Giải nghĩa từ ngữ trong văn bản “Sông nước Cà Mau - Pdf 28

Bài tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN!
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này chúng tôi đã nhận
được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Xã hội trường ĐHSP Hà Nội,
đặc biệt là sự chỉ đạo hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ - Giảng viên chính
Đinh Văn Thiện. Chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
thầy.

Do thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài này có hạn, nên không
tránh khỏi những thiếu sót; chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến chỉ
bảo của các thầy, các cô cùng các ý kiến đóng góp của các bạn đồng
nghiệp, các bạn yêu tiếng Việt.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hưng Yên, ngày 20 tháng 6 năm 2009
Người thực hiện đề tài :

Nguyễn Thị Trung Thành

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
1
Bài tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 1
Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài 3
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
III. Ý nghĩa của đề tài 4
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
V. Phương pháp nghiên cứu 5
VI. Bố cục bài tập 5

hiện hiệu quả nếu giáo viên và học sinh không nắm được nghĩa của từng từ
ngữ cụ thể trong văn bản đó.
3. Xu hướng tích hợp trong giảng dạy buộc người giáo viên phải biết
vận dụng những kiến thức liên ngành, mà cụ thể trong ngôn ngữ văn là biết
vận dụng các kiến thức của phân môn Tiếng Việt vào giảng dạy trong văn
bản đọc hiểu và giảng dạy Tập làm văn. Nắm được nghĩa của các từ ngữ cụ
thể sẽ là điều kiện để học sinh làm giàu vốn từ.
4. Hơn nữa, nghĩa của từ ngữ tồn tại ở hai dạng: Tĩnh và động.
Nghĩa của từ ngữ ở trạng thái tĩnh được hiểu là nghĩa tiềm năng của từ
ngữ khi chưa được đem ra sử dụng.
Đối lập với trạng thái tĩnh là nghĩa của từ ở trạng thái động. Đó chính
là nghĩa của từ được hiện thực hoá trong hoàn cảnh sử dụng cụ thể. Do vậy
sẽ là thiếu đầy đủ nếu chỉ nghiên cứu một trạng thái nào đó trong nghĩa của từ.

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
3
Bài tập tốt nghiệp
Từ những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài : Giải nghĩa từ ngữ trong
văn bản “Sông nước Cà Mau” làm đối tượng nghiên cứu của bài tập tốt
nghiệp này.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này chúng tôi làm rõ các đặc điểm về nghĩa của từ,
mối quan hệ giữa nghĩa của từ ở trạng thái tĩnh với nghĩa của từ ở trạng thái
động.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích trên chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Đọc các tài liệu có liên quan về nghĩa của từ ngữ để xây dựng cơ sở lí luận
cho đề tài.
- Thống kê các từ có trong văn bản : “Sông nước Cà Mau”.

- Phương pháp tổng hợp,
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa,
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh,
- Phương pháp thống kê
VI. BỐ CỤC BÀI TẬP
Bài tập này ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, được
triển khai thành hai chương:
Chương I: Cơ sở lí thuyết
Chương II: Văn bản "Sông nước Cà Mau" - Nghĩa các từ ngữ có
trong văn bản "Sông nước Cà Mau"

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
5
Bài tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
I. TỪ VÀ TỪ TIẾNG VIỆT
1. Từ
Theo giáo trình của thầy Đỗ Hữu Châu, từ được hiểu như sau: “Từ là
đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ… nhưng nó lại là đơn vị nhỏ nhất ở
trong câu, là đơn vị trực tiếp để tạo câu”. Nó là những đơn vị thực tại hiển
nhiên của ngôn ngữ, có tính sẵn có cố định bắt buộc, nó có các hình thức
ngữ âm và các ý nghĩa.
Ví dụ: Nhà, đường, sáng
2. Từ Tiếng Việt.
“Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất
định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt
và nhỏ nhất để tạo câu”(Đỗ Hữu Châu – từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt/ trang
16)
Từ Tiếng Việt có các đặc điểm về ngữ âm, ngữ pháp như sau:

- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật.
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với năng biểu niệm.
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
1. Nghĩa biểu vật
“Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật hiện tượng trong thực tế vào
ngôn ngữ. Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế,
nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế”.(Từ vựng ngữ nghĩa – Tiếng Việt)
Trong từ vựng của tất cả các ngôn ngữ có một bộ phận lớn các từ mà ý
nghĩa biểu vật của chúng trùng với sự vật, biểu vật, biểu tượng, tính chất
ngoài ngôn ngữ. Nhưng đối với các từ thông thường thì khác.
a. Sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau trong ngôn ngữ và ý nghĩa
biểu vật. Thực tế khách quan về cơ bản đồng nhất đối với mọi dân tộc, đối
với mọi ngôn ngữ. Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
7
Bài tập tốt nghiệp
bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt không trùng danh giới
của thực tế.
Chẳng hạn như: Để chỉ hoạt động “ dùng nước làm cho sạch”ở tiếng
Việt có các từ : Rửa, dội, giặt, vo…, ở tiếng Anh chỉ có một từ: To wash
(làm sạch). Như thế số lượng từ của ngôn ngữ này ứng với một phạm vi sự
vật, hiện tượng khách quan có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với số lượng
từ ngữ ở ngôn ngữ kia.
Ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng y như chúng có
trong thực tế khách quan . Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi.
b. Tính cá thể, cụ thể của sự vật, hiện tượng trong thực tế và tính khái
quát của các ý nghĩa biểu vật.
Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng bao giờ tồn tại chỉ trong dạng cá thể .
Hơn thế nữa, sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan gắn bó

Ví dụ: “Bàn” (đồ dùng), (có mặt phẳng), (chân cứng) (dùng để đặt các
đồ vật, hay làm việc), (làm bằng gỗ, đá) . (Đồ dùng) chính là nét nghĩa
chung khái quát các nét nghĩa còn lại ( có mặt phẳng, chân cứng ) chính là
ý nghĩa biểu niệm.
Nghĩa biểu niệm là một tập các nét nghĩa phạm trù , khái quát chung
có nhiều từ nên có gọi nó là cấu trúc biểu niệm.
Tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có
quy tắc, giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Các từ thuộc các từ
loại khác nhau,có cách tổ chức các nét nghĩa khác nhau.Còn các ý nghĩa
biểu niệm của những từ trong một từ loại có tổ chức giống nhau.
Ví dụ: cắt, chặt, lành, hiền từng đôi một có tổ chức ý nghĩa biểu
niệm giống nhau.
So sánh nét nghĩa của các từ trong cặp chúng ta thấy có những nét
nghĩa chung cho nhiều từ và những nét nghĩa riêng cho từng từ.
Ví dụ: (Đồ dùng) là nét chung cho các từ (bàn, ghế, giường, tủ.)
Tính chất chung , riêng của các nét nghĩa chỉ là tương đối. Có tính
chất chung rộng, có tính chất chung hẹp.

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
9
Bài tập tốt nghiệp
Các nét nghĩa còn khác nhau ở tính chất khái quát và cụ thể. Một nét
nghĩa khái quát khi nó có thể được phân chia thành những nét nghĩa nhỏ hơn
nằm trong nó.
Tính chất khái quát ,cụ thể cũng là tương đối: nét nghĩa này so với nét
nghĩa bao trùm nó là nét nghĩa cụ thể, nhưng so với nét nghĩa hẹp hơn, do
nó phân hoá ra, lại là nét nghĩa khái quát.
Nhưng các nét nghĩa khái quát không thể đưa về nét nghĩa khái quát hơn
mà chỉ có thể phân hoá về các nét nghĩa cụ thể (Nét nghĩa phạm trù hay phạm
trù ngữ nghĩa).

1. Khái niệm
Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội nảy sinh nhiều sự vật hiện
tượng mới. Để làm tròn chức năng là công cụ giao tiếp và tư duy của mình,
ngôn ngữ phải sáng tạo thêm những từ mới để biểu thị những sự vật hiện
tượng mới có 2 con đường để sáng tạo thêm từ đó là: tạo từ mới với những
hình thức âm thanh mới và tạo ý nghĩa mới cho những từ có sẵn để chỉ
những sự vật hiện tượng mới. Đó chính là hiện tượng nhiều nghĩa của từ
Tiếng Việt.
Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra cả với ý nghĩa biểu vật, cả với ý
nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái.
Ở đây, chúng ta chỉ bàn tới những trường hợp nhiều nghĩa biểu vật và
nhiều nghĩa biểu thái.
a. Hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật
Một từ nhưng biểu thị nhiều sự vật hiện tượng khác nhau.
Ví dụ: Mũi:
1. Bộ phận của cơ quan hô hấp.
2. Bộ phận nhọn của vũ khí: Mũi dao, mũi sáng.
3. Phần trước của tàu thuyền: Mũi tàu, mũi thuyền.
4. Phần đất nhô ngoài biển: Mũi đất, mũi Cà Mau.
5. Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có cái mũi rất thính .
6. Đơn vị quân đội: Mũi quân bên trái.
Ví dụ : Chín:
1. Quả, cây đã đến thời kì phát triển cao nhất: quả chín, lúa chín.

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
11
Bài tập tốt nghiệp
2. Nấu thức ăn đến lúc ăn được: cơm chín, thịt chín.
3. Có dùng lửa: vá chín.
4. Suy nghĩ kĩ, đầy đủ: nghĩ đã chín mới nói.

lên men hoặc không bị hư thối trong một thời gian) (muối làm nguyên liệu).
Muối dưa.
Đặc điểm ngữ pháp và đi kèm chúng là các ý nghĩa ngữ pháp
của các từ loại nhỏ trong một từ loại lớn. Một hình thức ngữ âm, tuy cùng
thuộc một từ loại lớn nhưng có thể hoạt động trong những đặc điểm ngữ
pháp khác nhau của các tiểu lọai trong từ loại lớn đó thì cũng là một từ có
nhiều nghĩa biểu hiện.
Tính đồng nhất giữa các nghĩa biểu niệm được tách ra trong một
từ với ý nghĩa biểu niệm của từ khác. Nghĩa là từ tách một ý nghĩa nào đó
của từ thành một ý nghĩa biểu niệm tương đối độc lập với các ý nghĩa biểu
niệm khác khi nó có cấu trúc biểu niệm chung với một số từ khác trong từ
vựng.
Ví dụ: Che:
- Có cấu trúc biểu niệm ( đậy, phủ, bịt, bảo vệ) (hoạt động) (tác
động đến một vật nào đó) (để bảo vệ chống tác động khác của vật
bên ngoài).
- Có cấu trúc biểu niệm: (ngăn, cản, chống) che đạn, che mưa
(hoạt động) (tác động đến vật khác ) (hạn chế tác động của vật đó đến vật
khác cần bảo vệ).
Như vậy, có hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa
của từ. Trong sự chuyển biến ý nghĩa có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn
nữa. Nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn tại,
cùng hoạt động.
Sự chuyển ý nghĩa cũng là một phương thức để tạo thêm từ mới bên
cạnh các phương thức ghép hoặc láy.
2. Các phương thức chuyển nghĩa.
Hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến là ẩn dụ và hoán dụ :
a. Ẩn dụ (Biện pháp so sánh ngầm).

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành

ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
14
Bài tập tốt nghiệp
những cảm giác của giác quan khác hay những “cảm giác” của trí tuệ tình
cảm.
Ví dụ: “Nắng giòn tan”, “lời nói ngọt ngào”…
Sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế nét nghĩa đồng nhất không phải
bao giờ cũng tách bạch, dứt khoát. Trong nhiều ẩn dụ không phải chỉ một
mà thường là một số nét nghĩa cùng tác động.
Nắm được cơ chế ẩn dụ nhất là cơ chế các nét nghĩa là rất cần thiết để
hiểu sâu sắc ý nghĩa của từ và hiểu các hàm ý.
b. Hoán dụ.
Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện
tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình,
gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ:
Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.
Trong Tiếng Việt phương thức hoán dụ có các cơ chế sau:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận- toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật
x và y, x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận.
Cơ chế này có các dạng nhỏ :
+ Lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể, cho cả
người, hay cho cả toàn thể.
Ví dụ: “Chân ” là tên gọ bộ phận cơ thể, nhưng “chân” trong “có chân
trong đội bóng đá” thì lại chỉ cả người, cả cơ thể trọn vẹn.
Trường hợp: “Trước sân trồng mấy gốc cau” thì “gốc” dùng thay
“cây”. Đây là hoán dụ bộ phận gọi thay toàn bộ.

- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất .
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên liệu đó.
Ví dụ: “Muối dưa” – “Muối” là các nguyên liệu, chúng được chuyển
nghĩa để gọi tên các hoạt động.
- Ngoài ra còn có hoán dụ, dựa vào quan hệ sự vật và màu sắc; dựa
vào quan hệ giữa tíng chất của sự vật và bản thân sự vật.
Ví dụ: da lươn, da cam…

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
16
Bài tập tốt nghiệp
* Phương thức ẩn dụ và hoán dụ có thể ở ngay trong một từ
Ví dụ: Màn:
1. Tấm vải rộng dùng để che, chắn.
2. Vải thừa khâu để chống muỗi
3. Phần của vở kịch, vở tuồng
4.Một cảnh đời, nói một cách hài hước.
Các nghĩa 2,3 là những nghĩa phụ theo phương thức hoán dụ. Nghĩa 4
là nghĩa ẩn dụ từ nghĩa 3.
IV. THÀNH NGỮ
1. Khái niệm
Thành ngữ là những cụm từ cố định về nghĩa và chức năng có tính
chặt chẽ sẵn có bắt buộc dùng để diễn đạt một khái niệm; có tính xã hội
như từ:
Ví dụ: Ăn sổi ở thì, Mẹ tròn con vuông.
Già kén kẹn hom. , Đầu trâu mặt ngựa
2. Đặc điểm của thành ngữ
Thành ngữ có các đặc điểm bề mặt ngữ nghĩa như tính biểu trưng ;tính
dân tộc ; tính hình tượng và tính cụ thể ; tính biểu thái.
a. Tính biểu trưng

