Ôn tập Tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Pdf 28

Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
VỢ CHỒNG A PHỦ
Đề 1 : Màu sắc dân tộc trong "Vợ chồng A Phủ"
Đề tài miền núi là một đề tài đã đem lại nhiều vinh quang cho sự nghiệp sáng
tác của nhà văn Tô Hoài và mở ra một giai đoạn mới cho văn học viết về miền núi.
Bằng vốn hiểu biết của chính bản thân mình qua những chuyến đi thực tế thâm nhập
vào đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi và tài năng văn chương của mình, Tô
Hoài đã tạo nên những tác phẩm vô cùng đặc sắc, mang đậm màu sắc dân tộc mà tiêu
biểu nhất phải kể đến là truyện “Vợ chồng A Phủ” (lấy trong tập “Truyện Tây Bắc”)
của ông. Một cốt truyện không mới: sự so sánh giữa 2 cuộc sống cũ- mới, sự giác ngộ
của quần chúng nhân dân đi theo cách mạng. Nhưng tác phẩm lại để lại trong lòng bạn
đọc 1 dấu ấn đặc biệt với hình ảnh một cô Mị, A Phủ, những phong tục tập quán mang
nét đặc trưng của người miền núi mà nếu xóa bỏ chúng đi tác phẩm sẽ mất hết sức hấp
dẫn. Nhãn quan phong tục của Tô Hoài đã phát hiện được những sự việc trong cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày của quần chúng nhân dân mà không phải nhà văn nào cũng
có thể phát hiện ra.
Mở đầu tác phẩm ta đã bắt gặp hình ảnh một cô Mị mặt lúc nào cũng buồn rười
rượi, cúi xuống không vui. Mị tự coi mình là con trâu, con ngựa trong nhà người. Mị là
con dâu nhà thống lí Pá Tra giàu có nhất vùng nhưng là con dâu gạt nợ. Nàng không
bằng được một đứa con ở vì con ở ít ra còn có ngày trả hết nợ mà tự do, còn nàng thì
làm dâu gạt nợ, không những phải làm nô lệ cho nhà người mà đến chết cũng làm ma
nhà người. Trước khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị là một cô gái xinh đẹp
có tài thổi kèn lá rất hay, được bao nhiêu chàng trai theo đuổi, Mị cũng đã có người
yêu. Một cô gái như vậy đáng lẽ cũng đã được nhận một cuộc đời hạnh phúc, song
những hủ tục của người H’mong đã giết chết hạnh phúc của Mị. Cha mẹ Mị từ hồi cưới
nhau đã vay nhà thống lí Pá Tra để làm lễ cưới , mỗi năm nộp một nương ngô cho nhà
thống lí vậy mà đến khi mẹ Mị mất đi thì tiền nợ vẫn chưa trả xong. Cưới xin của
người H’mong được tổ chức rất linh đình và thường vào mùa xuân vì người H’mong
kiêng tổ chức đám cưới vào những tháng có sấm sét. Tô Hoài rất khéo léo đưa những
phong tục của người H’mong vào trong tác phẩm, từ đám cưới của cha mẹ Mị đến đám

không có cách nào phản kháng lại được vì dường như tất cả những chuyện này là điều
hiển nhiên tất yếu, một tập tục đã trở nên quá quen thuộc với tất cả đồng bào H’mong
rồi. “Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ thì tao mới
thôi”. A Phủ chính là nhân vật điển hình cho tầng lớp nông nô ở vùng cao Tây Bắc.
Mọi chuyện có lẽ sẽ vẫn tiếp diễn như vậy, cuộc đời hai con người ấy sẽ mãi
mãi chỉ là thứ tôi tớ, trâu ngựa cho bọn thống trị, bóc lột nếu như không có tiếng sáo
đêm tình mùa xuân, tiếng khèn gọi bạn tình. Phong tục rất đẹp này của người H’mong
được biểu hiện qua những câu hát quen thuộc “Anh ném pao, em không bắt. Em không
yêu quả pao rơi rồi”, câu hát bình dị mà phóng khoáng thẳng thắn như chính tâm hồn
những người dân tộc miền núi Tây Bắc. Tiếng hát, tiếng sáo có sức lay động mãnh liệt,
làm cho sức trẻ, khát vọng yêu đương của Mị sống dậy, như hoa cỏ mùa xuân nhú
mầm xanh sau ngày đông lạnh giá. Mị càng uống rượu, ý thức về bản thân Mị lại càng
dâng cao “Mị còn trẻ lắm” . Cũng chính trong đêm lạnh giá mùa xuân ấy, giọt nước
mắt nóng hổi thương cho chính số phận mình của A Phủ là yếu tố cuối cùng khiến Mị
đưa ra quyết định táo bạo: cắt dây trói cho A Phủ rồi cùng bỏ trốn. Cũng kể từ đây
cuộc đời của họ bước sang trang mới tươi sáng tốt lành hơn cùng với cách mạng.
