z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
CHUYÊN NGÀNH : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI : Các biện pháp tự vệ thương mại và việc
áp dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
GIẢNG VIÊN : TH.S NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN QUỐC HUY
LỚP : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
KHÓA : 49
MÃ SINH VIÊN : CQ491127
HÀ NỘI - 2010
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở tạo ra một sân chơi tự do và công bằng.
Tháng 12/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ trước đến nay. Bên cạnh cơ hội mở
rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng
phải đương đầu với rất nhiều thách thức. Có lẽ khó khăn lớn nhất mà Việt
Nam phải đối mặt đó là những tác động tiêu cực do cạnh tranh gây ra , nhất
là trong bối cảnh năng lực cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất nội địa Việt
Nam còn rất yếu kém. Không riêng gì Việt Nam, đây cũng là bài toán hóc
quốc gia có quyền lựa chọn 1 trong các biện pháp tự vệ sau:
-Tăng mức thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trần(biện pháp thuế
quan)
-Áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch(biện pháp
phi thuế quan)
2.1 Biện pháp thuế quan:
Đây là biện pháp mà WTO cho phép để bảo hộ thị trường trong nước
và chủ yếu dưới dạng tăng thuế nhập khẩu, vì đây là công cụ đảm bảo tính
minh bạch và dễ dự đoán, được thực hiện bằng những con số rõ ràng, do vậy
người ta có thể thấy được mục đích bảo hộ dành cho 1 ngành sản xuất của
mỗi quốc gia. Ngoài ra, do biện pháp thuế quan chỉ làm tăng giá sản phẩm
nên cũng không làm cho thương mại bị bóp méo và đảm bảo cho “bàn tay vô
hình”của thị trường thực hiện được chức năng của mình. Tuy nhiên khi tham
gia vào quá trình hội nhập, các nước phải cam kết ràng buộc với một mức
thuế trần nhất định và phải có lịch trình cắt giảm cụ thể.
2.2 Các biện pháp phi thuế quan:
Trước kia các nước nhập khẩu thường sử dụng biện pháp hạn chế xuất
khẩu tự nguyện(VERs- Voluntary Export Restrains), qua đó lợi dụng ảnh
hưởng của mình để qua đó ép buộc các nước đối tác tự nguyện hạn chế xuất
khẩu, đồng thời cơ chế này cũng thể hiện sự phân biệt đối xử rất rõ. Vì vậy
trong hiệp định về các biện pháp tự vệ, WTO đã cấm sử dụng VERs mà thay
vào đó là các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm:
a) Hạn ngạch:
Hạn ngạch là biện pháp dùng để hạn chế số lượng hay giá trị hàng hoá
xuất nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một khoảng thời gian nhất
định (thường là 1 năm).Có 2 loại hạn ngạch:
- Hạn ngạch tuyệt đối : là hạn ngạch mà khi áp dụng, nếu hàng hoá
nhập khẩu vượt quá một khối lượng đã qui định thì không được cấp giấy
phép nhập khẩu
- Hạn ngạch thuế suất thuế quan : là hạn ngạch mà khi áp dụng, nếu
định tính. Sự gia tăng này phải vừa mới diễn ra, phải mang tính bất ngờ, phải
ở mức độ đủ lớn và phải gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng.
3.2 Việc gia tăng hàng hoá nhập khẩu đó phải gây thiệt hại hay đe
doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa.
Việc xác định tổn hại dựa trên kết quả điều tra theo đó cơ quan chức
năng đánh giá những yếu tố kinh tế có liên quan dến tình hình sản xuất của
ngành này gồm:
- Tốc độ và sản lượng gia tăng nhập khẩu của sản phẩm liên quan một
cách tuyệt đối hay tương đối
- Lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu%thị phần trong nước.
- Sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận, năng
suất, tỉ suất đầu tư
- Tác động đến thị trường lao động.