Tài liệu của thành ngữ là sự vật, sự kiện cảm giác được quan sát được cho
nên nhắc đến một thành ngữ trước hết là tái hiện lại chính những hình ảnh
về các sự vật hiện tượng ở tài liệu đó.
Nhờ tính hình tượng mà thành ngữ thường gây ấn tượng mạnh mẽ đột
ngột, đậm đà sâu sắc thú vị. Nó mang tính chất của các sáng tác văn học, đã
cố định hoá thành phương tiện giao tiếp.
Do có tính hình tượng nên thành ngữ có tính cụ thể. Tính phổ biến,
khái quát của ý nghĩa các thành ngữ bị chi phối bởi tính cụ thể, tính cụ thể
lại gắn liền tính hình tượng.
Tính cụ thể hiện ở tính bị quy định về phạm vi sử dụng. Nó có tính
phổ biến khái quát, song các thành ngữ không phải có thể dùng cho bất cứ
sự vật hiện tượng nào miễn là nó có tính chất hay đặc điểm mà ngữ biểu thị.

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
18
Bài tập tốt nghiệp
Tính bị quy định về sắc thái làm cho nghĩa của các thành ngữ hẹp lại, do
đó tính cụ thể tăng lên.
d. Tính biểu thái
Các thành ngữ thường kèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá, có thể
nói lên hoặc lòng kính trọng, hoặc sự ái ngại, lòng khinh bỉ, thái độ chê
bai… của chúng ta đối với vật hay việc được nói tới.
Như vậy tất cả các đặc điểm trên của thành ngữ tạo nên giá trị của nó.
Thành ngữ ngắn gọn mà hàm súc, cô đọng.
V. CÁC CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ NGỮ
Theo thầy Đỗ Hữu Châu : Trung tâm của việc dạy từ vựng là dạy từ .
Thông qua việc dạy từ mà giáo viên truyền đạt luôn những tri thức cần thiết
khác về từ vựng ngữ nghĩa, nhằm làm cho học sinh không những, hiểu
được và sử dụng đúng từ ấy mà còn làm cho họ nắm bắt được những cái
tinh tế chứa đựng trong đó, hiểu được những đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc,

không cho một sức chống đối của một lực lượng xã hội, thường là một lực
lượng phản động, bộc lộ ra.
2.Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
Là cách giải nghĩa một từ bằng cách quy nó về những từ đã biết.
Nhất thiết các từ dùng để quy chiếu đó phải được tìm hiểu kĩ.
VD: Ngắn: Trái nghĩa với dài.
Cam tâm: cũng như cam lòng.
Vì từ đồng nghĩa thường khác nhau về sắc thái, cho nên cách giảng
theo lối so sánh chỉ áp dụng cho những từ đồng nghĩa tuyệt đối. Đối với từ
đồng nghĩa khác nên kết hợp giải nghĩa theo lối so sánh với giải nghĩa theo
khái niệm.
Đó là cách chọn một từ đồng nghĩa khái quát, chung nhất để giải nghĩa
rồi bổ sung thêm những nét nghĩa chung tuỳ theo từng từ.
3.Giải nghĩa theo cách miêu tả
Cách này có hai dạng.
+Thứ nhất : là dạng dẫn tính chất, hiện tượng thường gặp để giúp
cho học sinh lĩnh hội ý nghĩa của từ.
VD:

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
20
Bài tập tốt nghiệp
Đỏ : chỉ màu như màu của máu tươi.
Vui : ở trạng thái tâm lí tích cực, không hướng tới đối
tượng bên ngoài, khi gặp một điều gì tốt đẹp, có lợi hoặc được thoả mãn
một mong ước
+ Thứ hai, đối với các từ có chức năng biểu hiện cao như từ láy sắc
thái hoá chẳng hạn, một mặt vừa phải kết cách giải nghĩa theo khái niệm,
mặt khác vừa phải dùng lối miêu tả. Để miêu tả, chúng ta có thể lấy một sự
vật, hoạt động cụ thể làm chỗ dựa rồi miêu tả sự vật, hoạt động đó sao cho