“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài có một nét riêng mà không thể lẫn đi đâu bởi vì
giọng điệu mà tác giả sử dụng là giọng điệu tự nhiên, suồng sã, gần với tiếng ăn câu
nói hàng ngày của người dân. Từ những chi tiết nhỏ nhất như cách xưng hô “tao-
mày”, đến cách nói không khoa trương, “xổ toẹt” không ẩn ý cầu kì , bác học bởi họ
đều là những người nông dân chưa đụng sách vở, tính tình chân chất. Chủ yếu nhất đó
chính là hệ thống những tri thức mà người đọc thu nhận được về phong tục, tập quán
sống của người dân tộc H’mong. Tô Hoài, bằng cảm quan phong tục của mình đã thể
hiện những màu sắc dân tộc vô cùng sinh động của đồng bảo dân tộc Tây Bắc, nào là:
phạt vạ, trình ma,cho vay nặng lãi, cưới hỏi, nối dây, gọi bạn tình, chơi xuân… Chính
màu sắc dân tộc này đã làm cho tác phẩm có sức hấp dẫn đặc biệt và sức sống với thời
gian như là một nét đẹp văn hóa dân tộc.
Đề : Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn VCAP
Tô Hoài là một gương mặt khá tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông viết văn
khá sớm. Trong sự nghiệp văn chương của mình, Tô Hoài đã đóng góp vào sự phát triển của

A Phủ” kể về cuộc đời của Mỵ và A Phủ, chàng trai và cô gái dân tộc H’Mông. Cuộc đời ấy
trải qua hai giai đoạn: đoạn đời đầy bóng tối và đau khổ ở Hồng Ngài và đoạn đời lóe lên ánh
sáng của sự sống ở Phiềng Sa. Phần sau của tác phẩm như một cô gái trang điểm chưa khéo
léo nên chưa đạt độ chín về nghệ thuật. Vì thế, nhà văn đã mạnh dạn lược bỏ hầu hết phần sau
khi đưa vào tuyển tập "Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985". Trên tinh thần ấy, bài viết sẽ đi
sâu vào tìm hiểu không gian nghệ thuật của tác phẩm chủ yếu là ở phần đầu.
1. Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính
chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm
nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó, thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ
bản tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần,
rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không
gian nên mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng. Do vậy,
không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lý.
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa cái thế giới mà con
người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó. Không gian nghệ thuật gắn
liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.
Truyện "Vợ chồng A Phủ" là loại truyện số phận. Tác phẩm kể về số phận của Mỵ và A Phủ
nên không gian trong tác phẩm là không gian của số phận con người diễn ra ở hai địa điểm
cách xa nhau hàng tháng đường rừng trên vùng cao Tây Bắc là Hồng Ngài và Phiềng Sa.
Trong bối cảnh không gian chung ấy, mỗi đoạn đời hai của nhân vật lại gắn với những không
gian mang dấu ấn riêng.
2. Không gian số phận của Mỵ và A Phủ ở Hồng Ngài là không gian nô lệ. Trong không
gian ấy, có hai loại nhân vật được ngòi bút tác giả tập trung thể hiện là kẻ chủ nô và người nô
lệ. Kẻ chủ nô là cha con thống lý Pá Tra, còn người nô lệ là Mỵ và A Phủ. Kẻ chủ nô có đủ
3
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mọi quyền hành còn người nô lệ bị đối xử không bằng súc vật.
2.1. Trước hết, tác giả đã xây dựng không gian bối cảnh dẫn tới không gian nô lệ. Đó là
không gian gia đình Mỵ sống cùng người bố đã già yếu lại mang một món nợ truyền kiếp.

