PHẦN HOÀN CẢNH RA ĐỜI
1. Vi hành ( Nguyễn Ái Quốc) : ĐH
Tháng 6/1922 thực dân Pháp mở hội đấu xảo thuộc địa tại Mác xây. Chính phủ Pháp
đưa vua Khải Định sang dự nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vua An Nam hoàn toàn quy
phục mẫu quốc sang đây tạ ơn, tình hình Đông Dương ổn định nên họ ủng hộ cuộc đầu tư
lớn vào Đông dương. Trước sự kiện ấy, những người Việt Nam yêu nước tại Pháp đã lên
tiếng phản đối. Nguyễn Ái Quốc là một trong những người yêu nước Việt Nam có nhiều
bài báo, truyện ngắn đăng trên các báo như " Lời than vãn của Bà Trưng Trắc" "Những trò
lố hay là Va ren và Phan Bội Châu", "Vi hành". Tác phẩm "Vi hành"được viết bằng tiếng
Pháp đăng trên báo nhân đạo cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp số ra ngày
19/2/1923.
Tác phẩm viết nhằm vạch mặt Khải Định, một kẻ ngu dốt, lố lăng, một tên bù nhìn vô
dụng,đồng thời Nguyễn Ái Quốc cho nhân dân Pháp thấy rõ những thủ đoạn xảo trá của
thực dân Pháp.
2. "Tuyên Ngôn Độc lập"( Hồ Chí Minh)
- 19/08/1945 Chính quyền về tay nhân dân ở Hà Nội, ngày 26/08/1945 Hồ Chí Minh từ
Việt Bắc về đến Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang Hà Nội, Người soạn thảo "
Tuyên Ngôn Độc lập"- ngày 02/09/1945 Người thay mặt Chính Phủ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà đọc bản "Tuyên Ngôn Độc lập" tại Quảng trường Ba Đình.
- Hồ Chí Minh viết và đọc tuyên ngôn khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước
ta. Dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, quân đội Quốc dân đảng
Trung Quốc tiến vào từ phía bắc; quân đội Anh tiến vào từ phía nam; thực dân Pháp theo
chân đồng minh, tuyên bố Đông Dương là đất “ bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật
đã đầu hàng, Đông Dương phải thuộc quyền của người Pháp. Tuyên Ngôn độc lập còn đập
tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mỹ, Anh, Pháp nhất là Pháp nhằm tái chiếm
Đông Dương.
- Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là lời tuyên bố với nhân dân Việt Nam, mà còn tuyên bố
với nhân dân thế giới, phe đồng minh và cả kẻ thù của dân tộc về quyền độc lập tự do của
dân tộc Việt Nam
3 " Tây Tiến" ( Quang Dũng)
- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ
Tác phẩm được viết ngay sau cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và mất bản thảo.
Sau hoà bình lập lại (1954) Kim Lân dựa vào phần cốt truyện cũ và viết lại thành truyện
"Vợ nhặt". Tác phẩm được in trong tập truyện "Con chó xấu xí"
Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945. Qua đó, thể hiện tấm lòng cảm thông
sâu sắc của nhà văn đối với con người trong nạn đói.
7. "Tiếng hát con tàu" ( Chế Lan Viên)
- Tiếng hát con tàu được sáng tác 1960 và in trong tập "ánh sáng và phù sa". Đó là thời
điểm miền Bắc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, vừa bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất.
- Tiếng hát con tàu là khát vọng lên đường đến những vùng đất xa xôi làm giàu cho tổ
quốc. Đồng thời thể hiện tình cảm chân thành của nhà thơ đối với Tây Bắc.
8. " Người lái đò sông Đà" ( Nguyễn Tuân)
- Tác phẩm " Người lái đò sông Đà" được in trong tập tuỳ bút " sông Đà" của Nguyễn
Tuân xuất bản năm 1960, tất cả gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.
- Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 của ông. Nguyễn Tuân đến với
nhiều vùng khác nhau, sống với bộ đội, thanh niên xung phong, đồng bào dân tộc…Thực
tế cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại nguồn cảm hứng cho nhà văn sáng tạo.
