TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
CƠ SỞ MIỀN TRUNG
PHAN THỊ THANH THANH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHƯƠNG
PHÁP HỌC NHÓM CỦA SINH VIÊN CƠ SỞ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI
VỤ HÀ NỘI TẠI MIỀN TRUNG
NGÀNH:QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
HỆ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
LỚP: 1305 QTVE
KHÓA: 2013 – 2017
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Quảng nam, 06/2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
CƠ SỞ MIỀN TRUNG
PHAN THỊ THANH THANH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHƯƠNG
PHÁP HỌC NHÓM CỦA SINH VIÊN CƠ SỞ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI
VỤ HÀ NỘI TẠI MIỀN TRUNG
NGÀNH:QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
HỆ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
LỚP: 1305 QTVE
KHÓA: 2013 – 2017
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Quảng nam, 06/2015
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết toàn bộ nội dung của đề tài là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả trong đề tài là trung thực và hoàn toàn khách quan.
Phan Thị Thanh Thanh
LỜI CẢM ƠN
pháp học nhóm là một trong các phương pháp học tập hiện đại, hiệu quả để để rèn
luyện cho sinh viên khả năng hợp tác, chia sẻ, tư duy phản biện Điều cần thiết đối
với con người của thế kỉ 21. Vì thế, mỗi sinh viên hãy trang bị cho riêng mình
ngay từ khi còn ngồi trong ghế nhà trường để khi ra trường có thể tồn tại và làm
việc trong các tổ chức một cách tích cực.
Và sinh viên Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại miền Trung cũng đã
dần làm quen với phương pháp học này. Những mặt tích cực của phương pháp học
này là không thể phủ nhận, nhưng không phải sinh viên nào cũng đạt được kết quả
cao nhất với phương pháp học tập này, thậm chí một số sinh viên cảm thấy nó
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
7
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
còn mang nhiều tính hình thức và nhiều khi đạt được ít hiệu quả hơn so với làm
việc theo cá nhân.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phương pháp học tập này thực sự phát huy
được hiệu quả của nó trong sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng lĩnh hội, chiếm
lĩnh tri thức, để có được kết quả học tập tốt nhất.
Chính vì điều đó, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng phương pháp học nhóm của sinh viên Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
tại miền Trung” để nghiên cứu nhằm giúp sinh viên của Cơ sở nhận thức được tầm
quan trọng của phương pháp học nhóm, có kỹ năng, có kế hoạch và tổ chức thực
hiện phương pháp học nhóm hợp lý, khoa học để phát huy tốt năng lực, giúp cho
mỗi sinh viên sẽ có kết quả cao trong quá trình học tập và lĩnh hội được tốt hơn
kiến thức của nhân loại.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong những thập kỷ gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh
vực hoạt động cụ thể được các nhà tâm lý học và giáo dục học Việt Nam quan tâm.
Cùng với sự thay đổi hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, vai trò của người học
được phát huy tích cực tối đa. Phương pháp học nhóm là một trong những hình
thức học tập phát huy tính tích cực của người học, dạy học hướng về người học. Vì
Để thực hiện đề tài tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
9
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Sưu tầm, đọc, tra cứu, nghiên cứu tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu, phân tích tổng hợp hệ thống hóa theo mục đích nghiên cứu của đề tài.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Theo dõi quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên
lớp, đặc biệt là theo dõi các buổi học tập và thảo luận nhóm của sinh viên nhằm
đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả học
tập nhóm cho sinh viên.
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
10
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Học
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang“Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự
chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát
triển nhân cách toàn diện. Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự
giác, tích cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh
khái niệm khoa học. Học có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”. [3]
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện ngôn
ngữ học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”. [4]
Như vậy có thể hiểu: Học là một loại hình hoạt động được thực hiện trong
mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, những phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện.