như một tất yếu của cuộc sống trong xã hội cũ, phần thắng luôn thuộc về kẻ mạnh.
2.2. Trước khi chính thức trở thành nô lệ nhà thống lý Pá Tra, A Phủ phải trải qua một cuộc
xử kiện lạ lùng. Tác giả đã đưa người đọc vào một không gian pháp đình chưa từng có trong
lịch sử xử án. Không gian ấy được miêu tả từ ngoại cảnh đến nội cảnh. Ngoại cảnh là có thêm
nhiều ngựa buộc dưới gốc đào. Nó chứng tỏ một phiên xư án có nhiều người đến dự. Bởi hầu
như tất cả bọn chức việc ở Hồng Ngài đều có mặt ở nhà Pá Tra để dự xử kiện và ăn cỗ: nào lý
dịch, nào thống quán, nào xéo phải, nào bọn đi gọi người về xử kiện. Ngoài ra còn có bọn trai
làng bị gọi sang hầu kiện. Thành phần "quan tòa" đã đông đủ. Việc chuẩn bị cho buổi xử kiện
cũng rất chu đáo với năm bàn đèn thuốc phiện. Nguyên cáo, bị cáo, quan tòa, nhân chứng đã
đủ, thế là buổi xử kiện bắt đầu. Mở đầu cho buổi xử kiện là tiệc thuốc phiện. Trước tiên là
thống lý Pá Tra hút một lượt năm điếu, rồi người khác, lại người khác cho đến khắp lượt. Sau
đó, Pá Tra gọi, A Phủ bị lôi ra giữa nhà, bị chửi bới và bị đánh đập tàn nhẫn. "Cứ như thế, suốt
chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút". Không gian ấy ngào
ngạt khói thuốc phiện, tràn ngập âm thanh của những cơn kéo thuốc phiện, âm thanh của tiếng
chửi, tiếng kể, tiếng đánh đấm huỳnh huỵch. Không một lời giãi bày, biện hộ của A Phủ, bởi
chàng trai ấy không được phép nói dù chỉ một lời mà chỉ im như cái tượng đá trước những trận
4
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mưa đòn. Điều đó cho ta thấy được tính cách gan lì của A Phủ, sự tàn ác của bọn quan lại.
Suốt một đêm đến sáng hôm sau, buổi xử kiện kết thúc bằng việc Pá Tra mở tráp lấy ra một
trăm đồng bạc trắng và phán:
"Thằng A Phủ đánh người, làng xử mày phải nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi
đồng, nộp thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng mỗi người đi gọi các quan làng về hầu
kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan về hút thuốc từ hôm qua. Lại mất con lợn hai
mươi cân, chốc nữa mổ các quan làng ăn vạ mày. A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ
làng xử mày tội chết. Nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc,
tiền lợn, phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc, tao cho mày vay để mày ở nợ.
Bao giờ có tiền trả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con
ngựa nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ mới thôi. A

có ý thức rất cao về phẩm giá của mình. Nhưng Mỵ lại rơi vào một tình thế bi kịch: Sống
không được mà chết cũng không xong. Lòng hiếu thảo không cho phép Mỵ quyên sinh. Xưa
Thúy Kiều đã vì chữ hiếu mà bán mình chuộc cha. Còn nay, vì món nợ của cha chưa trả xong,
Mỵ không đành lòng chết khi nghe bố nói: "Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày
chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi không lấy ai làm nương ngô
trả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!". Thế là Mỵ đành trở lại nhà
Pá Tra để tiếp tục cuộc đời nô lệ. Mỵ sống như một người đã chết: không trông chờ, không hy
vọng, không phản ứng, không giao lưu, không đoái hoài đến không gian, thời gian. Mỵ câm
5
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
lặng như một cái bóng, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Thân xác ngày càng héo hon,
tinh thần càng tàn lụi. Sống chỉ là kéo dài những chuỗi ngày chưa chết mà thôi!
Để diễn tả cuộc đời lao động khổ sai của Mỵ, nhà văn đã dựng được những phép so
sánh thật là đau đớn: "Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. Con
ngựa phải đổi tàu ngựa nhà này đến ở tàu ngựa nhà khác. Con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi
làm mà thôi.". Đây là phép so sánh tương đồng: so sánh con người với con trâu, con ngựa.