- Lần xuất bản đầu tiên, bài này có tên là Sông Đà, năm 1982 khi cho in trong bộ tuyển
tập Nguyễn Tuân, tác giả có sửa đổi tên bài thành “ Người lái đò Sông Đà”.
9. "Việt Bắc" (Tố Hữu): - Việt Bắc quê hương cách mạng, nơi trung ương Đảng và
chính phủ từng đóng quân ở đây. Vì vậy, mối tình giữa Việt Bắc và kháng chiến trở nên
sâu nặng.
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết
(7/1954). Miền Bắc nước ta được giải phóng. Tháng 10/1954 các cơ quan trung ương của
2
Đảng và Chính Phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính lịch sử này
Tố Hữu đã sáng tác bài Việt Bắc.
- Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Tác phẩm chia làm hai phần:
- Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức văn học.Văn chương trong
thời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ. Người yêu cầu
người cầm bút cần xác định "Viết cho ai"." Viết cái gì", " Viết để làm gì" và "Viết như thế
nào". Người chú ý đến quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn nghệ. Các khía cạnh
liên quan đến nhau trong ý thức và trách nhiệm của người cầm bút.
- Hồ Chí Minh luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật. Nhà văn
phải chú ý đến hình thức biểu hiện tránh lối viết cầu kì xa lạ, nặng nề. Hình thức tác phẩm
phải hấp dẫn, trong sáng, ngôn ngữ chọn lọc. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự giữ
3
gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Người, tác phẩm văn học phải thể hiện được tinh
thần của dân tộc, của nhân dân và dược nhân dân yêu thích.
2. Sự nghiệp văn chương:
- Văn chính luận:
+ Viết nhằm phục vụ trực tiếpcông cuộc đấu tranh cách mạng, tiến công trực diện kẻ
thù, hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạngcủa dân tộc qua những chặng đường lịch sử.
+ Tác phẩm tiêu biểu: Người cùng khổ, Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn
Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Di chúc…
- Truyện và ký:
+ Truyện ngắn của Người hết sức cô đọng, cốt truyện sâu sắc, kết cấu độc đáo. Mỗi
tác phẩm đều có kết cấu riêng hấp dẫn, ý tưởng thâm thuý kín đáo, giàu chất trí tuệ.
+ Tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Nhật
ký chìm tàu…
- Thơ ca:
+ Thơ ca là lĩnh vực nổi bật trong các giá trị văn chươngcủa Hồ Chí Minh. Người để
lại trên 250 bài thơ.
+ Các tác phẩm trước và sau cách mạng tháng Tám,trong kháng chiến chống Pháp và
sau này là sự thể hiện tình cảm cách mạng phong phú, ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan
và góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật của người.Các tác phẩm tiêu biểu: tập thơ
"Nhật kí trong tù" gồm 133 bài, thơ Hồ Chí Minh( 1967) gồm 86 bài, thơ chữ Hán Hồ Chí
Minh(1990) gồm 36 bài.
với khuynh hướng sử thi là cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này.Tác phẩm tiêu
biểu: Bài ca xuân 61, mẹ Tơm…
- " Ra trận" (1962-1971), "Máu và hoa" (1972-1977): là chặng đường thơ Tố Hữu trong
những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hào hùng của cả dân tộc cho đến ngày
thắng lợi. Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi,cổ
vũ hào hùng của cả dân tộc trong công cuộc chiến đấu của cả hai miền. Tác phẩm tiêu
biểu: Bác ơi, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Việt Nam máu và hoa…
- " Một tiếng đờn"(1992), " Ta với ta"(1999): Nhà thơ chiêm nghiệm về cuộc sống, lẽ
đời, hướng tới những qui luật phổ quát- giọng thơ trầm lắng, thấm đượm suy tư.
2/ Phong cách nghệ thuật:
- Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình- chính trị. mọi sự kiện và các vấn đề lớn củađời sống cách
mạng, lí tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ
đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thật sự. Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống
lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng.