từ, ngữ cố định, cụm từ tự do, thậm chí cả câu, nếu như các đơn vị lời nói
này tương đương với một loại hình ảnh ngôn ngữ. Thường thường đây là
những ẩn dụ hay hoán dụ có hình thức diễn đạt trên từ. Thí dụ câu “cành
táo đầu hè rung rinh quả ngọt” (Tỗ Hữu) và cụm từ "quả ngọt" trong đó đ-
ược xem như một đơn vị từ ngữ, ngữ cố định, đúng cho cả việc phân tích
các đơn vị trên.
2. Việc phân tích từ ngữ phải đạt hai yêu cầu chủ yếu bao quát: yêu
cầu phát hiện được tư tưởng, tình cảm…của tác giả gửi gắm trong từ ngữ
và yêu cầu phát hiện ra các giá trị nghệ thuật của nó. Hai yêu cầu này tuy
khác nhau nhng thực ra lại quyện vào nhau: từ ngữ có giá trị nghệ thuật là
từ ngữ bộc lộ một cách sinh động, lôi cuốn điều tác giả muốn nói. Giá trị
nghệ thuật đầu tiên, quyết định của từ ngữ (và các phơng tiện nghệ thuật
khác được sử dụng trong tác phẩm nói chung) là ở chỗ nó bộc lộ được tư
tưởng, tình cảm. Mức độ của giá trị nghệ thuật trong từ ngữ được đánh giá
trước tiên ở mức độ truyền cảm, lôi cuốn (tức của hiệu quả giao tiếp) của
cái nội dung mà từ ngữ đó diễn đạt.
a. Để phát hiện đúng đắn nội dung của các từ ngữ , sự hiểu biết về nội
dung của toàn bộ tác phẩm, của ý chính từng đoạn, từng câu… là rất quan
trọng (không kể những hiểu biết văn học khác ngoài tác phẩm đang giảng).
Nói rõ hơn, việc phân tích từng từ một về nội dung không thể là một việc
làm cô lập mà phải đặt trong khuôn khổ chung của toàn tác phẩm (thậm
chí trong khuôn khổ một thời đại sáng tác và cả lịch sử của nền văn học
Việt Nam). Nghĩa là phải từ chung đến riêng. Song cũng phải nói rằng sự

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
22
Bài tập tốt nghiệp
hiểu biết đúng đắn, không suy diễn quá xa ý nghĩa từng từ một cũng góp
phần hiểu đúng đắn hơn ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm.
b. Căn cứ để bình giá trị nghệ thuật của từ ngữ chính là những yêu

Tất nhiên, không phải để viết được bất cứ từ nào trong tác phẩm, tác
giả cũng đều phải “mang nặng đẻ đau” nh thế cả. Thường thì từ ngữ tự đến
với tư tưởng và cảm xúc, nhất là ở những tác giả đã vững kỹ thuật. Song,
những quá trình như vậy không phải là không xảy ra. Nhà thơ Huy Cận
trước khi dừng lại ở những từ ngữ trong hai câu:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
đã băn khoăn giữa các từ: cục và hòn, dài và cài
“Mặt trời xuống biển như cục lửa
Sóng đẩy then dài, đêm sập cửa”
c. Trước khi nói đến nội dung và cái hay, cái đẹp về mặt nghệ thuật
của tác phẩm, phải hiểu thật đúng đắn ý nghĩa của câu văn, câu thơ. Rất tiếc
là trong cách giảng văn hiện nay nhiều thày giáo, cô giáo quên cái bước
đầu tiên này, do đó đã bình giá trị trên cơ sở cách hiểu không đầy đủ, thậm
chí sai lầm ý nghĩa của câu.
Bài thơ “Giải đi sớm” của Hồ Chủ tịch được dịch như sau:
‘‘Gà gáy một lần đêm chửa tan
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn
Người đi cất bước trên đường thẳm
Rát mặt đêm thu trận gió hàn.’’
Hai câu ba, bốn của bài dịch gợi ra nỗi ngậm ngùi, pha đôi chút rên
xiết, do các từ cất bước, đường thẳm, rát mặt mà có.
Nguyên văn chữ Hán như sau:
“Nhất thứ kê đề dạ vị lan
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.”
Người dịch không chú ý đầy đủ đến các từ "chinh nhân", "chinh đồ",
"dĩ tại". Chinh nhân là ngời đi trên đường xa. Nhưng chinh cũng gợi liên


lòng” của Tố Hữu được hiểu là tíêng gươm chém đầu Nguyễn Trãi, hoặc

Người thực hiện:Nguyễn Thị Trung Thành
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status