Nhà văn còn sử dụng so sánh đòn bẩy: con người không bằng con vật vì con vật còn được
nghỉ ngơi ban đêm để gãi chân, nhai cỏ, còn con người thì vùi đầu vào công việc cả ngày, cả
đêm. Mà cơ man nào là công việc đè nặng lên những kiếp người: "Tết xong thì lên núi hái
thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp. Và dù lúc đi hái củi,
lúc bung ngô, lúc nào cũng ôm một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt
năm, suốt đời như thế".
Không chỉ diễn tả nỗi đau thể xác, nhà văn còn thông cảm với nỗi đau khổ tinh thần.
Chính xúc cảm về nỗi đau tinh thần ấy đã khiến ông sáng tạo ra những hình ảnh khó quên. Đó
là hình ảnh cô Mỵ rạo rực xuân thì ngày nào bây giờ trở thành con rùa lùi lũi trong xó cửa.
Nhất là hình ảnh căn buồng nơi Mỵ nằm kín mít với cái cửa sổ vuông bằng bàn tay. Mỵ ngồi
đó trông ra, lúc nào cũng chỉ thấy mờ mờ, trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Đây là
cách diễn tả cực hay về một thứ ngục thất tinh thần. Nó không chỉ giam hãm thân xác Mỵ mà
còn cách ly tâm hồn cô với cuộc đời, cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô. Tiếng nói tố cáo

6
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
Tác nhân ấy trước hết là hơi rượu. Nhà văn đã để cho nhân vật Mỵ lén uống rượu.
"Mỵ lén lấy hũ rượu uống ực từng bát". Uống mà như nuốt mọi đắng cay, tủi cực vào lòng.
Cái say vừa gây lãng quên, vừa đem lại trí nhớ. Quên thực tại và nhớ về quá khứ. Điều quan
trọng là Mỵ vẫn nhớ rằng mình vẫn còn là một con người. Ý thức ấy đã lớn dần lên: "Mỵ vẫn
còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cùng đi chơi ngày tết. Huống chi A Sử
và Mỵ không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau".
Cùng với hơi rượu, tiếng sáo đưa Mỵ đi theo cuộc chơi. Tiếng sáo cứ trở đi, trở lại.
Thoạt đầu là tiếng sáo còn vọng mãi từ xa ngoài đầu núi chỉ đủ cho Mỵ nghe và nhớ lại lời bài
hát của người đang thổi sáo mà nhẩm hát theo. Sau đó, "tiếng sáo gọi bạn đầu làng". Rồi tiếng
sáo đã không chỉ gọi bạn mà là "gọi bạn yêu" bay lơ lửng ngoài đường để rồi nó bay rập rờn
trong đầu Mỵ và trở thành tiếng lòng thổn thức. Thế nhưng thoát khỏi tình trang hiện tại là
điều không hề đơn giản. Tác giả đã đặt nhân vật trong sự tương tranh giữa một bên là sức sống
tiềm tàng, và một bên là ý thức về thân phận. Vì thế, dù trong lòng phơi phới, Mỵ vẫn theo
quán tính đi vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng.
Lòng Mỵ đầy mâu thuẫn. Đỉnh điểm của bi kich lúc này chính là "nếu có nắm lá ngón trong
tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay". Những lúc thèm sống như một con người, Mỵ chỉ muốn
chết. Mâu thuẫn ấy thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Tô Hoài và làm cho hình tượng nhân vật
trở nên chân thật.
Cũng chính tiếng sáo đã kéo Mỵ ra khỏi tình trạng bi kịch đó. Mỵ thèm đi chơi hội. Mỵ xén
miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Mỵ vấn lại tóc, tìm "cái váy hoa vắt ở phía trong vách"
chuẩn bị đi chơi. Hành động của Mỵ y như người mộng du, bởi Mỵ làm mà không hề hay biết
A Sử bước vào, không nghe A Sử hỏi. Và Mỵ đã phải trả giá cho hành động của mình. Mỵ bị
A Sử trói đứng vào cột nhà.
