Phơng pháp dạy luyện nói trong môn Ngữ văn lớp 9
A. Đặt vấn đề
I. Cơ sở lí luận
Tục ngữ có câu: Học ăn, học nói, học gói, học mở. Không ngẫu nhiên mà
học nói đợc xếp vào vị trí thứ hai của câu nói. Điều này cho ta thấy nói là một kĩ
năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Nhng không phải ngời nào cũng khẳng
định là nói đúng những gì mình đã nghĩ hoặc nói mà ngời nghe hiểu đúng ý mình đang
nói. Nói thành lời thì dễ- ai cũng có thể nói đợc nhng nói thế nào để mang tính thuyết
phục đối với ngời nghe thì quả thật không phải là dễ. Chính vì thế, luyện nói là một
trong những nội dung quan trọng của chơng trình Ngữ Văn THCS nói chung và môn
Ngữ văn Lớp 9 nói riêng. Vì vậy, tôi đa ra vấn đề này một phần luyện cho học sinh
biết vận dụng từ ngữ và các quy tắc ngữ pháp đã học để nói đúng, viết đúng, biết diễn
đạt ý tởng chính xác, rõ ràng, trong sáng; kỹ năng nói trớc tập thể. Mặt khác, giúp học
sinh tập phát biểu bày tỏ ý kiến, quan điểm riêng của cá nhân về những vấn đề gần gũi,
thiết thực với cuộc sống hàng ngày, qua tiết luyện nói này học sinh còn rèn luyện kỹ
năng tìm ý, lập dàn ý nhằm ôn lại kiến thức bài học phân môn Tập làm văn, Tiếng
Việt, Văn. Ví dụ ở lớp 9 luyện nói tự sự kết hợp với tự luận và miêu tả nội tâm, luyện
nói văn nghị luận (nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ).
Nh chúng ta đã biết, tiết luyện nói phần lớn thời gian là để học sinh tập nói, giáo
viên chỉ nghe và quan sát, theo dõi nhng phải thật tỉ mỉ, thật khéo léo trong việc nhận
xét, góp ý cho học sinh để các em khắc phục hạn chế. Đồng thời, giáo viên khi dạy tiết
luyện nói này điều đầu tiên phải dẫn dắt vào đề để tạo cảm hứng ở học sinh cũng vừa
giúp các em cảm thấy tự tin, tự nhiên khi bắt đầu lên trình bày trớc lớp. Bởi vì, để đạt
đợc mục đích của tiết luyện nói là rất khó. Mặc dầu, qua tiết dạy học Ngữ văn giáo
viên luôn kiểm tra bài cũ, đối thoại, phát vấn trong khi xây dựng bài mới nhng thực tế
cho thấy kĩ năng nói của học sinh còn rất yếu. Điều này, một phần do các em đều xuất
thân và sinh sống ở vùng nông thôn vốn đã nhút nhát lại ít có dịp đi đây đó để mở rộng
tầm nhìn nên thờng có tâm lí e dè, ngại nói hoặc không tự tin khi nói trớc tập thể. Mặt
khác có thể do các em cha làm chủ đợc kiến thức. Hơn nữa có thể do giáo viên tổ
chức, hớng dẫn khó hiểu và không gây đợc sự hứng thú ở học sinh đồng thời các em
nh kiểm tra bài cũ và thời lợng dài hơn là tiết luyện nói nhng đa số học sinh cha tự tin,
cha tự nhiên còn e dè, không giám nói hoặc nói ấp úng, lủng củng không rõ ràng, nói
ngập ngừng, không đúng trọng tâm, không nói đợc những điều mình muốn nói. Hơn
nữa học sinh vẫn còn mang nặng tính ỉ lại cho những bạn học khá, giỏi nên kĩ năng nói
của các em còn hạn chế. Mặt khác, giờ luyện nói các em cha thật sự đầu t, cố gắng hết
mình nên tiết luyện nói cha hiệu quả nh mong muốn.
III. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và phơng pháp nghiên cứu
1. Mục đích nghiên cứu:
Bản thân tôi là giáo viên dạy môn Ngữ văn lớp 9 nhiều năm rồi nhng chính tôi cũng
thấy trong quá trình dạy tiết luyện nói trong cả cấp học THCS có mặt thuận nhng có
mặt khó khăn. Chính vì thế, tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra những phơng
pháp, định hớng, ý tởng hay nhất để nhằm đạt hiệu quả cao trong tiết luyện nói. Đồng
thời còn giúp cho giáo viên chủ động phát huy kinh nghiệm của cá nhân, linh hoạt vận
dụng các hình thức đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng tích cực của học sinh, vận
dụng sáng tạo lý thuyết giao tiếp vào dạy học giờ luyện nói. Làm tốt việc này, sẽ kích
thích mạnh mẽ ý thức tự giác, chủ động sáng tạo, khơi lòng say mê, hứng thú vơn lên
trong học tập của các em. Đặc biệt nhất đối với tiết học luyện nói ở môn Ngữ văn 9 sẽ
tạo điều kiện cho các em bộc lộ đợc những suy nghĩ, phát biểu ý kiến riêng của mình
cho một vấn đề nào đó một cách tự chủ, tự tin, mạnh dạn, lu loát và diễn cảm.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một số yêu cầu khi tiến hành tiết luyện nói
- Đa ra một số phơng pháp trong giảng dạy tiết luyện nói môn Ngữ văn lớp 9
- Đa ra các ví dụ để định hớng, hớng dẫn cho học sinh khi tiến hành tiết luyện nói (tiết
139,140).
3. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này rất cần thiết đối với tất cả các khối lớp trong nhà trờng THCS, nhng ở
đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp ở bộ môn Ngữ văn lớp 9. Đó là đa ra một số
phơng pháp áp dụng vào việc dạy học tiết luyện nói. Và đề tài này không phải dành
cho những học sinh khá, giỏi mà cho tất cả học sinh đại trà.
4. Phơng pháp nghiên cứu:
2 Học sinh:
- Học sinh nói phải có nội dung, có suy nghĩ; nói theo đề cơng mà nội dung đã chuẩn
bị, khi diễn đạt nói chon dẫn chứng tiêu biểu, nhấn mạnh điều ngời nghe cha hiểu.
- Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, cao độ vừa phải, truyền cảm và
thuyết phục ngời nghe, tránh dùng từ ngữ địa phơng
- Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói; tác phong tự nhiên,
phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy, mắt nhìn thẳng mọi ngời. Không nói ra ngoài những gì
mà đề bài yêu cầu. Có lời chào khi kết thức bài nói.
- Trong khi nói phải nhập vai vào nhân vật hay thể hiện là mình chúng kiến và biết tất
cả mọi chuyện để trong quá trình nói thể hiện đợc tự nhiên, phù hợp và làm chủ kiến
thức.
- Trong khi trình bày diễn đạt nói không nói tùy tiện, nói theo sở thích của mình làm
cho ngời nghe khó hiểu
- Khi lên nói phải biết mình: + Nói cái gì?(Xác định đề tài)
+ Nói với ai? (xác định giáo tiếp)
+ Nói trong hoàn cảnh nào? (Xác định hoàn cảnh giao tiếp)
3
Phơng pháp dạy luyện nói trong môn Ngữ văn lớp 9
+ Nói nh thế nào? (cách thức giao tiếp để thuyết phục ng-
ời nghe)
- Tránh đọc lại hoặc thuộc lòng để dọc lại bài văn chi tiết đã chuẩn bị
- Phải nói theo dàn bài đã đợc chuẩn bị (dàn bài ngắn gọn, bám sát yêu cầu của đề bài,
nêu đợc ý chính, dựa vào dàn bài để nói)
- Phải biết lên trầm xuống bổng hoặc thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên không gò
bó
II. Một số phơng pháp vận dụng vào giảng dạy cho tiết luyện nói môn Ngữ văn
lớp 9
Không có phơng pháp nào, phơng tiện dạy học nào đợc sử dụng lại không kèm
theo lời nói. Song đặc trng của môn Ngữ văn THCS thì luyện nói là giờ thể hiện cá
tính, là giờ học sinh đợc làm chủ mình hơn cả. Vấn đề là phải tạo những điều cần và
làm không mang tính ỉ lại); vào giờ học giáo viên cho thời gian để các em chuẩn bị t
thế trớc khi lên nói, có thể cho cá nhân xung phong lên làm để tạo không khí sôi nổi
giờ học sau đó giáo viên có thể gọi đại diện lên nói hoặc mỗi nhóm phải lên trình bày
4
Phơng pháp dạy luyện nói trong môn Ngữ văn lớp 9
đủ các mức độ yếu, trung bình, khá, giỏi. Trong giờ nói giáo viên nên hớng cho học
sinh có thái độ cùng nhau hợp tác. Giáo viên nêu yêu cầu của luyện nói, cách chấm
điểm của giám khảo thi đua giữa các nhóm để tạo không khí hào hứng, phấn khởi,
mong muốn đợc lên trình bày bài của mình.