Việc điều tra sẽ do một cơ quan chuyên trách ở mỗi quốc gia đảm
nhiệm.Tuy nhiên, nếu như xét thấy bất kì một sự trì hoãn nào có thể làm cho
tình hình trở nên trầm trọng hơn và khó phục hồi, các quốc gia có thể áp dụng
biện pháp tự vệ tạm thời mà chỉ dựa vào những dấu hiệu ban đầu cho thấy có
thiệt hại nghiêm trọng bắt nguồn từ gia tăng nhập khẩu, không cần đợi kết quả
điều tra biện pháp này chỉ kéo dài tối đa 200 ngày và được áp dụng dưới hình
thức tăng thuế suất. Khoảng thời gian áp dụng tự vệ tạm thời cũng sẽ được
tính vào tổng thời gian áp dụng tự vệ thương mại. Nếu sau này kết quả cho
thấy không đủ điều kiện áp dụng tự vệ thương mại thì các bên sẽ phải hoàn trả
cho nhau ngay lập tức khoản thuế gia tăng đã thu được.
3.3 Sự gia tăng về số lượng hàng hoá nhập khẩu đó phải là nguyên
nhân trực tiếp gây ra những thiệt hại nói trên.
Một quốc gia sẽ không thể áp dụng được các biện pháp tự vệ thương
mại nếu như không chứng minh được rằng có tồn tại bằng chứng rõ ràng về
mối quan hệ nhân quả giữa lượng nhập khẩu gia tăng đột biến của loại hàng
hoá có liên quan với thiệt hại nghiêm trọng gây ra. Việc chứng minh mối quan
hệ này có thể dựa trên sự tương quan về thời gian xảy ra việc gia tăng lượng
một lần nhưng không quá 4 năm tiếp theo. Đối với các nước đang phát triển,
có thể được ưu đãi gia hạn với thời gian không quá 6 năm tiếp theo. Tuy
nhiên, ngay cả trong thời hạn áp dụng, nếu những điều kiện cho sự tồn tại
của nó không còn nữa thì nước áp dụng tự vệ thương mại phải dỡ bỏ ngay
hoặc đình chỉ biện pháp tự vệ đang được áp dụng với hàng hóa đó.
Trong thời gian áp dụng tự vệ thương mại nước nhập khẩu phải tiến
hành rà soát các biện pháp tự vệ để đảm bảo quyền lợi cho nước bị áp dụng
đồng thời cũng để cho việc luân chuyển hàng hóa diễn ra bình thường.
4.3 Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại
Khác với các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành
mạh do hành động bán phá giá hay trợ cấp của Chính phủ, một nước thành
viên khi áp dụng biện pháp tự vệ phải đảm bảo đền bù thỏa đáng cho nước bị
áp dụng tự vệ thương mại. Việc đền bù này thường thông qua việc giảm thuế
cho một số mặt hàng có lợi ích xuất khẩu cho nước bị áp dụng tự vệ thương
mại. Mức độ đền bù phải tương đương đáng kể.
Nếu các bên không thể thỏa thuận được mức độ bồi thường tương
xứng thì các nước bị áp dụng tự vệ thương mại có thể áp dụng các biện pháp
trả đũa. Tuy nhiên, quyền thực hiện trả đũa thương mại chỉ có thể tiến hành
sau 3 năm kể từ khi biện pháp tự vệ thương mại thực hiện.
4.4 Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển
WTO thừa nhận cần phải có sự cần thiết phải dành cho những nước
đang và chậm phát triển những điều kiện thuật lợi hơn trong thương mại
quốc tế, dành cho các nước này những chế độ đãi ngộ đặc biệt và khác biệt
trong thương mại quốc tế mà không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết.