Có thể nói rằng Tô Hoài đã góp thêm một điển hình về nhân vật phản diện. Không chỉ
dã man, tàn ác của kẻ chủ nô, cái cung cách làm việc ác đến mức thản nhiên, lạnh lùng của cha
con tên chúa đất này đã làm ta ghê sợ. Hắn làm việc ác cũng như việc thiện. Điều đó chứng tỏ
cái ác đã ngấm vào trong máu. Ở trên ta đã chứng kiến cảnh Pá Tra vừa hút thuốc phiện, vừa

Đến đây, cơ hội để Mỵ và A Phủ xích lại gần nha đã có. Hai người có cùng cảnh ngộ,
một là con dâu gạt nợ, một là đứa ở trừ nợ. Cả hai từng bị trói: Mỵ bị trói trong buồng một
đêm, còn A Phủ bị trói ngoài trời nhiều đêm cho đến chết, nếu như
Trong những ngày A Phủ bị trói, Mỵ vẫn rơi vào một trạng thái gần như vô cảm. Niềm
an ủi duy nhất của cô lúc này chỉ còn là ngọn lửa. Có hôm khi đang ngồi sửi lửa, Mỵ bị A Sử
đánh ngã bên cửa bếp. Nhưng hôm sau, Mỵ vẫn lặng lẽ như cái bóng ra ngồi hơ tay, sửi lửa.
Hình ảnh người đàn bà héo hắt ngồi bên bếp lửa đêm đêm vào mùa đông trên núi cao gây ấn
tượng thật não nùng. Nhìn thấy A Phủ bị trói như thế, Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. "Nếu
là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi". Nỗi khổ của kẻ khác không làm động lòng Mỵ. Phải
chăng, lòng thương người ở Mỵ đã tắt hẳn? Nhưng rồi một đêm kia, qua ánh lửa bếp nhìn
sang, Mỵ thấy "một dòng nước mắt bò xuống hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Giọt nước
mắt ấy là biểu hiện của sự bất lực, tuyệt vọng ở chàng trai gan góc dũng cảm. Nó có khả năng
đánh thức lòng trắc ẩn ở con người. Tình thương đã cất lên trong Mỵ một lời độc thoại: " cơ
chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết". Dòng nước mắt
kia chính là giọt nước cuối cùng làm tràn cốc nước. Nó đánh thức trong Mỵ trí nhớ. "Mỵ chợt
nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước
mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được". Dòng nước mắt của A Phủ đã giúp
Mỵ nhớ ra mình, thương mình. Từ lúc biết thương mình, Mỵ nghĩ đến người cùng cảnh ngộ.
Tình thương ấy lớn mãi lên trong ý nghĩ: "ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma nhà nó rồi
thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì phải chết thế, A Phủ". Đó là
lời chất vấn trước thực tại bất công. Hai tiếng A Phủ lần đầu tiên rung động trong lòng Mỵ.
Tình thương đã biến Mỵ từ một người đàn bà nô lệ thành một người liều lĩnh. Ý nghĩ cứu A
Phủ đến với Mỵ chính vào lúc đó và đã dẫn đến hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ. Khi đã
cắt xong dây trói, cơn hốt hoảng tan biến từ nãy đột nhiên ập trở lại trong Mỵ. Khi đã giải
quyết xong việc thương người thì bây giờ đến lượt thương mình. Mỵ nói nhanh: "A Phủ cho
tôi đi". Chính nỗi sợ chết là tiếng nói của lòng ham sống. Hai người nô lệ vừa thoát khỏi xiềng
xích dìu nhau lao vào bóng đêm của núi rừng. Núi rừng sẽ bao bọc họ, giúp họ xuyên qua
bóng tối mà tìm đến chân trời ánh sáng.
3. Mỵ và A Phủ đã đi từ không gian nô lệ đến không gian tự do.
Tất nhiên là con đường ấy còn dài. Nhà văn chỉ dừng lại ở không gian đấu tranh cách

Sức chinh phục của tác phẩm là ở chỗ nhà văn đã đứng về phía khát vọng sống, khát
vọng làm người, khát vọng được yêu để tố cáo cái xã hội đã giam hãm, chà đạp, trói buộc tuổi
trẻ và sức lực của con người. Nhà văn muốn truyền đến người đọc niềm tin rằng sức sống của
con người là bất diệt, rằng con người luôn thiết tha vươn lên để được sống làm người.
Sức chinh phục của tác phẩm còn là ở cái nhìn biện chứng vào thế giới nội tâm nhân vật
mà ở đó tâm lý con người luôn luôn chuyển hóa, phát triển từ các cực tưởng như là đối lập
nhưng lại thống nhất trong từng hình tượng.