- Phơng pháp quan sát, theo dõi: Giáo viên vừa theo dõi, quan sát học sinh trình bày
trên bảng về phong thái, lời nói, điệu bộ của các em vừa quan sát quản lí trật tự từng
nhóm. Giáo viên có thể hỗ trợ cho học sinh khi tiến hành luyện nói mà bí từ hoặc cha
nhớ, hiểu nhầm ý nào đó.Dựa trên cơ sở đó để giáo viên tổng hợp mặt u điểm, nhợc
điểm các nhóm, cá nhân lên trình bày, đồng thời để đối chiếu ý kiến nhận xét của lớp
có trùng hợp với ý kiến của giáo viên không.
- Phơng pháp đánh giá, nhận xét: Giáo viên phải khéo léo, tế nhị trong đáng giá, nhận
xét. Tuy nhiên, không phải vì điều đó mà đánh giá không trung thực, khách quan mà
giáo viên cần vận dụng tính s phạm trong việc này. Trong lời nhận xét cần có sự
khuyến khích học sinh, động viên các em hào hứng, tích cực tham gia. nếu giáo viên
không khéo léo thì một số em lơ là, không tham gia luyện tập, ỉ lại chỉ chờ kết quả của
các thành viên trong nhóm mà không chịu t duy. vậy giáo viên phải tìm ra những biện
pháp tốt nhất mà trong đó không thể bỏ qua việc các em tham gia nhận xét, đánh giá
sự trình bày của các bạn. Vấn đề là giáo viên định hớng cho học sinh biết đánh giá thế
nào là đúng ( bạn trình bày nội dung đợc cha, đọc hay nói; cử chỉ, giọng điệu, thái độ
phù hợp cha ). Khi đánh giá việc trình bày của học sinh bên cạnh việc chấm điểm nên
sửa các lỗi cần tránh, hớng dẫn học sinh nói diễn cảm, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn.
Hoặc cho các nhóm nhận xét chéo nhau để tự các em làm chủ mình trong tiết đó. Sau
đó, bên ban giám khảo công bố điểm để khen thởng bằng nhiều hình thức cho cá nhân,
nhóm đồng thời đa ra biện pháp khắc phục cho cá nhân, nhóm còn mắc lỗi. Cuối cùng
giáo viên tổng hợp và phát phiếu bình chọn cho cá nhân, nhóm nói hay, tự nhiên gây
gì? Mục đích của tiết học này?
-> Rèn luyện kĩ năng nói và kĩ năng tìm ý,
lập dàn ý.
? Trong những tình huống nào, trờng hợp
nào ta cần nói (trình bày miệng), phát
biểu về đoạn thơ, bài thơ?
-> Khi cần giới thiệu về ai đó, câu lạc bộ
văn học, phát biểu trớc lớp, trả lời bài cũ,
ấn tợng về bài thơ hay đoạn thơ.
GV dẫn dắt vào bài: Để thực hành tiết
luyện nói hôm nay thì chúng ta hãy nhắc
lại thế nào là nghị luận về đoạn thơ, bài
thơ.(phần lý thuyết)
? Thế nào là nghị luận về một đoan thơ,
bài thơ?
? Dựa vào những căn cứ nào để ta nhận
xét, đnáh giá về nội dung, nghệ thuật về
một đoạn thơ, bài thơ?
? Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
có bố cục nh thế nào?
? Vì sao khi nói em cần phải đáp ứng các
yêu cầu về nội dung và hình thức?
I. Lý thuyết:
- Là trình bày nhận xét, đánh giá của
mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn
thơ, bài thơ ấy.
- Nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài
thơ đợc thể hiện qua ngôn ngữ, hình ảnh,
giọng điệu
- Bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời văn gợi
đó?
? Cảm xúc của nhà thơ đợc thể hiện nh thế
nào khi ở trớc lăng Bác?
? Cách xng hô của nhà thơ muốn bày tỏ
cảm xúc gì đối với Bác?
? Cảm xúc và suy nghĩ của tác giả khi vào
lăng?
? Em cảm nhận đợc tình cảm của tác giả
với Bác nh thế nào qua hình ảnh Mà sao
nghe nhói ở trong tim?
? Ước muốn hóa thân của nhà thơ thể hiện
tình cảm gì với Bác?
