Sử dụng thí nghiệm để tổ chức dạy học phần sinh học cơ thể, sinh học 11 - Pdf 28

1
MỞ ĐẦU
- Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ
yếu của người thầy trong quá trình dạy học. Vì vậy nó luôn là trung tâm chú ý của
lí luận và thực tiễn dạy học hiện nay.
- Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đều nhằm
hướng đến điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo. Dựa trên cái cũ đã
biết, cần đặt ra cho học sinh những nhiệm vụ tìm tòi, những mâu thuẫn, những vấn
đề, những mối liên hệ mới cần phát hiện. Trên cơ sở đó mà tăng cường các hoạt
động nhận thức và tư duy của học sinh.
- Thực tế giảng dạy các môn khoa học thực nghiệm nói chung và môn Sinh học nói
riêng ở nhà trường phổ thông hiện nay, nhiều giáo viên vẫn còn áp dụng phương
pháp dạy học truyền thống. Học sinh không được tạo điều kiện để bồi dưỡng
phương pháp nhận thức, rèn luyện tư duy khoa học, phát triển năng lực tự giải
quyết vấn đề. Về phía giáo viên, phần nhiều ngại sử dụng thí nghiệm trong các giờ
dạy, đặc biệt là các giờ thực hành và có xu hướng là dạy chay. Hậu quả của các tồn
tại trong dạy học nói trên là dẫn đến hạn chế sự phát triển tư duy của học sinh, mất
dần đi những hiểu biết sáng tạo vô cùng lí thú của bộ môn khoa học thực nghiệm
này. Một trong những phương hướng để gắn lí thuyết với thực hành, phát triển
năng lực nhận thức, rèn luyện các kĩ năng cho học sinh là việc sử dụng các thí
nghiệm trong dạy học. Một mặt các em được trang bị, củng cố kiến thức, mặt khác
rèn luyện cho các em năng lực tư duy thực nghiệm trong quá trình học tập từ đó
phát triển năng lực nhận thức cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Sử dụng thí
nghiệm để tổ chức dạy học phần sinh học cơ thể, sinh học 11”
2
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CỞ SỞ THÍ NGHIỆM
1.1. Thí nghiệm
Thí nghiệm là phương pháp nghiên cứu để kiểm tra những giả thuyết khác
nhau bằng những thử nghiệm và tiến hành dưới những điều kiện được tạo ra và

vật thật để học sinh có thể quan sát trực tiếp bằng các giác quan, mà một số thí
nghiệm rất khó hoặc không thể thực hiện trên các đối tượng sống (do hạn chế về
thời gian, phương tiện ). Với các thí nghiệm có tính chất như trên, muốn cho học
sinh có thể hiểu sâu hơn về các hiện tượng hay quá trình sinh học diễn ra bên trong
đối tượng sống người ta có thể sử dụng thêm các dạng thí nghiệm: thí nghiệm
ảo,thí nghiệm mô phỏng.
1.4. Yêu cầu của thí nghiệm
Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính an toàn cho cả giáo viên và học sinh.
- Đảm bảo tính khoa học của thí nghiệm: Có sự chuẩn bị chu đáo, thí nghiệm
nên lặp lại nhiều lần để chọn ra điều kiện tốt nhất, giải thích được diễn biến
và kết quả của thí nghiệm.
- Bố trí thí nghiệm ở vị trí cao cho cả lớp đều có thể quan sát. Đặc biệt là kết
quả của thí nghiệm.
4
- Thí nghiệm đơn giản, vừa sức với học sinh.
- Thời gian cho mỗi thí nghiệm được tính toán cẩn thận và không kéo dài
nhằm đảm bảo thời gian chung cho cả tiết học.
- Nếu làm thí nghiệm để minh họa thì nội dung của thí nghiệm phải phù hợp với
chủ đề của bài học.
1.5. Vai trò của thí nghiệm
- Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, nó là cơ sở, điểm xuất
phát cho quá trình học tập- nhận thức của học sinh. Từ đây xuất phát quá trình
nhận thức cảm tính của trò, để rồi từ đó diễn ra sự trừu tượng hóa và sự tiến lên từ
trừu tượng đến cụ thể trong tư duy.
- Thí nghiệm do giáo viên trình bày sẽ là mẫu mực về thao tác cho học trò học tập
mà bắt chước, để rồi sau đó khi làm thí nghiệm học sinh sẽ học được các cách thức
làm thí nghiệm(kỹ năng, kỹ xảo thực hành)
- Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn để đánh giá tính
chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và nó là phương tiện