1.1.2. Nhóm
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nhóm là tập hợp một số ít người hoặc sự vật được
quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau
1.2.2. Sự phụ thuộc giữa các thành viên trong nhóm
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
12
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Các thành viên của nhóm cần nhận thức rằng họ cùng trong một nhóm và họ
có sự phụ thuộc lẫn nhau. Cả nhóm phải cùng hoàn thành một nhiệm vụ chung,
chính vì vậy, mỗi thành viên cần phải cố gắng hết sức mình, không phải chỉ vì
thành tích cá nhân, mà còn vì thành công của cả nhóm - cái được tạo nên từ sự cố
gắng của từng người và trở thành niềm vui chung của tất cả. Họ gắn kết với nhau
theo phương thức mỗi người cũng như toàn nhóm không thể thành công nếu mỗi
thành viên không cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình. Làm thế nào để các
thành viên trong nhóm phải phụ thuộc tích cực vào nhau là vấn đề mà bạn cần phải
chuẩn bị trước khi thiết kế nhiệm vụ giao cho nhóm.
1.2.3. Tính trách nhiệm cá nhân cao
Điều này đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm phải được phân công thực hiện
một vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm cụ thể. Các thành viên cần hiểu
rằng họ không thể trốn tránh trách nhiệm hay dựa vào công việc của những người
khác.
Trách nhiệm cá nhân là then chốt đảm bảo cho cho tất cả các thành viên
trong nhóm thực sự mạnh lên trong phương pháp học nhóm. Nói cách khác, tổ chức
dạy học theo nhóm không phải là để thay thế học tập cá nhân mà là để giúp cá nhân
thực hiện nhiệm vụ học tập của mình qua tương tác với các bạn cùng học. Do đó,
phân công nhiệm vụ như thế nào, thực hiện ra sao, kiếm tra đánh giá dưới hình thức
nào để từng thành viên trong nhóm thấy rõ trách nhiệm cá nhân của mình là những
vấn đề đặt ra cho bạn khi tiến hành dạy học theo nhóm.
1.2.4. Sử dụng hợp lí những kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội
Đó là các kĩ năng giao tiếp như: biết chờ đợi đến lượt; tóm tắt và xử lí thông
tin; biết xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt nụ cười, yêu cầu giải
thích, giúp đỡ và sẵn sàng giúp đỡ; khả năng giải quyết bất đồng như kiềm chế bực
bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ sở miền Trung có con dấu, tài khoản riêng tại kho bạc nhà nước và ngân
hàng.
Cơ sở miền Trung đặt trụ sở chính tại Khu Đô thị mới Điện Nam – Điện
Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
15
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
2.1.1.2.Nhiệm vụ và quyền hạn
Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển hàng năm, ngắn hạn, dài hạn. Xây
dựng các văn bản quản lý phục vụ hoạt động của Cơ sở miền Trung;
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học
và thấp hơn thuộc các ngành, lĩnh vực Trường Đại học Nội vụ Hà Nội được phép
đào tạo.
Tổ chức tuyển sinh, khai giảng, bế giảng và trao bằng tốt nghiệp, cấp bảng
điểm toàn khóa cho sinh viên; tổ chức thi, quản lý bài thi và kết quả thi kết thúc
học phần cho các lớp thuộc Cơ sở miền Trung quản lý;
Xây dựng và triển khai các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
theo nhiệm vụ được giao;
Đề xuất thay đổi về cơ cấu tổ chức, nhân sự; quản lý viên chức, người lao động
và người học thuộc Cơ sở miền Trung. Thực hiện ký hợp đồng lao động vụ việc theo
phân cấp của Hiệu trưởng;
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; sử
dụng nguồn thu từ hoạt động đào tạo và dịch vụ để đầu tư xây dựng Cơ sở vật chất
của Cơ sở miền Trung và chi cho các hoạt động đào tạo theo quy định của pháp
luật;
Xây dựng Cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
Chủ trì, tìm kiếm và phối hợp với các đối tác xây dựng và thực hiện các
chương trình liên kết về đào tạo các bậc, hệ đào tạo;
Quản lý nội dung, phương pháp, chất lượng đào tạo; quản lý chất lượng hoạt
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Chấp hành pháp luật về giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục;
Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê Cơ sở vật chất;
được miễn, giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật;
Thực hiện chế độ báo cáo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Bộ Nội vụ và các
cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động của Cơ sở theo quy định của pháp luật;
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và quy chế làm
việc của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
Thực hiện nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao.