GV: Chúng ta trả lời các câu hỏi trên để
tìm ý và sắp xếp ý vào khung dàn bài. GV
yêu cầu học sinh sắp xếp theo trình tự
2. Thực hành tìm ý, lập dàn ý:
Cho đề bài: Tình cảm thiêng liêng, thành
kính của nhà thơ, của toàn dân tộc dành
cho Bác trong bài thơ Viếng lăng Bác
Viễn Phơng.
a. Tìm hiểu đề, tìm ý:
- Tính chất: Nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ
- Phạm vi: Bài thơ Viếng lăng Bác của
Viễn Phơng.
- Vấn đề nghị luận: Tình cảm của nhà thơ,
của toàn dân tộc dành cho Bác trong bài
thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phờng.
- Tìm ý:
b. Lập dàn ý:
* Thân bài:
b1.Cảm xúc của nhà thơ trong lăng Bác
b2. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
b3. Cảm xúc nhà thơ trớc lăng Bác
b4. Ước nguyện chân thành, tha thiết của
nhà thơ.
b5. Những nét đặc sắc nghệ thuật của bài
thơ.
* Kết bài:
+ Bài thơ Viếng lăng Bác đợc đánh giá là
một trong những bài thơ hay viết về đề tài
lãnh tụ
+ Giá trị, ý nghĩa của bài thơ
3. Luyện nói:
8
Phơng pháp dạy luyện nói trong môn Ngữ văn lớp 9
Tiết 140
Hoạt động GV - HS Kiến thức cơ bản
* Bài cũ: Kiếm tra sựu chuẩn bị của HS
* Bài mới:
GV yêu cầu HS nhớ lại đề bài-> GV ghi
lên bảng.
- Yêu cầu HS nhắc lại bố cục của bài nghj
luận một đoạn thơ, bài thơ.
- GV gọi một đến hai em hệ thống lại luận
điểm đã làm ở tiết 139-> 4 nhóm thảo
luận nhanh cử đại diện điền thêm luận cứ
cho mỗi luận điểm.
- HS nhận xét, bổ sung, hoàn thiện các
luận cứ thành một dàn bài hoàn chỉnh.
Phơng pháp dạy luyện nói trong môn Ngữ văn lớp 9
- Các em không còn rụt tè, e ngại, thiếu tự tin khi đứng trớc đám đông, không còn sự
ngập ngừng, ấp úng, nội dung cũng đầy đủ, trọn vẹn. Do đó, đa số bài nói đều hoàn
chỉnh hơn lúc trớc.
- Kĩ năng nói có sự tiến bộ rõ rệt, các em biết vào đề và kết thúc, biết giới thiệu đề tài,
phát âm đúng, biết kết hợp cử chỉ, nét mặt, thái độ,
9B không áp dụng 9C có áp dụng
Tốt 4/30 ~ 13% 8/30 ~ 23,5%
Trung bình 12/30 ~ 40% 14/30 ~ 47%
Yếu 14/30 ~ 47% 8/30 ~ 23,5%
IV. Kết luận:
Nói là một kĩ năng quan trọng, góp phần hoàn thiện nhân cách và có ý nghĩa rất to
lớn trong việc phát triển học sinh Muốn học sinh thoát khỏi tình trạng nói yếu thì trớc
hết ngời giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo, trớc hết chuẩn bị giáo án, đồng thời
giáo viên phải có sự tìm tòi và đem hết trách nhiệm của mình để đạt kết quả cao trong
tiết học này. Thông qua giờ luyện nói, giáo viên giáo dục cho học sinh tự hào đợc nói
tiếng Việt, xây dựng tiếng nói và chống cách nói không đúng, không lành mạnh.
V. Kiến nghị:
Trong xu thế hiện nay thì việc đổi mới phơng pháp dạy học là vấn đề cần thiết nhất.
Muốn dạy đạt hiệu quả cao thì trớc hết ngời giáo viên phải:
1. Nắm bắt đổi mới phơng pháp phù hợp với nội dung sách giáo khoa
2. Giáo viên phải có kĩ năng
3. Thờng xuyên tạo cho học sinh kĩ năng giao tiếp nh phát vấn trong các tiết dạy bằng
miệng, bài mới, bài cũ, tự luận, trắc nghiệm.
4. Trong dạy văn giáo viên phải chú trọng phân môn Tiếng Việt nh Mở rộng vốn từ
Hán việt, tra từ điển để tạo thói quen cho học sinh làm quen với diễn đạt nói, luyện
nói.
5. Thông qua tổ chức câu lạc bộ văn học, sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp
để rèn luyện kĩ năng nói trớc tập thể.
6 Trong nội dung xây dựng trờng học thân thiện thì giáo viên rèn luyện và tích hợp các