+ Bấm giây đồng hồ để so sánh thời gian giấy chuyển màu từ xanh da trời sang
màu hồng. So sánh diện tích giấy có màu hồng ở mặt trên và mặt dưới của lá trong
cùng thời gian.
- Hướng dẫn học sinh quan sát
Ngày, giờ Tên cây, vị trí Thời gian chuyển màu của giấy côban clorua
7
của lá Mặt trên Mặt dưới
- Kết quả, yêu cầu
Giải thích vì sao có sự khác nhau giữa hai mặt lá ?
2.1.2. Thí nghiệm 2: Vai trò của phân bón
- Mục đích:
+ Hiểu được tầm quan trọng của phân bón đối với cây trồng
+ Ứng dụng trong thực tiễn đời sống, bón phân hợp lí cho cây trồng.
- Nguyên liệu dụng cụ, hóa chất
+ Chậu nhựa trong đường kính 200mm, cao 100mm
+ Hạt thóc đã nảy mầm 2-3 ngày
+ Cốc đốt 1000ml
+ Thước nhựa 200mm
+ Tấm xốp D200mm
+ ống đong 100ml
+ Đũa thủy tinh
+ Phân bón NPK
+ Nước sạch
- Cách tiến hành
+ Cho 1g phân NPK với 1000 ml nước cất vào cốc đốt 1000ml (nồng độ 1g/l)
+ Dùng đũa thủy tinh khuấy tan
+Rót dung dịch phân NPK vào chậu thí nghiệm
8
+ Đặt tấm xốp vào chậu trồng cây đã có chứa môi trường nuôi cấy (1 chậu chứa
dung dịch phân NPK và 1 chậu chứa nước sạch)

• Cho hạt đậu nảy mầm trong một ống trụ bằng giấy dài 2 cm treo nằm ngang.
Rễ và thân mọc dài ra khỏi ống trụ. Quan sát rễ và thân mọc theo chiều nào?
+ Hướng nước:
Hạt đậu nảy mầm đặt vào khay nhỏ bằng lưới thép đựng mạt cưa ẩm cho kín hạt.
Đem khay treo nghiêng. Quan sát thấy rễ mọc xuyên qua lỗ thủng của khay, rễ uốn
cong quay về phía mạt cưa ẩm trong khay.
+ Hướng hóa
Trong một hộp nhựa trong suốt để cây đậu mọc bình thường ở giữa hộp, chỉ bón
phân đạm ở một phía thành hộp. Theo dõi rễ mọc vươn về phía phân bón.
- Hướng dẫn học sinh quan sát
- Kết quả, yêu cầu
+ HS giải thích được các hiện tượng trên
2.1.4. Thí nghiệm 4: Chứng minh quá trình hô hấp tỏa nhiệt
- Mục đích:
+ Chứng minh được quá trình hô hấp tỏa nhiệt
+ Rèn luyện kĩ năng thực hiện chính xác các thao tác trong phòng thí nghiệm
10
- Nguyên liệu dụng cụ, hóa chất
+ Dụng cụ: Một bình thủy tinh miệng rộng có thể tích khoảng 2-3l có nút, 1 nhiệt
kế
+ Hóa chất: nước vôi trong.
+ Mẫu vật: Hạt đậu xanh (0,5kg)
- Cách tiến hành:
+ Cho hạt đậu vào bình thủy tinh, đổ nước ngập hạt
+ Ngâm hạt trong nước khoảng 2-3h. Sau đó gạn hết nước khỏi bình
+ đậy kính bình và cắm một nhiệt kế trực tiếp vào khối hạt.
+ Đặt bình thủy tinh có chứa hạt ẩm cùng nhiệt kế vào hộp xốp cách nhiệt
+ Theo dõi nhiệt độ lúc bắt đầu cắm nhiệt kế và sau 1h, 2h, 3h.
- Hướng dẫn học sinh quan sát
- Kết quả, yêu cầu: HS giải thích được kết quả thí nghiệm

