Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Sở giao dịch 1 - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH I
Chuyªn ngµnh : Tµi chÝnh - ng©n hµng
M· sè : 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.TS Đinh Xuân Hạng
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 5
BIỂU ĐỒ 5
LỜI MỞ ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
TMCP : Thương mại cổ phần
BIDV : Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
VCSH : Vốn chủ sở hữu
NH : Ngân hàng
HĐ : Huy động
TLHTKHHĐ : Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động

Xuất phát từ những lý do trên thì qua tìm hiểu và nghiên cứu hoạt động
của Chi nhánh thì tôi nhận thấy huy động vốn là hoạt động rất phát triển của
ngân hàng nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế so với tiềm năng của Chi nhánh. Vì
vậy tôi chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Sở giao dịch 1” làm
đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Với mục tiêu hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy
động vốn của ngân hàng thương mại. Từ việc phân tích, đánh giá việc triển khai
hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Sở giao dịch 1 BIDV qua đó đánh giá
1
được những mặt đã đạt được, những vấn đề còn tồn tại, từ đó tìm ra nguyên nhân
và rút ra bài học kinh nghiệm. Thông qua luận văn này, đưa ra những đề xuất
hoàn thiện các giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Sở giao
dịch 1 BIDV và kiến nghị với BIDV, với các cơ quan chức năng nhằm phát triển
hơn nữa hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam nói chung và của Chi nhánh Sở giao dịch 1 nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tập trung nghiên cứu vào hiệu quả hoạt động huy
động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi
nhánh Sở giao dịch 1 trong giai đoạn 2012 – 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả,
phương pháp diễn giải và quy nạp, phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh….nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn ở Ngân hàng
thương mại và đánh giá được thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam chi nhánh Sở giao dịch 1, từ đó đưa ra những mặt mạnh và
hạn chế, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, dạnh mục bảng biểu, danh mục tài liệu

nhưng có một cách định nghĩa chung nhất được nhiều nước trên thế giới sử
dụng: NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất , đặc biệt là tín dụng , tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
Hiện nay ở nước ta , lĩnh vực ngân hàng hiện nay đang phát triển và bởi
Ngân hàng là một kênh trung gian quan trọng nên Nhà nước đã ban hành Luật
các Tổ chức tín dụng nhằm duy trì và vận hành có hiệu quả, trong đó có định
nghĩa : “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp được thành lập theo quy định
3
của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. (Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín
dụng của Việt nam ban hành 02/ 1997/QH 10) .
1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập
hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ khác.
Thực chất, vốn của Ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm
thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Người chủ sở hữu
của nguồn vốn này đem gửi ngân hàng với các mục đích khác nhau như thanh
toán, tiết kiệm hoặc đầu tư. Có thể nói rằng, chủ sở hữu vốn đã chuyển nhượng
quyền sử dụng vốn cho ngân hàng để ngân hàng trả lại cho chủ sở hữu một
khoản thu nhập nhất định.
Như vậy, Ngân hàng đóng vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới
hình thức tiền tệ, làm thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi
thiếu vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt
động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.1.2. Các loại nguồn vốn
Thành phần nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm:
• Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại sử

dụng loại nguồn vốn này một cách chủ động để kinh doanh. Vì vậy, các Ngân
hàng thường khuyến khích khách hàng gửi tiền dưới hình thức này với nhiều
chương trình khác nhau đáp ứng nhu cầu tiền gửi của khách.
• Nguồn vốn vay từ các Ngân hàng khác: Trong hoạt động kinh doanh
của mình, việc thiếu hoặc thừa vốn là tình trạng thường xuyên xảy ra. Để khắc
phục hiện tượng này, thông qua Ngân hàng nhà nước, các Ngân hàng thương mại
có thể vay vốn của nhau để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
Nguồn vốn đi vay là khoản tiền mượn thêm để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản trong khi khả năng huy động vốn bị hạn chế. Đây là nguồn chủ yếu để
chống rủi ro thanh khoản của các ngân hàng, đồng thời nó sẽ làm tăng lợi nhuận
cho ngân hàng thông qua đòn bẩy tài chính.
- Vay từ Ngân hàng trung ương: là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại. Hình thức cho vay chủ yếu của
5
Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu. Ngân hàng trung ương cho vay nhằm mục
đích để bảo vệ an toàn cho hệ thống ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ.
- Vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác: là nguồn
tiền các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của cá tổ chức tín dụng khác trên
thị trường liên ngân hàng. Với các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do dư
các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ sẵn lòng cho các ngân hàng khác
vay để tìm kiếm lợi nhuận. Và các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ thì có nhu
cầu vay mượn tạm thời để đảm bảo khả năng thanh khoản.
• Nguồn vốn trong thanh toán: Nguồn vốn này hình thành từ các hoạt
động thanh toán không dùng tiền mặt như: Séc trong quá trình chi trả, tiền ký
quỹ để mở L/C. Mặc dù đây là một trong những nguồn vốn chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại nhưng nó cũng góp phần làm
cho hoạt động của Ngân hàng được thông suốt và thuận lợi hơn.
• Nguồn vốn khác: Vốn khác là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng
huy động được thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung
cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư. Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và