2.1.1.3. Các bậc đào tạo tại Cơ sở
Là một bộ phận của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Cơ sở miền Trung có
chức năng, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng thuộc lĩnh vực nội vụ
cùng các ngành nghề khác theo nhu cầu xã hội trên địa bàn miền Trung và Tây
Nguyên.
-Các ngành đào tạo của bậc Đại học:
+ Quản lý nhà nước;
+ Quản trị văn phòng;
+ Quản trị nhân lực;
+ Lưu trữ học.
-Các ngành đào tạo của bậc Cao đẳng:
+ Quản trị nhân lực;
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
18
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
+ Quản trị văn phòng;
+ Văn thư lưu trữ;
+ Hành chính học;
+ Dịch vụ pháp lý.
-Các ngành đào tạo bậc trung cấp:
+Hành chính văn phòng;
Và một số bằng khen, giấy khen của các đơn vị, tổ chức đoàn thể khác.
2.1.2. Thực trạng Cơ sở trường
2.1.2.1.Thuận lợi
Về Cơ sở vật chất: mặc dù hiện tại Cơ sở trường đang trong quá trình hoàn
thiện nhưng cở sở phòng học cũng như các Cơ sở vật chất hổ trợ việc dạy, học,
hoạt động của sinh viên cũng được đáp ứng khá tốt như: thư viện trường đáp ứng
nhu cầu bạn đọc với một phòng đọc, một phòng mượn, một phòng học nhóm.
Về trang thiết bị: hệ thống thiết bị phục vụ giảng dạy đã được đáp ứng phần
nào nhu cầu dạy và học. Thư viện cũng trang bị giá sách và các bàn đọc, hệ thống
đèn điện đủ sáng, không gian thư viện thoáng mát, sạch sẽ tạo điều kiện tốt cho bạn
đọc đến thư viện nghiên cứu và học tập.
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
20
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
2.1.2.2.Hạn chế
Các trang thiết bị dành cho thư viện còn chưa thực sự đầy đủ, chưa có hệ
thống mấy tính cho sinh viên khi đến thư viện học tập.
Là Cơ sở cũng mới thành lập, việc không đáp ứng được hết yêu cầu học tập
cũng là chuyện không thể tránh khỏi, việc sinh viên và nhà trường đôi lúc không
thể tự chủ được thời khóa biểu cũng như lịch thi, kế hoạch các hoạt động là đương
nhiên vì là Cơ sở của trường chính.
Về Cơ sở hạ tầng, trường cũng đang rất nổ lực hoàn thiện Cơ sở vật chất cho
được hoàn thiện, tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu sót trong Cơ sở vật chất của trường
như: hệ thống phòng học chưa hoàn thiện, trang thiết bị trong phòng học ở một số
phòng học chưa đảm bảo, hệ thống các công trình dành cho hoạt động thể thao vẫn
còn hạn chế.
2.2. Thực trạng về phương pháp học nhóm của sinh viên Cơ sở Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội tại miền Trung
Là Cơ sở mới, vì thế trong quá trình học tập, việc áp dụng phương pháp học
nhóm của sinh viên Cơ sở còn nhiều yếu điểm và hạn chế, chưa phát huy tối đa và
nhiều bất cập trong việc làm việc nhóm của sinh viên đặc biệt là tính hiệu quả và
chuyên nghiệp. Cái quan trọng là nhà trường cần có những phương pháp, những
chuẩn mực và quy tắc cụ thể trong việc hướng dẫn tạo điều kiện thuân lợi cho sinh
viên phát triển và hoàn thiện kỹ năng làm việc nhóm của mình hơn.
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
22
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
2.2.2. Đánh giá tổng quát thực trạng
2.2.2.1. Ưu điểm
Phần lớn sinh viên của Cơ sở đã nhận thức được vai trò và ý nghĩa của
phương pháp học nhóm. Phương pháp này đã tạo cơ hội cho sinh viên được thể
hiện mình, trở nên mạnh dạn hơn, tự tin hơn, có trách nhiệm hơn; tăng cường sự
gắn kết các thành viên trong lớp hơn, giúp thành viên thu nhận và nắm vững nhiều
kiến thức hơn.