Ghép cành: + Cành ghép có đường kính tương đương với gốc ghép đặt sát nhau. +
Dùng dao sắc cắt vát một miếng nhỏ (dài 1,5 - 2 cm, rộng 0,4 - 0,5 cm) vừa chạm
vào lớp gỗ ở cả cành và gốc ghép + Buộc chặt ở vị trí cắt Sau 30-40 ngày :cắt ngọn
gốc ghép, cắt gốc cành ghép cách chỗ buộc 2 cm
- Hướng dẫn học sinh quan sát
12
- Kết quả, yêu cầu: HS biết cách giâm, chiết, ghép ứng dụng vào thực tiễn.
2.2. Sử dụng thí nghiệm dạy học trong phần
2.2.1. Thí nghiệm 1: Thí nghiệm thoát hơi nước
2.2.1.1. Mục đích: Đặt vấn đề vào bài mới và củng cố kiến thức
2.2.1.2. Tiến trình tổ chức
- Đặt vấn đề vào bài mới: Bài 2 Trao đổi nước ở thực vật
GV kể hoặc sử dụng tranh minh họa: Có một bạn đặt hai miếng giấy lọc tẩm dung
dịch côban đối xứng nhau qua 2 mặt lá cây rau khoai. Sau một thời gian thấy giấy
chuyển từ màu xanh da trời sang màu hồng. Chứng tỏ có hơi nước thoát ra. Vậy
hơi nước đó từ đâu mà xuất hiện, cơ chế thoát hơi nước như thế nào? Tìm hiểu bài
Trao đổi nước ở thực vật.
-Dạy phần củng cố:
GV trình bày thí nghiệm:
+ Dùng hai miếng giấy lọc tẩm dung dịch côban clorua đặt đối xứng nhau qua 2
mặt lá
+ Sau một thời gian giấy chuyển màu từ xanh da trời sang màu hồng
Em hãy giải thích hiện tượng trên? So sánh diện tích giấy có màu hồng ở mặt trên
và mặt dưới của lá trong cùng thời gian.
2.2.2. Thí nghiệm 2: Vai trò của phân bón
2.2.2.1. Mục đích: Dạy củng cố
2.2.2.2. Tiến trình tổ chức
Một bạn ở nhà tiến hành thí nghiệm như sau:
+ Cho 1g phân NPK với 1000 ml nước cất vào cốc đốt 1000ml (nồng độ 1g/l)
+ Dùng đũa thủy tinh khuấy tan

- Đặt vấn đề vào bài mới: Bài 11 Hô hấp ở thực vật
GV mô tả thí nghiệm: Cho hạt đậu vào bình thủy tinh, đổ nước ngập hạt. Ngâm hạt
trong nước khoảng 2-3h. Gạn hết nước khỏi bình, đậy kính bình và cắm một nhiệt
kế trực tiếp vào khối hạt. Đặt một cốc nước vôi trong vào bình thủy tinh. Sau đó
đặt bình thủy tinh vào hộp xốp cách nhiệt. Sau 2h lấy ra thây nước vôi trong vẩn
đục, chỉ số nhiệt kế tăng lên. Chứng tỏ có quá trình hô hấp xảy ra tạo ra khí CO2
và sinh nhiệt. Để tìm hiểu rõ hơn quá trình hô hấp xảy ra như thế nào? Chúng ta
cùng tìm hiểu bài 11 hô hấp ở thực vật.
2.2.5. Thí nghiệm 5: Giâm, chiết, ghép ở thực vật
2.2.5.1. Mục đích: Đặt vấn đề vào bài mới, dạy kiến thúc mới, củng cố, kiểm tra
22.5.2. Tiến trình tổ chức
- Đặt vấn đề vào bài mới: Bài 41 sinh sản vô tính ở thực vật. GV giới thiệu (treo
tranh, kênh hình): lấy một lá bỏng đem giâm xuống đất, sau vài ngày trên cây lá
bỏng mọc lên những cây bỏng con. Lấy một đoạn thân sắn đem vùi xuống đất, sau
một thời gian thấy trên thân sắn mọc lên những cây sắn con. Đó là những hình thức
sinh sản vô tính. Vậy sinh sản vô tính là gì? Có những hình thức sinh sản vô tính
nào? Và phương pháp nhân giống vô tính ra sao? Hôm nay chúng ta tìm hiểu bài
41 Sinh sản vô tính ở thực vật.
- Dạy kiến thức mới: Mục III. Phương pháp nhân giống vô tính, 4. Nuôi cấy mô
GV chiếu tranh và giới thiệu thí nghiệm nuôi cấy mô ở cà rốt ở trong ống nghiệm.
15
GV hỏi: Nêu các bước nuôi cấy mô?
HS: Mônuôi cấy trong môi trường dinh dưỡng Phôi  cây con
GV: Cơ thể mới được tạo thành từ đâu?
HS trả lời: từ tế bào, mô
GV: Môi trường nuôi cấy đảm bảo điều kiện gì?
HS: Phải vô trùng
GV: Cơ sở nào mà từ một tế bào hay mô thực vật có thể tạo thành một cơ thể toàn
vẹn như vậy?
HS: Nhờ tính toàn năng của tế bào thực vật

các bài tập hóa học thực nghiệm”, Tạp chí Giáo dục, (88), tr. 34-35.
5.Trịnh Nguyên Giao,“Sử dụng phương pháp thí nghiệm trong dạy và học môn
sinh học ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo viên và Nhà trường, (18), tr. 10-11.
6. Trịnh Đông Thư (2010), Sử dụng thí nghiệm trong dạy học sinh học, Nxb Đại
học Huế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status