
Tháp chịu tác động bởi ba nhân tố: nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế
và lợi ích xã hội. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về mức độ hài lòng của nông hộ
đối với phương pháp tập huấn ƯDTBKT trong sản xuất lúa ở tỉnh Đồng Tháp.
Chỉ ra rằng mức độ hài lòng của nông hộ chịu tác động bởi các nhân tố: (1) So
sánh đối chiếu hiệu quả kinh tế giữa mô hình trình diễn và mô hình sản xuất của
nông dân được thực hiện tốt hơn; (2) Thông tin cung cấp cho học viên tin cậy,
chính xác; (3) Giảng viên gần gũi và thân thiện với học viên và (4) Mô hình trình
diễn của lớp học được tổ chức chu đáo. Trong đó, mô hình trình diễn của lớp học
được tổ chức chu đáo là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hài lòng của nông hộ.
Tiến hành đánh giá mức độ hài lòng của nông hộ đối với phương pháp tập huấn
ƯDTBKT trong sản xuất lúa ở tỉnh Đồng Tháp. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nông hộ đối với phương
pháp tập huấn sản xuất lúa tỉnh Đồng Tháp. Số liệu được thu thập thông qua cuộc
17


bao tiêu sản phẩm. Trong nghiên cứu tác giả đã đưa ra thực trạng của việc sản
xuất lúa truyền thống và việc ứng dụng kỹ thuật 3 giảm 3 tăng của nông dân ở các
huyện của tỉnh Vĩnh Long. Tác giả đã so sánh hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình
canh tác theo kỹ thuật 3 giảm 3 tăng với mô hình canh tác theo kỹ thuật truyền
thống. Tác giả phân tích hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình canh tác trên cơ sở đo
lường qua lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận/vốn và giá thành lúa thành phẩm. Từ đó,
tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm giúp người nông dân canh tác lúa hạ giá
thành sản xuất, tăng lợi nhuận và đặc biệt là sản xuất lúa chất lượng cao.

Trích đoạn CÁCH TIẾP CẬN VÀ CHỌN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tài nguyên thiên nhiên Nông nghiệp Đối với nông hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status