- Nội dung trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn liền với khuynh
hướng sử thi, cảm hứng lãng mạng. Khuynh hướng sử thi nổi bật trong thơ Tố Hữu là ở
thời kỳ sau. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu là cái tôi chiến sĩ, về sau trở
thành cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng và dân tộc. Nhân vật trữ tình trong
thơ Tố Hữu là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, đến
cuộc kháng chiến chống Mỹ được nâng lên thành những hình tượng anh hùng mang tầm
vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hoá. Những vần
thơ chứa chan cảm xúc hướng về lí tưởng, tương lai với niềm lạc quan, yêu đời.
- Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc từ nội dung đến hình thức. sử dụng thành công hai
thể thơ: lục bát và song thất lục bát-với lối nói quen thuộc, so sánh, ví von, truyền thống,
giàu nhạc điệu.
- Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình ngọt ngào, tha thiết, giọng của tình thương mến. Nhà
thơ dễ rung động với nghĩa tình cách mạng, luôn hướng đến đồng bào, đồng chí mà giải
bày tâm sự, trò chuyện, kêu gọi, nhắn nhủ.Thơ Tố Hữu phần nhiều có cách diễn đạt tự
nhiên, hơi thơ liền mạch.
III/ Tác gia Nguyễn Tuân: ĐH
nghệ thuật.
Giá trị của các sáng tác thời kỳ này là những trang viết đầy tài hoa và thấm nhuần lòng yêu
nước.
- Sau Cách mạng tháng Tám, ngòi bút Nguyễn Tuân hướng vào hai cuộc kháng chiến
chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Ông đã đóng góp cho nền văn
học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi
nhân dân trông chiến đấu và sản xuất. Hình tượng chính của tác phẩm Nguyễn Tuân sau
cách mạng là nhân dân lao động và người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang. Nhưng dưới ngòi
bút của ông, những nhân vật ấy không phải chỉ là những công dân dũng cảm mà còn là
những nghệ sĩ tài hoa. Tác phẩm tiêu biểu: tuỳ bút " Sông Đà", Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi…
Giá trị của các tác phẩm này là những trang viết đầy tự hào, ca ngợi nhân dân trong chiến
đấu, lao động.
3/ Phong cách nghệ thuật:
- Trước Cách mạng: Văn Nguyễn Tuân thể hiện cách nói độc đáo, ý nghĩ độc đáo. Nó gắn
với thái độ ngông nghênh phiêu bạt, thích nói những điều ngược đời,gai góc như muốn
trêu ghẹo thiên hạ.
- Sau cách mạng: nét phong cách này vẫn được duy trì nhưng ở chừng mực tìm cho mình
một cách tiếp cận hiện thực riêng, phát hiện những chân lí chưa ai phát hiện, đưa ra cách
dùng từ đặt câu không ai lẫn.
6
- Trên mỗi tác phẩm đều thể hiện chất tài hoa, uyên bác. Nguyễn Tuân luôn tiếp cận cảnh
vật, sự việc và con người ở phương diện thẩm mĩ của nó.
Trước cách mạng ông hay viết về những con người nghệ sĩ. Sau cách mạng, đối tượng
ông hướng tới là bộ đội, dân quân, người lao động.
- Trên mỗi tác phẩm đều thể hiện cảm hứng đăch biệt trước những cảnh tượng mãnh liệt
đối với nghệ sĩ. Đó là những cảm giác mạnh, không chung chung bằng phẳng nhàn nhạt…
không đẹp tuyệt vời cũng phải dữ dội, khủng khiếp.
- Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển ngôn ngữ văn học Việt
Nam. Ông có một kho từ vựng phong phú và một khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá
trị tạo hình, lại có nhạc điệu trầm bổng.