luật, các ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi biện pháp để tăng trưởng vốn
trong quá trình hoạt động kinh doanh.
- Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng phát triển thì các
ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường, mà trước tiên thể hiện thông qua
khả năng sẵn sang thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Đối với
một ngân hàng thì vấn đề luôn đặt ra song song là khả năng thanh toán và đáp
ứng được nhu cầu vốn vay của nền kinh tế. Khả năng thanh toán của ngân hàng
càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, nếu loại trừ các nhân
tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng
nói chung và với vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn,
ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến
hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhẵm giữ chữ tín và nâng cao vị thế
7
trên thị trường kinh tế của ngân hàng.
- Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng:
Vốn của ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
dụng. Nếu có nguồn vốn dồi dào, các ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để đáp ứng
nhu cầu về vốn, có điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanh
nghiệp và thị trường tín dụng.
Nguồn vốn lớn còn giúp ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình
khác nhau như: liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng
khoán, các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho
ngân hàng, đồng thời nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy,
vốn có vai trò quyết dịnh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Thực tế đã chứng minh rằng: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ
thuật của ngân hàng là tiền đệ cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng
vốn lớn là điều kiện thuận lợi của ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín

của NHTM ở tất cả các quốc gia. Ngoài ra, sử dụng hiệu quả nguồn vốn là cơ sở
duy trì sự tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh tạo lập vốn và khả năng thu hút vốn của
ngân hàng.
1.2. Huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về huy động vốn
Ngân hàng thương mại xét về bản chất là một doanh nghiệp đặc biệt trên
thị trường bởi nó cũng hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp bình
thường, song hàng hóa nó kinh doanh là tiền tệ, vàng bạc, giấy tờ có giá, chứng
khoán,… Ngân hàng thương mại không trực tiếp tham gia sản xuất và lưu thông
hàng hóa như các doanh nghiệp thông thường, nhưng nó góp phần phát triển
kinh tế- xã hội qua ba chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh
toán và làm dịch vụ tiền tệ, tín dụng, chứng khoán cho khách hàng.
Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu không phải là từ vốn tự có mà
chủ yếu bằng nguồn vốn của những người gửi tiền, bằng cách làm trung gian tài
chính, làm môi giới cho người cần vay và người có vốn cho vay.
Huy động vốn được coi là hoạt động mà ngân hàng sử dụng các công cụ
9
và biện pháp khác nhau nhằm tạo lập nguồn vốn để đảm bảo hoạt động liên tục
và hiệu quả tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Ngân hàng thương mại huy động vốn kinh doanh bằng cách thu hút khách
hàng đến giao dịch với biện pháp ký gửi tài sản cho khách hàng.
- Nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn,
tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản séc, tài khoản vãng lai,
- Nguồn vốn tự tạo: Vốn tự có của ngân hàng.
- Nguồn vốn đi vay: Vay từ dân cư, tổ chức tài chính khác,
Có thể nói, huy động vốn là hoạt động thường xuyên và luôn gắn liền với
kế hoạch kinh doanh của tổ chức tài chính, bởi lẽ vốn huy động là nguồn vốn
chủ yếu để các tổ chức tài chính tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.
Chính vì vậy, khi tiến hành các hoạt động huy động vốn, tổ chức tín dụng phải
tính toán sao cho việc sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất. Mặt khác, huy động vốn