Tác phẩm cũng đem đến cho người đọc hình ảnh Tây Bắc thơ mộng, trữ tình với
những bức tranh phong tục, lễ hội xa lạ mà gần gũi như tục cướp vợ, lễ hội tìm bạn tình vào
dịp đầu xuân…
Và cuối cùng, tác giả đã đẩy những mâu thuẫn của cuộc sống đến đỉnh cao của nó.
Từ đỉnh cao đó, cuộc sống muôn hình, muôn vẻ mới hiện ra rõ nét và thuyết phục.
TIẾNG SÁO VÀ BẾP LỬA TRONG SỰ HỒI SINH CỦA NHÂN VẬT MỊ
1. Tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân và quá trình hồi sinh của nhân vật Mị.
Bị bắt làm dâu gạt nợ, cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra không khác
gì địa ngục. Mị từng nghĩ đến cái chết nhưng vì thương cha, cũng vì nghĩ “nó đã bắt ta
về trình ma nàh nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…” nên cứ âm
thầm mà sống trong sự chịu đựng. Nhưng trong đêm tình mùa xuân, cùng với không
khí nhộn nhịp ngày tết, men rượu nồng nàn, tiếng sáo góp phần đáng kể trong việc
khơi gợi sức sống và khát vọng mãnh liệt của nhân vật. Quá trình tâm lí nhân vật
chuyển biến phức tạp được miêu tả theo những sắc điệu muôn màu của tiếng sáo gọi
bạn tình. Tác giả đã để tiếng sáo ấy xuất hiện nhiều lần nhằm chiếu ứng với sự chuyển
biến ấy.
Đầu tiên, tiếng sáo xuất hiện trong cảnh mùa xuân rực rỡ của bản làng: những
chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá như những con bướm sặc sỡ, đám trẻ con chơi quay,
cười đùa trước sân nhà. Mị nghe tiếng sáo gọi bạn chơi của ai đó từ đầu núi vọng lại.
Cô cảm nhận được âm điệu “thiết tha, bổi hổi” trong tiếng sáo. Cô nhẩm theo lời bài
hát người ta đang thổi. Lần đầu tiên, sau bao năm trời “lùi lũi” như cái xác không hồn,
Mị đã xúc cảm được với xung quanh. Cho nên, nếu mùa xuân là giá đỡ, điện nguồn
cho cây đại dương cầm thì tiếng sáo là những ngón tay thon thả, dịu dàng đệm lên

tình yêu và khát vọng tuổi trẻ giờ đã tiêu tan! “Mị không nghe tiếng sáo nữa”. Mị chỉ
nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Cô thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Cô
nín khóc, cô lại bồi hồi! Nhưng có lẽ sự thổn thức, bồi hồi giờ đây không như lúc đầu
nữa. Suy nghĩ “mình không bằng con ngựa” lúc này cũng vậy. Khi trước Mị nghĩ thế
để mà chấp nhận số phận an bài: “…con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở
cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi
nữa…”. Còn bây giờ ý thức đã sống dậy. Mị thổn thức, bồi hồi là nuối tiếc quá khứ
vàng son không bao giờ gặp lại nữa. Đó là trạng thái tâm lí khi đang mơ bị người khác
đánh thức. Mị nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, tức là đã ý thức được bi kịch.
Quy luật tâm lí con người vốn thế. Người ta có thể dễ dàng trượt dài xuống bờ vực
thẳm của sự tha hóa, và chấp nhận. Muốn quay lại đương nhiên rất khó. Nhưng một khi
người ta đã ý thức muốn trở về, nhất là khi đã có dấu hiệu của sự trở về thì dẫu bắt chết
cũng khó lòng khiến người ta khuất phục. Mị đã sống lại ý thức và cảm giác, tạm thời
nàng chưa đủ khả năng giải phóng nên vẫn đắng cay chấp nhận thực tại nhưng bắt Mị
mãi mãi cam tâm là trâu ngựa như trước e không thể được nữa.
Tô Hoài đã rất tinh tế khi để Mị khắp người bị dây trói thít chặt lại, đau nhức. Lúc lại
nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo, tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê lúc
tỉnh cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ…
Nhưng những gì xảy ra đêm qua quyết không phải là giấc mơ. Có điều nó chưa
đủ sức vượt qua sức mạnh phũ phàng của thực tại. Cho nên dù ưu ái nhân vật đến đâu,
10
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
với ngòi bút hiện thực, Tô Hoài cũng đành gạt nước mắt để Mị tiếp tục khổ sở một thời
gian nữa trong nhà thống lí.