Điều 9 Hiệp định về tự vệ thương mại của WTO quy định: Các biệ
pháp tự vệ thương mại không được áp dụng với hàng hóa có nguồn gốc từ
một nước thành viên đang phát triển nếu như thị phần xuất khẩu hàng hóa
của nước này tại nước nhập khẩu không vượt quá 3 %. Hoặc nếu có nhiều
nước thành viên đang phát triển có thị phần từng nước dưới 3% và tổng thị
phần của các nước này không lớn hơn 9 % thì không bị áp dụng tự vệ thương
5 Phân bón 819 648 673 996 1188
6 Sắt thép 2509 2984 2905 4881 5473
7 Tân dược 510 502 547 700 539
8
Linh kiện và phụ tùng xe
máy
452 476 490 578 424
9 Linh kiện ô tô 647 795 500 921 1111
10 Xăng dầu 3571 4969 5848 7501 9118
Nguồn: Thống kê hàng năm của tổng cục thống kê
Trước tiên, nhìn vào biểu đồ 1 ta thấy nhập khẩu liên tục tăng qua các
năm(trừ năm 2009) mặc dù tốc độ tăng không đồng đều. Đây là hiện tượng
mà chúng ta cần chú ý bởi vì xuất phát điểm để áp dụng các biện pháp tự vệ
là tình trạng nhập khẩu tăng mạnh. Tình hình nhập siêu cũng biến động tăng
theo từng năm năm 2008, nhập siêu đã lên đến 16 tỷ USD, bằng 36.8% tổng
kim ngạch xuất khẩu, gấp 2 lần mức nhập siêu cùng kì năm 2007. Trong tình
hình nhập khẩu và nhập siêu của Việt Nam, có 2 đặc điểm cần chú ý.
Thứ nhất, theo như bảng số liệu 1, ta có thể thấy, trong số 10 mặt hàng nhập
khẩu chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008, hầu hết là mặt hàng
nguyên, phụ liệu thuộc nhóm ngành công nghiệp phụ trợ. Đây là nhóm ngành
hàng có vai trò hỗ trợ và là trung gian đầu vào cho việc sản xuất các sản
phẩm chính, cụ thể là nhóm ngành linh kiện điện tử, máy móc thiết bị phụ
tùng, linh kiện phụ tùng xe máy, linh kiện phụ tùng ô tô hay nguyên phụ liệu
dệt may da giày… Bên cạnh đó, các mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế
cũng nằm trong mười mặt hàng luôn có kim ngạch nhập khẩu cao là sắt thép
và phân bón. Thị trường thép đặc biệt trong thời gian gần đây luôn trong tình
trạng khủng hoảng khi một lượng lớn các sản phẩm thép giá rẻ của Trung
Quốc tràn vào Việt Nam. Trong khi đó, giá phôi thép nhập khẩu lại liên tục
biến động, cùng với các chi phí vận chuyển lưu kho cao và năng lực sản xuât
thấp kém của chính các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước đã làm đội
Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp phản ánh một cách khá tổng hợp về
“diện mạo” và “hiện trạng” của các nền kinh tế và được trích dẫn rất rộng rãi
cũng như được sử dụng trong nhiều tài liệu nhiều nghiên cứu hàn lâm cũng
như nhiều bài báo trên các tạp chí uy tín. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới -
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2009. Thứ hạng Việt Nam xếp theo
chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp là 75 trên 133 quốc gia, giảm 5 bậc so
với 2008. Thứ hạng năm 2008, 2007 lần lượt là 70/134 và 68/131. Bảng thứ
hạng năng lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam một số năm gần đây:
2005 2006 2007 2008 2009
GIC 74/111 77/122 68/131 70/134 75/133
Bảng thống kê cho thấy thứ hạng của Việt Nam theo các chỉ số nâng lực
cạnh tranh tổng hợp năm 2009 tiếp tục đà suy giảm từ 2007 và đã tụt bậc so
với năm 2008. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới, năm 2009, Việt
Nam có cải thiện ở nhiều tiêu chí, đặc biệt là quy mô thị trường (hạng 38),
hiệu quả thị trường lao động (hạng 38), trong đó nhiều tiêu chí cụ thể có thứ
hạng rất cao. Tuy nhiên, chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp 2009 của Việt
Nam chưa được cải thiện và giảm 5 bậc so với 2008, chủ yếu do chỉ số ổn
định kinh tế vĩ mô bị đánh tụt từ hạng 70 xuống 112 làm tác động mạnh tới
nền kinh tế và khả năng cạnh tranh.
Vấn đề thiếu ổn định kinh tế vĩ mô là thâm hụt thương mại tăng, nền kinh tế
phát triển quá nóng là một biểu hiện rõ nét nhất; rồi đến việc đồng tiền mất
giá làm giảm niềm tin của giới đầu tư. Điều đáng suy nghĩ ở đây là trong khi
nhiều quốc gia đang phát triển, có mức tăng trưởng duơng (Trung Quốc, Ấn
Độ, Braxin…) đều cải thiện năng lực cạnh tranh của mình thì Việt Nam lại
tụt hạng 5 bậc. Điều này có nghĩa là Việt Nam đang tự đánh mất cơ hội làn
sóng tăng trưởng hậu khủng hoảng.
Chỉ tiêu 2008 2009
Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp 70/134 75/133
Thể chế 71 63
Cơ sở hạ tầng 93 94
với trên 170 nước. Chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu và dỡ bỏ các hàng
rào phi thuế quan để thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư là không thể
tránh khỏi trong quá trình hội nhập. Trong cam kết WTO về thuế quan , Việt
Nam đã có kết quả đàm phán cho toàn bộ biểu thuế nhập khẩu (10.600 dòng
thuế), và cam kết cắt giảm 22% thuế nhập khẩu so với mức hiện hành, thực
hiện chủ yếu trong 5 năm kể từ khi gia nhập WTO. Trong số 10.600 dòng
thuế nhập khẩu sẽ có 36% phải cắt giảm, lộ tình cắt giảm kéo dài bình quân
5-7 năm. Mức thuế bình quân cho nông nghiệp là 21%, công nghiệp là
12.6%, so với mức bình quân hiện hành là 23,5% và 16.6% … Ngoài ra
trong các cơ chế hợp tác, tự do hoá ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Ấn Độ,
ASEAN-Nhật, ASEAN-Hàn Quốc…. mà Việt Nam tham gia cũng quy định
tiến trình cụ thể về cắt giảm thuế và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan.
Tất cả những điều này sẽ khiến cho môi trường kinh doanh ở nước ta
ngày càng cạnh tranh do sức ép mạnh mẽ từ luồng hàng hoá nhập khẩu chủ
yếu là từ Trung Quốc và ASEAN, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh phải nỗ lực để vượt qua thách thức.
Trong bối cảnh ấy, việc đặt ra nhu cầu bảo hộ nói chung và tự vệ nói
riêng nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có điều kiện điều chỉnh cơ
cấu và nâng cao sức cạnh tranh là cần thiết. Đã đến lúc chúng ta đứng lên
bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, các doanh nghiệp Việt Nam cần kiện
ngược lại chứ không chỉ loay hoay bị động với các vụ khởi kiện từ nước
ngoài. Lâu nay, chúng ta chỉ lo lắng đối phó với việc nước ngoài kiện sản
phẩm của mình bán phá giá vào thị trường họ hoặc sản phẩm của mình đựơc
nhập khẩu tràn lan đe doạ đến ngành sản xuất trong nước họ. Đã đến lúc
doanh nghiệp Việt Nam khởi kiện hàng hoá của nước ngoài được trợ cấp,
bán phá giá hay nhập khẩu quá mức đang đe doạ nhiều ngành công nghiệp
non yếu của mình.
III. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Môi trường pháp lý về tự vệ thương mại tại Việt Nam
- Nước ta có một công cụ bảo hộ hợp pháp, ngăn chặn hoặc hạn chế
những diễn biến bất lợi do việc nhập khẩu hàng hoá gia tăng thất thường gây
ra.
- Sản xuất trong nước được bảo vệ, tránh khỏi nguy cơ bị đảo lộn,
thậm chí phá sản do nhập khẩu hàng hoá quá mức gây ra.
- Góp phần xây dựng một hệ thống chính sách quản lý thương mại rõ
ràng và ổn định hơn, cũng như nâng cao kiến thức của các doanh nghiệp về
vấn đề tự vệ thương mại.
- Là một bước chủ động chế định hoá các định chế của WTO vào luật
pháp Việt Nam và điều chỉnh luật pháp của ta phù hợp với các chuẩn mức
của thế giới, tạo điều kiện cho việc gia nhập WTO.
1.1.2 Những tác động tiêu cực
- Việc áp dụng các biện pháp tự vệ cũng có thể làm giảm cơ hội của
các ngành sản xuất sử dụng hàng hoá nhập khẩu đầu vào cho sản xuất với giá
thấp hoặc chất lượng tốt hơn, hạn chế người tiêu dùng có được những hàng
hoá tương tự với giá rẻ hơn.
- Trong một số trường hợp, việc áp dụng các biện pháp tự vệ có thể
làm thay đổi đáng kể các cơ hội thị trường mà các đối tác nước ngoài có
được và do vậy có thể dẫn đến sự khiếu nại từ phía chính phủ nước ngoài,
thậm chí khi tham vấn liên chính phủ không thành công có thể bị trả đũa.
- Nếu lạm dụng các biện pháp tự về sẽ làm nảy sinh sự ỷ lại của các
doanh nghiệp vào sự bảo hộ quá mức của Nhà nước.
2.Thực trạng áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở Việt nam
trong thời gian qua
Trong trong cuộc chiến phòng vệ thương mại, DN Việt Nam đang bị dẫn bàn
với tỷ số 42 – 1. Thua quá đậm nhưng có vẻ như không nhiều người nghĩ
cách để lật ngược tỷ số. Đây là cách so sánh được nhiều chuyên gia kinh tế
đưa ra để nói về câu chuyện phòng vệ thương mại. Từ năm 1994 đến nay,
Việt Nam phải đối mặt với 42 vụ tranh chấp thương mại ở thị trường nước
ngoài, gồm có 35 vụ kiện chống bán phá giá, 6 vụ kiện tự vệ và 1 vụ kiện
cạnh tranh, các bên Nguyên đơn, đại diện các nhà xuất khẩu (Công ty Mulia
Glass của Indonesia, Công ty Guardian Industrie của Thái Lan), Hiệp hội
gốm sứ thủy tinh Việt Nam và các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam có
liên quan.Sau thủ tục tham vấn và các kết quả điều tra ban đầu, ngày
30/10/2009, VCAD đã công bố báo cáo sơ bộ về vụ điều tra này. Theo kết
quả điều tra sơ bộ, Cơ quan điều tra kết luận (i) hàng hóa sản xuất trong nước
với hàng hóa thuộc đối tượng điều tra thuộc nhóm hàng hóa tương tự; (ii) có
sự gia tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối của nhóm hàng hóa liên quan trong
giai đoạn điều tra ; (iii) thiệt hại xảy ra đối với sản xuất trong nước; và (iv)
việc gia tăng nhập khẩu là nguyên nhân cơ bản gây ra thiệt hại đối với sản
xuất trong nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, Bộ công thương không
tiến hành áp thuế phòng vệ tạm thời đối với hai nhóm hàng thuộc đối tượng
điều tra theo nhu yêu cầu của nguyên đơn. Sau 7 tháng tiến hành điều tra,
ngày 08/02/2010, Cục quản lý cạnh tranh, Bộ công thương đã công bố Báo
cáo cuối cùng về kết quả điều tra. Trong Báo cáo điều tra cuối cùng, cơ quan
điều tra kết luận (i) tuy có sự gia tăng nhập khẩu và thiệt hại đối với sản xuất
trong nước, song từ Quí II 2009, thị phần của các nhà sản xuất trong nước đã
có dấu hiệu phục hồi, cụ thể lượng bán hàng nội địa tăng lên, cùng với chiều
hướng bắt đầu suy giảm của lượng hàng hóa nội địa tồn kho; (ii) trong bối
cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2009 cùng với những biến
động trái chiều của giá dầu F.O tại thị trường Việt Nam so với thị trường thế
giới, sự gia tăng nhập khẩu không phải là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại
đối với ngành sản xuất trong nước. Từ những kết quả điều tra cơ bản trên,
cùng với thực tế là thị phần của hàng nội địa đối với hàng hóa thuộc nhóm
đối tượng bị điều tra, cho dù có suy giảm vẫn ở mức khá cao, hơn 80% tổng
thị phần tiêu thụ nội địa, cơ quan điều tra đi đến kết luận cuối cùng là việc áp
dụng các biện pháp tự vệ đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu là không còn
phù hợp.Ngày 23/2/2010, Bộ trưởng Bộ công thương ký Quyết định số
0809/QĐ-BCT về việc không áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối
với mặt hàng kính nổi nhập khẩu có mã số HS 7005 29 90 00 và 7005 21 90
Việt Nam. Hàng hoá Việt Nam không còn là sự lựa chọn như trước nữa với
tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng không chỉ vì hàng ngoại có chất
lượng tốt hơn hàng nội mà giá của các sản phẩm, mặt hàng do Việt Nam sản
xuất cũng không thể cạnh tranh được với hàng nước ngoài, nhất là hàng
nhập khẩu từ Trung Quốc.
Không chỉ có ưu thế về chất lượng và giá cả, hàng hoá nước ngoài
cũng tham gia vào các chiến dịch xúc tiến thương mại tốt hơn chúng ta như
tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại với những ưu đãi đặc biệt hấp dẫn đánh vào
tâm lý người tiêu dùng trong khi các doanh nghiệp trong nước lại không đủ
tiềm lực để chạy theo các doanh nghiệp nước ngoài trong cuộc chiến dành
giật khách hàng chiếm lĩnh thị trường. Như vậy, dù là ở thị trường nước
ngoài hay thị trường trong nước hàng hoá của Việt Nam đều gặp khó khăn
trong việc tiêu thụ. Trong bối cảnh chúng ta bị tấn công từ hai phía thì việc
đặt ra nhu cầu bảo hộ nói chung và tự vệ nói riêng cho các ngành sản xuất
trong nước bị tác động bởi chính sách mở của tự do hoá thương mại và dỡ bỏ
hàng rào thuế quan là rất cần thiết.Tuy nhiên thực trạng đang diễn ra cho
thấy doanh nghiệp Viêt nam chưa thực sự quan tâm tới các biện pháp tự vệ
thương mại.Sở dĩ chúng ta chậm trễ trong việc ban hành các văn bản pháp
luật về tự vệ thương mại một phần chính là do nhận thức của chúng ta về vấn
đề này còn chưa đầy đủ và hạn chế. Việc soạn thảo Pháp lệnh về tự vệ trong
nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam được Bộ Thương mại phối
hợp với một số Bộ khác bắt đầu tiến hành từ năm 1999 và chính thức được
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua vào tháng 5 năm 2002. Đây thực sự
là cố gắng lớn của nước ta trong một nỗ lực hoàn thiện, bổ sung hệ thống
pháp luật cho phù hợp với các quy định của quốc tế về kinh tế thương mại,
thể hiện tính tích cực chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế
của Việt Nam. Việc Pháp lệnh ra đời đã góp một phần không nhỏ trong việc
phổ biến những kiến thức chung nhất về tự vệ thương mại cho các cấp nhà
nước nói chung và các cấp doanh nghiệp nói riêng. Bởi trước đây, khi Pháp
lệnh này chưa ra đời thì những hiểu biết về vấn đề tự vệ thương mại của