vệ quyền lợi chính đáng của người gửi tiền. Hơn nữa ngân hàng phải giữ bí mật
số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng nhưng không được phép che giấu
các khaorn tiền lớn và bất thường. Đồng thời các ngân hàng không được cạnh
tranh bất hợp lý dẫn đến khủng hoảng lòng tin của người gửi tiền, gây ảnh hưởng
xấu đến nền kinh tế.
- Thỏa mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất:
Mục đích hoạt động của ngân hàng thương mại là vì lợi nhuận, do đó các
ngân hàng thương mại phải đảm bảo được yêu cầu chi phí thấp và quy mô huy
động nguồn vốn lớn nhằm tài trợ cho các dự án qua việc cấp phát tín dụng và tạo
ra biên độ chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra tạo lợi nhuận cao. Để có thể cạnh
tranh với các trung tài tài chính khác, đòi hỏi mỗi ngân hàng thương mại phải có
phương thức trả lãi đa dạng với nhiều hình thức khác nhau và áp dụng nhiều
phương thức huy động để hạn chế rủi ro, phù hợp với đặc điểm hoạt động của
ngân hàng. Do nhu cầu của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng không chỉ là
an toàn và lãi suất mà còn có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, vì vậy
mà mỗi một ngân hàng cần kết hợp chặt chẽ giữa huy động vốn với hiện đại hóa
dịch vụ ngân hàng nhằm thu hút được lượng tiền gửi lớn.
- Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động:
Hoạt động của ngân hàng chủ yếu dựa vào niềm tin của khách hàng. Có
tin tưởng và sự quản lý và khả năng trả nợ của ngân hàng thì người dân mới gửi
11
tiền. Vì vậy để tạo và giữ vững niềm tin của khách hàng, thì ngân hàng phải đảm
bảo được khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu trong mọi tình
huống. Trong trường hợp đặc biệt khi có sự cố xảy ra, ngân hàng phải có phương
án đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời để tránh tâm lý bất an cho rằng ngân
hàng mất khả năng thanh toán của khách hàng.
1.2.4. Các hình thức huy động vốn
Có rất nhiều hình thức huy động vốn khác nhau trong hoạt động của mỗi
ngân hàng, tuy nhiên tựu chung lại hình thức huy động vốn có thể chia ra thành
các loại sau:

đóng vai trò quan trọng mà đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế cũng góp
phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động của ngân hàng, thường thì khách hàng
là doanh nghiệp có trích lập các quỹ theo quy định để phục vụ hoạt động kinh
doanh nhưng chưa có nhu cầu sử dụng trong thời gian gần sẽ chuyển sang tiền
gửi tiết kiệm của doanh nghiệp để hưởng mức lãi suất cao hơn, tăng thêm lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn gửi của các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
của doanh nghiệp thường bao gồm quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ dự phòng
tài chính, quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác từ vốn chủ
sở hữu,
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì
mục đích của khách hàng doanh nghiệp gửi tiền là lợi nhuận chứ không phải là
để thanh toán. Do đó, khác với loại tiền gửi thanh toán, lãi suất là yếu tố có tác
động rất lớn đến loại nguồn vốn này.
1.2.4.4. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Giống như các doanh nghiệp khác, Ngân hàng cũng thực hiện huy động
vốn bằng cách phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín
phiếu ngân hàng, để huy động vốn trên thị trường.
Các giấy tờ có giá của NH là các giấy nhận nợ mà NH bán cho công
13
chúng và là một hình thức vay vốn của NHTM bởi vì những người sở hữu các
giấy tờ có giá này được hoàn trả vốn vào thời gian đáo hạn cộng thêm khoản tiền
lãi nhất định. Các giấy tờ có giá bao gồm:
- Tín phiếu ngân hàng: Là giấy tờ có giá của ngân hàng dùng để
huy động những khoản vốn ngắn hạn.
- Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là giấy tờ có giá để ngân hang
huy động những khoản vốn trung và dài hạn.
Đối với các tài khoản tiền gửi phụ thuộc vào nhiều sở thích của khách
hàng thì việc sử dụng các giấy tờ có giá là một hình thức huy động vốn mang
tính chủ động của NH. Nguồn vốn hy động có được bằng việc phát hành giấy tờ
có giá được sử dụng cho những khoản tín dụng trong kế hoạch của NH. Đây là

mục đích nhất định. Vì vậy, trong những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất
khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và những yếu tố hợp thành phạm
trù hiệu quả vận động theo những khuynh hướng khác nhau.
Trong phạm vi hoạt động của Ngân hàng thì hiệu quả huy động vốn của
NHTM có thể hiểu chính là kết quả huy động mà NH đạt được phù hợp với nhu
cầu sử dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lợi cao cho NH trong
từng thời kỳ.
Ngoài ra, hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại còn được
nhìn nhận như là kết quả đích thực thu được từ hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng.
1.3.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả huy động vốn
Các Ngân hàng Thương mại hoạt động trên thị trường với tư cách là các
trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là phân phối lại tiền tệ trong xã hội,
thúc đẩy nền kinh tế không ngừng phát triển. Hoạt động huy động vốn chính là
việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để rồi sau đó ngân hàng phân
phối đến nơi thiếu vốn (bằng các hoạt động cho vay, đầu tư). Làm tốt công tác
huy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt nhiệm vụ quan trọng nhất
của mình . Cho nên mọi Ngân hàng Thương mại đều phải ý thức được sự cần
thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn đặc biệt là trong thời
gian này, việc huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế tại giai đoạn khó khăn.
15
Vì vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn là vấn đề
thực sự cần thiết và đòi hỏi công tác huy động vốn phải đáp ứng được các yêu
cầu cơ bản sau:
Thứ nhất: Nguồn vốn huy động phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh
của ngân hàng để đảm bảo có khả năng đáp ứng cho hoạt động sử dụng vốn của
ngân hàng: Tức là vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượng, có
thể thoả mãn các nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng.