Sáng hôm sau, mọi việc trở lại bình thường. Cái bình thường ở đây giống như
sự phẳng lặng của biển cả trước hoặc sau cơn giông tố. Nhưng nó không tuần hoàn và
dễ tiên đoán như quy luật tự nhiên bởi đây là thế giới nội tâm của con người. Sóng lòng
khác sóng biển ở sự bất chợt. Ta có thể gọi đợt sóng vừa rồi trong lòng Mị là “cuộc
tổng diễn tập lần thứ nhất” như cách nói của các sử gia.

của bọn chúa đất, kẻ đã gây ra bi kịch cho cuộc đời mình và bao người cùng cảnh ngộ.
Mị cũng mơ hồ nghĩ rằng “người kia” việc gì mà phải chết thế. Lúc này: “ngọn lửa bập
bùng sáng lên”, ngọn lửa của lòng trắc ẩn và ý thức về cuộc sống trong Mị cũng được
nhen nhóm.
Lần thứ ba, nhớ lại đời mình, Mị lo sợ “một lúc nào đó, biết đâu A Phủ chẳng đã
trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cới trói cho nó, Mị liền phải trói
thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy”. “Cùng tắc biến”, con người ta khi đã tự đặt
11
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mình vào tình thế xấu nhất là cái chết thì còn gì đáng sợ nữa. Trong cảnh ấy, Mị “cũng
không thấy sợ nữa” là vì vậy. Nhưng điểm sáng trong tâm hồn Mị là nàng không chỉ
nghĩ cho mình. Cứu A Phủ hay để A Phủ tự trốn, đằng nào Mị cũng bị chết thay nên
Mị không cần phải tính toán nhiều, cứ hành động theo sự mách bảo của lương tri. Lần
này “đám than đã vạc hẳn lửa”, Mị không cần sưởi ấm cho mình mà đang nghĩ cách
giải cứu người khác.
Nhưng dù gì Mị cũng là cô gái yếu đuối, bị đày đọa triền miên nên lúc nào cùng
lơ sợ. Vì vậy, khi “trong nhà đã tối bưng” (lần thứ bốn), Mị “rón rén bước lại …, rút
con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây” giải cứu cho A Phủ. Hành động xong, Mị “cũng
hốt hoảng”, chỉ thì thào được một tiếng “đi ngay”, rồi “nghẹn lại”. Cô cũng không biết
phải làm gì tiếp theo nên chỉ “đứng lặng trong bóng tối”. Như vậy hành động của Mị
vừa có tính tự giác (xuất phát từ động cơ muốn cứu người), vừa có tính tự phác (không
có kế hoạch, tính toán cụ thể), nói cách khác là vì lòng thương người mà cũng là vì
“liều”. Việc Mị và A Phủ chạy khỏi chốn tăm tối trong đêm tối lạnh buốt còn có ý
nghĩa sâu xa: họ đã được giải phóng, họ sắp tìm đến ánh sáng cuộc đời mới.
Tóm lại, nếu ánh lửa đã từng là cứu cánh cho cuộc đời tối tăm của Mị trong nhà
thống lí Pá Tra thì bóng tối trở thành “đồng lõa” cho hành động cứu người, cứu mình
rất có ý nghĩa của nhân vật. Từ đây, hình tượng ánh lửa trong văn học có thêm nhiều ý
nghĩa sâu sắc mới. Điều đó khẳng định sự già dặn của một cây bút hiện thực, sự nhạy
cảm, tinh tế của một nhà văn từng gắn bó nghĩa tình với miền Tây Bắc.

khắc họa qua độc thoại nội tâm. Tô Hoài hay sử dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp khiến
ngoài thế giới và những nhân vật hòa làm một tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm.
3. Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giàu chất tạo hình. Xen vào giữa những đoạn
văn xuôi là những câu hát trữ tình, đằm thắm, cháy bỏng khát vọng hạnh phúc và tự do.
Với những thành công về nghệ thuật trên truyện ngắn Vợ chồng A Phủ xứng đáng là
một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam, được tặng giải Nhất –
giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 -1955.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status