Bài viết số 3 văn lớp 11
đề 1 : So sánh tài sắc của thúy vân và thúy kiều được thể hiện trong
đoạn trích sau:
" Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy kiều là chị , em là thúy Vân
Mai cốt cách , tuyết tinh thần ,
Mỗi người một vẽ, mười phân vẹn mười
Êm đềm trướng rũ màng che ,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai . '''
Bài làm
Thơ cổ viết về giai nhân thì đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” trích trong “Truyện
Kiều” cảu thi hào Nguyễn Du là một trong những vần thơ tuyệt bút. 24 câu
thơ lục bát đã miêu tả sắc, tài và đức hạnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân – hai
tuyệt thế giai nhân - với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng của nhà thơ
thiên tài dân tộc.Bốn câu đầu, Nguyễn Du giới thiệu vị thứ trong gia đình: “Thuý Kiều là chị,
em là Thuý Vân”: Kiều là con đầu lòng của ông bà Vương Viên ngoại. “Hai ả
tố nga” là hai cô gái xinh xắn, xinh tươi. Cốt cáchthanh cao như mai (một loài
hoa đẹp và quý), tinh thần trinh trắng như tuyết. Hai chị em có nhan sắc và
tâm hồn hoàn mĩ “mười phân vẹn mười”, tuy thế, mỗi người lại có một nét
đẹp riêng “mỗi người một vẻ”. Một cái nhìn phát hiện đầy trân trọng: lấy mai
và tuyết làm chuẩn mực cái đẹp. Nguyễn Du miêu tả tâm hồn trong sáng,
trinh trắng làm rõ cái thần bức chân dung thiếu nữ.
Bốn câu tiếp theo tả nhan sắc Thuý Vân. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Mắt đẹp xanh trong nước hồ thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa
xuân. Mỗi hồng má thắm làm cho “hoa ghen”: nước da trắng xinh làm cho liễu
phải “hờn”. Vẫn là vẻ đẹp thiên nhiên (thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu) làm
chuẩn mực cho cái đẹp nhân gian, đó là bút pháp ước lệ trong thơ cổ. Tuy
nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tài hoa quá, nét vẽ nào cũng có thần rất đẹp, vẻ
đẹp nhân văn.
Kiểu “thông minh vốn sẵn tính trời”, nghĩa là thông minh bẩm sinh, cho nên
các môn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm, chỉ là các thú tao nhã nhưng nàng
rất sành điệu, điêu luyện: “lầu bậc”, “ăn đứt” hơn hẳn thiên hạ:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”.
Kiểu giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc”. Cây đàn mà nàng chơi là cây Hồ
cầm; tiếng đàn của nàng thật hay “ăn đứt” bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết
sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một “thiên bạc mệnh”
nghe buồn thê thiết “não nhân”, làm cho lòng người sầu não, đau khổ. Các từ
ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành,
đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não
nhân - tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc và hé lộ, dự báo số
phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:
Nỗi từng trải ấy đẻ ra cái nhìn hiện thực trào lộng vỗ mặt vào thứ khoa cử
cuối mùa, đào tạo tôi tớ cho thực dân xâm lược: Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng Đầu đối với đít là nhục thì lấy động từ ngỏng mà trả thù. Hiện thực ấy là hiện
thực của thành Nam, nó nhỡn tiền đối với Tú Xương, nơi có trường thi lôi thôi
sĩ tử. Một tỷ lệ lớn thơ Tú Xương là thơ nói việc đi thi, hỏng thi, gắn nhiều tên đất,
tên người của Nam Định. Tú Xương khi trữ tình thì còn tiêu tao ước lệ Tam
Đảo Ngũ Hồ, chớp bể mưa nguồn chứ Tú Xương khi đã hiện thực thì nhân
chứng vật chứng cụ thể lắm, chi tiết đủ độ tin cậy làm hồ sơ cho lịch sử:
Ở phố hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang Rồi những ông lang Xán, chú ích Sinh, kẹo Thiều Châu, bánh Hanh Tụ… Nguyên liệu tạo nên thơ Tú Xương là Nam Định. Từ Nam Định hồn thơ ông
dạy học. Gian nhà giột nát, người ta đã phải trùm tấm tôn lên một nửa mái
ngói, nhưng vẫn còn tường vách rui mè cũ và phía trước, cuối cái sân con,
còn một bức phù điêu vôi vữa hình cuộn thư, có chữ triện. Mưa nắng phôi
pha nhưng vẫn đủ gợi bâng khuâng thương nhớ người xưa. Phục chế lại nhà cửa, phục hiện và sưu tầm lại nghiên bút, lều chõng, thi cử
thuở xưa, biến đây thành bảo tàng Tú Xương, bảo tàng thơ và bảo tàng việc
học. Đấy không chỉ là tấm lòng chúng ta ghi ơn nhà thơ mà còn dấy nên niềm
tự hào của con dân Nam Định về truyền thống hiếu học tự bao đời. Tiếng gọi đò trong bài thơ Sông Lấp của Tú Xương làm xao xuyến mọi lòng
dân Việt bởi cái âm hưởng như gọi hồn đất nước. Theo tôi đấy là bài thơ hay
nhất của Tú Xương, và cũng là bài thơ của một giai đoạn lịch sử, của hồn vía
Việt Nam sâu nặng. Hai câu thơ trích từ bài này đã được các nhà quản lý văn hóa khắc trên bia
mộ Tú Xương, nơi vườn hoa Vị Xuyên. Ngôi mộ được di dời từ những năm
đất nước còn gian khổ. Ngày ấy có người kêu, trách ngành văn hóa: ép cụ Tú
rời xa đồng ruộng, vào nằm nơi bụi bậm thị thành, vườn hoa bóng liễu, trai