Các giảng viên đã tích cực vận dụng phương pháp học nhóm trong quá trình
giảng dạy giúp sinh viên tự tìm hiểu kiến thức và rèn luyện khả năng làm việc
nhóm.
Phương pháp học nhóm đã tạo ra nhiều sản phẩm trí tuệ rất phong phú và
chất lượng được thầy cô ghi nhận, đánh giá cao.
2.2.2.2. Hạn chế
Hiệu quả của hoạt động nhóm còn chưa cao, phần lớn hoạt động nhóm còn
mang tính hình thức, chú trọng tạo ra sản phẩm để nộp thầy cô mà ít chú trọng đến
quá trình hợp tác nhóm để tạo ra sản phẩm.
Hầu hết sinh viên đều thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, đặc biệt là kỹ năng
giải quyết xung đột, kỹ năng chia sẻ trách nhiệm, kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá
hoạt động nhóm
Ý thức tham gia, đóng góp ý kiến của sinh viên còn chưa cao, một số sinh
viên còn mang tâm lý trông chờ, ỷ lại
Đa số nhóm trưởng còn thiếu kỹ năng trong điều hành và quản lý hoạt động
của nhóm.
GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
định mà thường thay đổi theo các đề tài. Có khi cứ mỗi đề tài được đặt ra thì lại
thành lập một nhóm riêng, và vì vậy có người cùng một lúc sẽ là thành viên của
nhiều nhóm khác nhau và có vai trò khác nhau trong các nhóm đó. Kiểu lập nhóm
này khiến cho mỗi người sẽ không có đủ thời gian để hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, công việc trở nên chồng chéo và kém hiệu quả.
Thứ hai, năng lực của người trưởng nhóm không cao hoặc là chưa phù hợp.
Trưởng nhóm thiếu các kĩ năng về lãnh đạo, sắp xếp các công việc cụ thể và sát với
khả năng và trình độ của các thành viên trong nhóm của mình. Và các nhóm trưởng
thường thiếu kinh nghiệm trong việc phân định rõ ràng nhiệm vụ cho các thành
viên cũng như phối hợp các thành viên lại với nhau khi làm việc. Hoặc có thể
người trưởng nhóm quá ôm đồm trong công việc, thiếu khả năng lãnh đạo nên để
cho các thành viên không có ý thức làm việc mà chỉ để cho người nhóm trưởng
phải tự mình làm còn mọi người ngồi không.
Thứ ba, thích làm thầy chứ không thích làm thợ. Đó là tâm lý chung của
người Việt Nam, thích dạy bảo người khác chứ không thích ai lên mặt với mình.
Thứ tư, nể nang các mối quan hệ. Người phương Tây có cái tôi rất cao nhưng
lại sẵn sàng cùng nhau hoàn thành công việc cần thực hiện. Họ thường rất ít để việc
riêng ảnh hưởng đến công việc chung của cả nhóm, đặc biệt các mối quan hệ trong
công việc được tách bạch một cách rõ ràng. Khi tranh luận, họ luôn hướng thẳng
vào vấn đề cần phải giải quyết và tranh cãi một cách nhiệt tình, đúng mực để đi đến
kết quả cuối cùng đó là sự thống nhất của các thành viên và giải quyết công việc có
hiệu quả. Còn người Việt trẻ chỉ chăm chăm xây dựng mối quan hệ tốt giữa các
thành viên trong đội, tỏ ra rất coi trọng bạn bè nên những cuộc tranh luận thường
được đè nén cho có vẻ nhẹ nhàng. Đôi khi có cãi nhau vặt theo kiểu công tư lẫn
lộn. giá sang lĩnh vực đạo đức, thái độ làm việc. Đa phần các nhóm làm việc của
sinh viên Cơ sở được lập nên bởi sự lựa chọn theo tính cách chơi với nhau ở trên
SVTH: Phan Thị Thanh Thanh – LỚP 1305 QTVE
25