với các doanh nghiệp khác. Vì vậy, việc nghiên cứu nguồn vốn huy động của
Ngân hàng là việc làm quan trọng mà các nhà phân tích cần phải làm.
• Phân tích tổng quát nguồn vốn.
Số dư từng khoản mục nguồn vốn
Tỷ lệ % từng khoản nguồn vốn = * 100%
Tổng nguồn vốn
Chỉ số này giúp nhà phân tích biết được cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng.
Mỗi một khoản nguồn vốn đều có những yêu cầu khác nhau về chi phí, tính
thanh khoản, thời hạn hoàn trả khác nhau…do đó Ngân hàng cần phải quan sát,
đánh giá từng loại nguồn vốn để kịp thời để có những chiến lược huy động vốn
tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định.
• Phân tích về cơ cấu vốn huy động
Số dư từng loại tiền gửi
Tỷ trọng từng loại tiền gửi = * 100%
Tổng vốn huy động
Đây là chỉ số xác định cơ cấu vốn huy động của ngân hàng. Mỗi loại tiền
gửi có những yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản, kỳ hạn, Do đó, việc
xác định rõ cơ cấu vốn huy động sẽ giúp Ngân hàng hạn chế được những rủi ro
có thể gặp phải trong quá trình huy động vốn và tối thiểu hóa chi phí đầu vào cho
Ngân hàng. Vì vậy, nếu tỷ trọng của các loại vốn huy động (ngắn hạn, trung dài
hạn, nội tệ, ngoại tệ) với nhu cầu sử dụng vốn ở mức hợp lý, phù hợp với nhu
cầu sử dụng vốn của ngân hàng thì hiệu quả huy động vốn của ngân hàng mới
17
cao.
• Chênh lệch thu chi lãi/ Chi phí trả lãi của Ngân hàng
Mối liên hệ nguồn vốn và tài sản là mối lien hệ giữa huy động vốn và sử
dụng vốn. Đó là hai mặt của quá trình hoạt động của Ngân hàng. Tuy nhiên, để
đánh giá hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng, tức là khả năng đáp ứng kịp thời
các nhu cầu về sử dụng vốn hay khả năng sinh lời từ đồng vốn huy động được
thì các Ngân hàng cũng thường sử dụng chỉ tiêu chênh lệch thu chi lãi trên chi

là chỉ tiêu rất quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy
động càng nhiều vốn thì đơn vị càng có khả năng mở rộng quy mô cho vay bởi
vì ngân hàng là doanh nghiệp đi vay để cho vay.
Bên cạnh việc sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn huy động, ngân
hàng cũng cần đánh giá quy mô vốn huy động của ngân hàng như thế nào. Các
NHTM thường dùng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động (TLHTKHHĐ) để
đánh giá quy mô huy động vốn:
Tổng vốn huy động
TLHTKHHĐ =
Kế hoạch huy động vốn
Hàng năm, mỗi ngân hàng đều đưa ra các chỉ tiêu kinh doanh và nỗ lực đạt
được các chỉ tiêu đó. Trong đó chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn là một trong những
thước đo quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
• Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Huy động vốn và sử dụng vốn được coi là hai hoạt động cơ bản và quan
trọng nhất của một ngân hàng. Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
còn được thể hiện ở kỳ hạn, loại tiền và mức chi phí huy động. Hiểu được mối
quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn thì ngân hàng mới có thể có được
mức lãi suất, kỳ hạn và loại tiền huy động phù hợp đảm bảo lợi nhuận ngân
hàng thu được là lớn nhất.
• Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn là toàn bộ số tiền ngân hàng phải bỏ ra để có được
số vốn đó, bao gồm chi phí trả lãi và các chi phí khác. Phương pháp xác định chi
phí huy động vốn rất hữu ích cho ngân hàng để xây dựng chính sách kinh doanh
có hiệu quả. Có hai lý do chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi xác định chi phí
huy động vốn: Tính toán tương đối chính xác chi phí huy động vốn là yếu tố cơ
19
bản để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh
lời và loại hình nguồn vốn mà ngân hàng huy động được và việc sử dụng nguồn
vốn nầy ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro vốn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status