gái trăng hoa. Bây giờ nhìn cả quần thể kiến trúc nơi đây, một vùng trang
trọng nhất của thành phố, nơi mọi du khách đều đến thăm viếng, mới thấy
việc chuyển mộ Tú Xương năm ấy là có lý. Chỉ tiếc trong hai câu thơ trích,
khắc quốc ngữ trên bia, có một chữ sai, nên sửa. Trở lại bài thơ Sông Lấp, bài thơ mang hồn ông Tú. Nam Định ta nên cố định
dáng vẻ tâm hồn gọi đò đêm này bằng một bức tượng Tú Xương, y phục dân
thật nhỏ bé suốt ngày “cui cút làm ăn” Chỉ một câu văn, cụ Đồ Chiểu đã vẽ
nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của người dân Việt, người “dân ấp
dân lân” Nam Bộ, bắt đầu với cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết
thúc trong nghèo khó. Đằng sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những
“cung ngựa”, “trường nhung” trong cái nhìn của họ chỉ có “con trâu là đầu cơ
nghiệp”. Đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên đã quá quen thuộc thì giờ tập
khiên, tập súng thật lạ lẫm.
Những tưởng họ mãi cam chịu như thế. Nhưng không, khi quân xâm lược đã
xâm chiếm đất nước, chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống, từng đám
đất quê hương ruột thịt của họ. Giờ đây, trong những “lo toan” không chỉ có
đói nghèo mà còn là những thấp thỏm, lo âu:
“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn
trông mưa…”
Thấy “mùi tinh chiên vấy vá” không thể chống mắt đứng nhìn, không thể ngồi
yên mà đợi. Triều đình đã “bỏ rơi” họ, nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất
nước nồng nàn ở họ. Bọn xâm lăng kia đã cướp đi những gì máu thịt của họ,
chúng phá vỡ giấc bình yêu nơi thôn quê, làm sao không căm cho được. Nỗi
uất hận đển tột cùng ấy đã biến những con người nhỏ bé tầm thường thành
chàng Gióng khổng lồ trong cổ tích. Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần
ngại chung vai góp sức. Lòng yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến
sôi sục:
“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan.
Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó”
chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh
quang cho dân tộc.
“Ôi thôi thôi!”
Một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt
những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Họ
ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Vẫn còn đó nghiệp nước chưa thành,
thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già với ngọn đèn le lói trong đêm
“Đau đơn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu
chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ”
Người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con
thơ… Mai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, khi mà nợ nước
trả chưa xong
“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương
nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”
Nguyễn Đình Chiểu đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, nghe thấy và
dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc, yêu thương. Xuyên suốt
trong nền văn học nước nhà hình ảnh người nông dân đã được đề cập khá
nhiều lần. Nhưng trước Đồ Chiều thì chưa một ai công khai vẽ lên và ngợi ca
hình ảnh người anh hùng “chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân
chiêu mộ”. Hơn thế nữa, việc thổi vào văn chương chất dân gian đã khiến
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ trở thành áng văn vừa hào hùng, bi tráng
mà cũng rất gần gũi, giản dị.
Cụ Đồ Chiểu chỉ là nhà thơ mù - “người hát rong của nhân dân”. Nhưng hình
ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.
Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ông về ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tiếp tục dạy học
và làm thuốc. Vốn nhiệt tình yêu nước, ông liên hệ mật thiết với các nhóm
nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là, lãnh binh Trương Định. Ông tích
cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân. Biết
ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu
cao khí tiết, không chịu khuất phục.
Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà còn là một
nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19.
Quan điểm văn chương
Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan
điểm văn chương riêng. Quan điểm "văn dĩ tải đạo" của ông khác với quan
niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà
Nho quan niệm Đạo là đạo của trời, còn Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời
được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người đáng quý hơn nhiều. Đó là
quan niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu.
Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là
quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến
đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và tinh thần nhân ái.