khổ, dở sống dở chết của những nhà văn nghèo, những giáo khổ trường tư…Nhà văn đặc
biệt đi sâu vào bi kịch tâm hồn của họ. Đó là tấm bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn
của người trí thức có ý thức sâu sắc giá trị sự sống và nhân phẩm, có một hoài bão lớn về
7
sự nghiệp, những lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm "chết mòn"
phải sống cuộc sống đời thừa.(Các tác phẩm tiêu biểu: Đời thừa, Trăng sáng, Mua nhà)
- Đề tài người nông dân: Nam cao quan tâm đến những hạng cố cùng, những số phận
hẩm hiu, bị ức hiếp. Họ càng hiền lành, nhịn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng. Tuy
giọng văn lắm khi lạnh lùng nhưng kì thực Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và
nhân phẩm những con người bất hạnh. Viết về người nông dân bị lưu manh hoá, nhà văn
đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và linh hồn người nông dân lao
động, đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện và đẹp đẽ của họ
ngay cả khi bị vùi dập.( Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no…)
b. Sau cách mạng:
Nam Cao lao mình vào mọi công tác cách mạng và kháng chiến. Ông tự làm người cán
bộ tuyên truyền vô danh của cách mạng và có ý thức tự rèn luyện cải tạo mình trong thực
tế kháng chiến.( Các tác phẩm tiêu biểu: Đôi mắt, Nhật kí ở rừng, Chuyện biên giới)
V/ Tác gia Xuân Diệu: ĐH
Sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu:
Xuân Diệu sáng tác thơ, văn xuôi, phê bình, tiểu luận. Hoạt động văn nghệ của ông
phong phú đa dạng.
a/ Thơ ca:
* Trước cách mạng: Xuân Diệu sáng tác thơ là chính. Thơ ông giai đoạn này dừng như
có hai tâm trạng trái ngược: Nhà thơ rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống; nhưng đồng
thời lại rất chán nản hoài nghi, cô đơn. Hai tâm trạng này có mối quan hệ nhân quả.
- Xuân Diệu rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống. Cảnh vật trong thơ Xuân Diệu đầy
sức lôi cuốn. Người đọc không thờ ơ được với khí trời, với trăng, với hoa. Tình yêu trong
thơ Xuân Diệu là khu vườn đủ mọi hương sắc, là bản nhạc đủ mọi thanh âm: Từ tình yêu
ngây thơ, e ấp đến đằm thắm, dịu ngọt, từ nồng nàn say đắm đến si mê điên dại( Huyền
diệu). Có thể nói, cuộc sống trong thơ Xuân Diệu thật là phong phú, tuyệt diệu, thế giới,
Câu 1: Ý nghĩa nhan đề " Vi hành" (ĐH)
- Theo nguyên văn tiếng Pháp, Truyện ngắn này có tên là Incognito có nghĩa là ngầm,
lén, bí mật, ẩn danh thể hiện sự lén lút, ám muội.
- Năm 1922 thực dân Pháp đưa vua bù nhìn Khải Định sang Pháp để dự cuộc đấu xảo
thuộc địa ở Macxây đây là thủ đoạn chính trị nhằm lừa gạt nhân dân Pháp và vuốt ve Khải
Định
- Tên đầu đề có ý nghĩa châm biếm Khải Định và thực dân Pháp. Bút pháp này xuyên
suốt tác phẩm.
Câu 3: Ý nghĩa nhan đề "Vợ nhặt"
- "Vợ nhặt" là một truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân viết về nông thôn
Việt Nam trước cách mạng tháng Tám được rút ra từ tập truyện "Con chó xấu xí"
- "Vợ nhặt" gợi lại hiện thực nạn đói khủng khiếp năm 1945. Từ đó, thấy được sự tàn
bạo của chế độ thực dân, phát xít, thấy giá trị con người rẻ rúng - người ta có thể nhặt
được như cọng rơm, cọng rác ngoài đường.
- Thấy được giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Câu 4: Ý nghĩa hình tượng "con tàu" và địa danh "Tây Bắc" trong bài "Tiếng hát
con tàu "của Chế Lan Viên.
- Ý nghĩa hình ảnh "con tàu":
+ Chế Lan Viên viết bài thơ "Tiếng hát con tàu" vào thời điểm miền Bắc đang diễn ra
cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở vùng cao Tây Bắc. Bài thơ
được in trong tâp "Ánh sáng và phù sa" (1960).
+ Hình ảnh "con tàu" gợi nghĩ đến những chuyến đi xa. Nhưng thực chất lúc đó chưa
có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Do vậy hình ảnh "con tàu" trong bài thơ chủ yếu
mang ý nghĩa biểu tượng: nó tượng trưng cho khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, khát
vọng hoà nhập vào cuộc sổng rộng lớn của dất nước, nhân dân. Đó chính là con tàu tâm
tưởng của khát vọng khám phá và sáng tạo.
- Ý nghĩa địa danh "Tây Bắc":
+ Tây Bắc là tên gọi một vùng cao phía tây đất nước, nơi hướng tới của bao người đi
xây dựng kinh tế miền núi những năm 1958-1960.
9
- Thuốc còn là thứ thuốc giết người. Từ đó dùng để chữa căn bệnh mê muội, tê liệt của
người Trung Quốc.
- Thuốc còn là thứ thuốc chữa căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng đi tiên
phong.
=> Phanh phui căn bệnh tinh thần ở mọi người, lưu ý họ tìm phương thuốc khác để chữa
căn bệnh tinh thần ấy cho quốc dân.
Câu 8: Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch “ Hồn Trương Ba, da hàng thịt”
của Lưu Quang Vũ
- Cuộc sống con người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn
những giá trị mình muốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.
- Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa
tâm hồn và thể xác. Không thể lắp ghép khập khiễng hòng tạo nên những giá trị đích
thực của cuộc sống.
10
- Con người phải luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống
lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.
Câu 9: Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “ Số phận con
người” của Sô- lô- khốp.
*Ý nghĩa tư tưởng:
- Khẳng định sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến của nhân dân Nga nói chung trong sự
nghiệp bảo vệ xây dựng tổ quốc, đồng thời thể hện lòng khâm phục và tin tưởng vào tính
cách Nga kiên cường và nhân hậu, đồng cảm trước vô vàn khó khăn trở ngại mà con người
phải vượt qua trên con đường vươn tới tương lai và hạnh phúc.
- Tác giả biểu dương, ca ngợi khí phách anh hùng của nhân dân, vừa tố cáo chiến tranh
phát xít mạnh mẽ.
- Thông qua tác phẩm, Sô - lô- khốp muốn nhắc nhở, kêu gọi sự quan tâm của toàn xã hội
đối với cá nhân con người. Ông khẳng định nhân dân tạo nên lịc sử, song cũng nhấn mạnh
lịch sử phải có trách nhiệm trước mỗi cá nhân
- Tác phẩm ca ngợi tính cách Nga, ngợi ca con người yêu nước có ý chí kiên cường, có
nghị lực và niềm tin vào cuộc sống
từ đấy.
- Trước khi học thuốc ông đã hoc hai nghề. Đó là nghề hàng hải, mong đi đây đi đó để mở
rộng tầm nhìn. Kế đó là học nghề khai khoáng, với nguyện vọng làm giàu cho tổ quốc.
- Nhờ học giỏi, ông được sang Nhật học nghề y. Đang học y ở Tiên Đài, một lần xem
phim, ông thấy người Trung Quốc hăm hở đi xem người Nhật chém người Trung Quốc.
Ông nghĩ chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thầncho quốc dân. Thế
là ông chuyển sang làm văn nghệ.
- Làm văn nghệ ông chủ trương dùng ngòi bút để phanh phui các căn bệnh tinh thần của
quốc dân, lưu ý mọi người phương thức chạy chữa.
2. Sự nghiệp sáng tác: Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng của Trung Quốc.
- các sáng tác chính: Tập "Gào thét", "Bàng Hoàng"," Chuyện cũ viết theo lối mới"…
Trong đó có các tác phẩm tiêu biểu như AQ chính truyện, Nhật ký người điên, Cố hương,
Thuốc…
3. Tóm tắt tác phẩm: Tác phẩm viết về các chết của Hoa Thuyên và Hạ Du vào mùa
thu. Hoa Thuyên con của lão Hoa mắc phải bệnh lao. Theo quan niệm lạc hậu của người
Trung Quốc thời bấy giờ, Hoa Thuyên phải ăn chiếc bánh bao tẩm máu người mới có thể
khỏi. Bố Hoa Thuyên gom tiền mua chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du -Một người cách
mạng bị chết chém- Hoa Thuyên ăn vào nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Kết thúc tác
phẩm vào buổi sáng mùa xuân mẹ của Hoa Thuyên và mẹ Hạ Du cùng đến cúng cơm trên
phần mộ của hai người con. Mẹ Hoa Thuyên đã bước qua con đường mòn để đến với mẹ
Hạ Du.
II/ Cuộc đời và sự nghiệp của Hêminguê:
1. Cuộc đời: (1899-1961)
- Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, ngoại vi Chicagô.
- Học xong trung học làm phóng viên. Ông từng tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất,
trở về với những vết thương tinh thần khiến. Không thể nào hoà nhập vào cuộc sống,
Hêminguê cùng với số trí thức nghệ sĩ trẻ tự xưng là thế hệ vứt đi. Ông viết tiểu thuyết lên
án chiến tranh đế quốc. Năm 1937 tình nguyện sang Tây Ban Nha chién đấu chống tên độc
tài Phăng cô. Từ năm 1939-> 1945 là phóng viên chiến tường rồi gia nhập du kích chống
phát xít ở ngoại ô Pari. Năm 1954 nhận giải Nôben văn học.
- Ông để lại cho nhân loại một khối lượng văn học đồ sộ. Ông có những trang viết hay về
chiến tranh và người lính, đặc biệt là về vùng sông Đông.
- Các tác phảm chính: Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, Số phận con người. Trong đó
Sông Đông êm đềm là tác phẩm tiêu biểu nhất.
3. Tóm tắt tác phẩm: Tác phẩm gồm phần mở đầu, phần kết thúc và ba chương.
Chương 1: là tiểu sử của Xôcôlôp từ những năm trai trẻ đến những năm chiến tranh vệ
quốc bắt đầu. Những năm nội chiến, anh tham gia Hồng quân. Năm 1922 nạn đói cả nhà
anh chết chỉ mình anh còn sống. Anh lấy vợ có ba con gia đình hạnh phúc.
Chương 2: chiến tranh bùng nổ, Xôcôlôp từ giã vợ con ra mặt trận, anh bị phát xít bắt
làm tù binh,… thoát khỏi trại tù trở về với Hồng quân, được ít lâu nhận được tin vợ và con
gái chết vì bom phát xít.
Chương 3: một hy vọng sưởi ấm tâm hồn anh: anh nhận được thư của con trai nay là đại
uý pháo binh. Nhưng thật nghiệt ngã, con trai anh đã hy sinh đúng ngày mồng 9 tháng 5
năm 1945, ngày chiến thắng phát xít.
Tóm tắt đoạn trích: Đoạn trích kể về số phận của Xôcôlôp ở ngoài quân ngũ. Anh không
về quê vì tất cả người thân đã chết, anh tìm đến nhà một người bạn ở Uriupinxcơ. Công
việc của Xôcôlôp là chở hàng hoá về huyện. Thường chạy xe xong anh trở về thành phố
vào quán giải khát. Và anh đã gặp Vania ở đây. Bố và mẹ em đã chết trong chiến tranh
phát xít. Trước cảnh ngộ của Vania, Xôcôlôp nhận em là con. Anh dồn hết tình thương
chăm sóc cho Vania. Nhưng một lần Xôcôlôp lái xe bị chạm phải con bò anh bị tước bằng
lái. Cuối cùng hai bố con rời Uriu –pin-xcơ đến một vùng quê khác.
PHẦN TÓM TẮT VĂN HỌC VIỆT NAM
VÀ CHỦ ĐỀ
13
Câu 1. *Tóm tắt tác phẩm “ Vợ chồng A phủ”
Truyện kể về cuộc đời của Mị và A Phủ, hai con người cùng khổ vùng núi cao Tây Bắc.
Mị một cô gái Mông bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Từ khi bị bắt làm dâu
gạt nợ, suốt mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc. Mị về nhà chào cha để đi chết nhưng
thấy bố van khóc Mị đã không đành lòng. Mị trở lại nhà thống lí Pá Tra. Từ đó, Mị sống
trong câm lặng như con rùa nuôi ở xó cửa. Khi mùa xuân đến, tiếng sáo gọi bạn tình đã
anh tra tấn dã man. Tnú không chịu được, anh nhảy ra giữa bọn ác ôn và bị bắt, bị chúng
đốt 10 đầu ngón tay. Dân làng vùng dậy cứu anh nhưng vợ và con Tnú đã chết. Sau khi
được dân làng cứu mặc dù bị thương nhưng anh vẫn tham gia quân giải phóng. Đoạn kết
Tnú chia tay cụ Mết và Dít ra đi chiến đấu. Những đồi xà nu vẫn chạy nối tiếp đến chân
trời.
14
* Chủ đề: Rừng xà nu là cau chuyện về quá trình trưởng thành trong nhận thức cách mạng
của một con người, cũng như của đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Chân lí tất yếu mà họ
nhận ra đó là: Chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể đè bẹp bạo lực phản cách mạng.
Câu 4: * Tóm tắt tác phẩm “ Những đứa con trong gia đình”
Câu chuyện kể về một gia đình Nam Bộ yêu nước, giàu truyền thống cách mạng thông
qua những dòng hồi ức của nhân vật chính là Việt. Trong trận chiến đấu ở rừng cao su
Việt tiêu diệt được một xe tăng bọc thép nhưng bị thương nặng, hai mắt không nhìn thấy
gì. Nhữnglúc tỉnh dậy âm thanh xung quanh làm Việt hồi tưởng về những người thân
trong gia đình. Việt nhớ đến những lúc ở nhà vẫn hay tranh giành phần hơn với chị
chiến. Việt nhớ đến má cái lần má dắt theo Việt đi đòi đầu cha. Việt nhớ đến chú năm,
người giữ quyển sổ ghi công gia đình và tội ác của giặc. Việt nhớ đến chị chiến trong cái
đêm cuối cùng ở nhà trước khi nhập ngũ. Khi đồng đội tìm thấy Việt thì thâqý Việt ở
trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, đạn đã lên nòng, một ngón tay của Việt đã đặt sẵn vào
cò súng, Việt được đưa về điều trị.
* Chủ đề: Qua hồi ức của Việt khi bị thương về những thành viên trong gia đình, tác giả
ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình cũng là của nhân
dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Câu 5: * Tóm tắt tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng anh đã từng tham gia chiến tranh chống Mỹ, được trưởng phòng
cử xuống vùng biển để chụp ảnh biển buổi sáng . Anh đã chụp được cảnh “đắt” trời cho.
Nhưng ngay lúc ấy, Phùng phát hiện ra một bức tranh khác của cuộc sống. Một người
chồng đã đánh đập vợ một cách dã man và đưa con vì bênh vực cho mẹ đã lao vào đánh
bố. Oái ăm thay, sự thật nghiệt ngã đó lại xuất phát từ chiếc thuyền mà chỉ vài phút trước
đây, là bức ảnh trong mơ của anh. Anh kể câu chuyện với Đẩu, bạn anh, chánh án tòa án
Câu 8: Nguyễn Đình Chiểu , ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc
Qua bài viết, Phạm Văn Đồng khẳng định: Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là cuộc dời
của một người chiến sĩ đã phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của
văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc đời. Cuộc đời và
văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là bài học cho hôm nay mà cả cho mai sau.
Câu 9: Chủ đề “Thông điệp ngày thế giới phòng chống AIDS”: Khẳng định việc phòng
chống AIDS phải là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại, và những cố gắng của chúng ta
còn quá ít. Tác giả tha thiết kêu gọi hãy coi việc chống đại dịch này là cuộc chiến, mọi
người phải đối mặt với sự thật, không vội vàng phán xét đồng loại và chung tay “ đánh đổ
các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này.”
Câu 10: Đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam 1945-1975
- Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh
chung của đất nước, phục vụ cách mạng cổ vũ chiến đấu.
- Văn học hướng về đại chúng, tìm đến những hình thức nghệ thật quen thuộc với quần
chúng nhân dân
- Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạng.
Hết
16