Tác phẩm chính
Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính chất tự
truyện.
Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)
đời,cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không hám lợi,
không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền.
Với tất cả vai trò xã hội và sứ mạng của con người mà Nguyễn Đình Chiểu
phải gánh vác: Nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, chiến sĩ yêu
nước cho đến cuối đời cụ vẫn kiên cường vượt qua số phận, hoàn thành
xuất sắc thiên chức của mình, để lại cho đời sau một tấm gương về cách
sống trong sáng đến tuyệt vời:
“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách của con người
không chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.Ngày xưa cụ Nguyễn Du từng
cho rằng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính
năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con
người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận.Vượt qua số phận để
đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là
nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu.
Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của
Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen,biểu dương và phê phán, thương
ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng
chuẩn mực văn hóa Việt Nam, Nhà thơ mù lòa ấy là một trong những người
đầu tiên đưa ra thông điệp tố cáo hành động phản văn hóa, mất tính người
của bọn thực dân xâm lược. Về tội ác hủy diệt cuộc sống yên lành của nhân
dân, ông viết:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”.
Các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Chiểu có sức sống bền vững trong
tình cảm nhân dân. Lý tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đã nêu
bật một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt
Nam. Đó là lối sống trọng đạo lý và công bằng xã hội, trọng con người và
căm ghét áp bức bất công. Cái “hào khí Đồng Nai” ấy được thể hiện qua
hành động của các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên, trong các nghĩa
sĩ Cần Giuộc và nghĩa sĩ lục tỉnh thời Nam Kỳ kháng Pháp đến nay vẫn còn
được tiếp nối và phát huy trong đời sống văn hóa của nhân dân ta ở miền
Nam. Trong một thời gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay, truyện thơ Lục
Vân Tiên đã là nội dung diễn xướng dân gian với các loại hình như nói thơ,
hò, vè, ca ra bộ trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và chính đề tài Lục Vân
Tiên - Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu ca kịch cải lương khi bộ
môn nầy vừa mới ra đời trên kịch trường Nam bộ. Gần nay đề tài nầy đã và
đang được dựng lên thành nhạc kịch hiện đại, dựng thành phim truyện v.v
Hơn một thế kỷ qua, hiếm thấy nhà văn nào mà tác phẩm có tính phổ cập sâu
rộng và có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa của nhân dân như vậy.
Trên lĩnh vực giáo dục, là một nhà giáo, trọn đời thầy Đồ Chiểu chăm lo dạy
dỗ môn sinh, truyền thụ cho thế hệ tương lai những điều cốt lõi của văn hóa
Việt Nam về đạo lý truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ. Hào
khí Đồng Nai, một nét đẹp văn hóa của con người Nam bộ được nuôi dưỡng
và phát huy chính là nhờ sự nghiệp giáo dục của biết bao thế hệ người thầy
đầy tâm huyết mà được truyền thụ đến ngày nay, trong đó nhà thơ - nhà giáo
Nguyễn Đình Chiểu là một trong những người có công lớn. Chúng ta đều biết
Nguyễn Đình Chiểu là học trò đời thứ hai của nhà giáo Võ Trường Toản ở
Gia Định, một ông thầy nổi tiếng về phương pháp giáo dục tri ngôn, dưỡng
khí, tập nghĩa, một nhà trí thức sớm nổi tiếng ở đất Đồng Nai - Gia Định,
không màng danh lợi, suốt đời chăm lo đào tạo thế hệ moan sinh có chí, có
sắc y lý phương Đông và y lý Việt Nam cả về y thuật và y đức mà y đức của
cụ chính là đạo cứu người lồng trong nghĩa vụ cứu dân cứu nước. Tác phẩm
lớn cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu là quyển “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”,
một quyển sách dạy đạo làm người và đạo làm thầy thuốc cứu người. Yêu
nước và yêu thương con người chính là tư tưởng chủ đề của tác phẩm:
“Xưa rằng quốc thử lời khen phải
Giúp sống dân ta trọn lẽ trời”
Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa quyển “Ngư tiều y thuật vấn đáp” lần
xuất bản năm 1982: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hằng trăm bộ
sách của mấy mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người
và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm. Nhưng cả hai đều đúc lại
thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường phù hợp cho
những con người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi vào
tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có
ý nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước ”.
Đối với lương y Nguyễn Đình Chiểu, y đạo tức là nhân đạo, mà chủ nghĩa
nhân đạo của cụ là chủ nghĩa nhân đạo nhân dân rất gần gũi với chủ nghĩa
nhân đạo cộng sản:
“Thấy người đau giống mình đau
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.
Đứa ăn mày cũng trời sanh
Bịnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”.
Cảm ơn đức của cụ, khi cụ Đồ Chiểu mất, nhiều bịnh nhân được cụ cứu khỏi
bịnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà.