Miền ý niệm sông nước trong tri nhận người Việt - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Vũ Trinh
MIỀN Ý NIỆM SÔNG NƯỚC
TRONG TRI NHẬN NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 66 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC


Thành phố Hồ Chí Minh đã khuyến khích động viên và nhiệt tình giới thiệu người viết với
GS. TS Trần Ngọc Thêm – giảng viên khoa Văn hóa học, Đại Học Khoa Học Xã Hội &
Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh, để người viết tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Nam bộ trong
vùng ảnh hưởng của sông nước.
Cảm ơn gia đình – chỗ dựa bền vững cho người viết hoàn thành tốt quá trình học tập.
Cảm ơn những người bạn phụ trợ người viết sưu tầm, lưu chép phụ lục và chỉnh sửa lỗi trình
bày cho luận văn được hoàn thiện.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010
Đinh Thị Vũ Trinh
CÁC CHỮ VIẾT TẮT MYN : Miền ý niệm.
MYNSN : Miền ý niệm sông nước.
NNHTN : Ngôn ngữ học tri nhận.
ngữ sông nước [39].
Trong 64 tên tỉnh thành Việt Nam hiện nay thì ít nhất 25% địa danh có yếu tố sông
nước, chưa kể đến các tên huyện, thị. Đặc biệt, điều này vẫn diễn ra ở những địa phương mà
đa phần là đất núi như Sông Bé, Hà Bắc xưa hay Đắk Lắk, KonTum, Hà Giang ngày nay.
Trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày của người Việt, dễ dàng bắt gặp những hình ảnh
sông nước như “chìm”, “trôi”, “nổi”, “ướt át”, “lênh đênh”…hay ngay cả lời ca cũng giàu
những ẩn dụ tri nhận mang tính sông nước như “sông quê”, “suối mơ”, “sóng tình”, “có một
dòng sông đã qua đời”…
Kì thực, sông nước đã thấm vào đáy tâm thức người Việt. Từ tri nhận, tư duy đến dấu ấn
trong ngôn ngữ hay phản chiếu song hướng giữa “sông nước” với ngôn ngữ là một hệ quả tất
yếu xảy ra. Dấu ấn ấy đã diễn biến ra sao và như thế nào? Đây là vấn đề thú vị chẳng những
về mặt văn hóa mà còn rất đặc biệt đứng từ góc nhìn ngôn ngữ.
Với những lý do vừa trình bày trên, chúng tôi bắt tay tìm hiểu đề tài “Miền ý niệm sông
nước trong tri nhận người Việt” nhằm phân tích, lý giải một nét độc đáo của tư duy ngôn ngữ
dân tộc.

2. Lịch sử vấn đề
“Sông nước” từ lâu không còn là vấn đề xa lạ trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như địa
lí, kỹ thuật, kinh tế,văn hóa…với tri thức nền lẫn phương tiện hữu ích là ngôn ngữ. Ở chính
địa hạt ngôn ngữ, sông nước cũng đã là một hiện tượng được quan tâm xứng đáng. Ở góc độ
văn hóa, tìm hiểu về sông nước đã được đề cập rộng rãi trong những bài nghiên cứu như
“Suy nghĩ về yếu tố sông nước trong văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Việt (Dân tộc
học,1981, Số 4); “Sông nước trong tâm thức người Việt” của Nguyễn Thị Thu Trang (Văn
hóa dân gian, 2006, Số 3); gần đây là luận văn thạc sĩ Văn hóa ứng xử với môi trường sông
nước của người Việt miền Tây Nam Bộ của Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền (2006). Ở địa hạt ngôn
ngữ, trước đây, tìm hiểu về các từ chỉ sông nước đã được sự khảo sát bởi Trần Thị Ngọc
Lang (1982, 1995) với việc tìm hiểu nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ
Nam bộ, Nguyễn Thị Thanh Phượng (1997) với đề tài Tìm hiểu từ ngữ sông nước trong đời
sống văn hóa Việt Nam (luận văn thạc sĩ); đặc biệt, với phần phụ lục quy mô Nguyễn Thị
Thanh Phượng đã chứng tỏ được một cách xuất sắc sông nước là một miền rộng lớn và ưu

với Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G.Lakoff và M.Turner (luận văn thạc sĩ, 2009)…
Những nghiên cứu về tri nhận ngày càng phát triển cho thấy: NNHTN không còn là vấn
đề thách đố các nhà ngôn ngữ mà ngược lại, nó mở rất nhiều cánh cửa để đi vào tri thức về
tiếng với đa chiều đa dạng kiểu chuyên sâu khác nhau.
Thế nhưng, cũng có thể nhận ra chưa có công trình tỉ mỉ nào như một nghiên cứu chính
thức cho sự kết hợp “sông nước” và “tri nhận”. Chẳng hạn bài báo của Nguyễn Đức Dân –
“Nước – một từ đặc Việt” [85] cũng đã khơi gợi những ý tưởng về “lối tư duy nước” nhưng
không nói đến tri nhận luận hay một hướng đi khoa học nào để đào sâu về vấn đề này.
Trên cơ sở kế thừa thành quả của những công trình nghiên cứu của những người trước
đó, với luận văn “Miền ý niệm sông nước trong tri nhận người Việt”, chúng tôi sẽ tiếp cận
vấn đề “sông nước” trên cơ sở của NNHTN như những bước khai phá đầu tiên đầy tính thử
thách.

3. Đóng góp của đề tài
Như đã biện giải, nghiên cứu vấn đề sông nước Việt Nam dưới ánh sáng của NNHTN
là một việc làm ý nghĩa. Chúng tôi bắt đầu việc nghiên cứu này thông qua “miền” và trên cơ
sở “miền” đi vào thế giới tư duy của người Việt ở lĩnh vực “sông nước”. Đây là phương cách
tiếp cận hiệu quả cho những phạm vi rộng lớn: Quy vào các lĩnh vực cụ thể để đào sâu tìm
tòi vấn đề. Từ đó, luận văn này đóng góp vốn ngữ liệu từ ngữ (từ định danh, thành ngữ và
tục ngữ) thuộc Miền ý niệm sông nước (MYNSN) trên cơ sở chính là khái quát hóa hiện
tượng Ẩn dụ – Hoán dụ ý niệm trong tiếng Việt. Chính vì vậy, tuy khoanh vùng ở phạm vi
sông nước nhưng những cứ liệu của chúng tôi khác lạ so với những nguồn cứ liệu đã có rải
rác trong từ điển hoặc các công trình về “sông nước” trước đó. Luận văn cũng thống kê các
bài hát có ca từ hàm chứa MYNSN trong âm nhạc Việt, hiển nhiên, chúng tôi chỉ sưu tầm
cứ liệu ca từ mang tính minh họa mà không đi quá sâu để tránh sự bất lượng sức.

4. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp sưu tập ngữ liệu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào đối tượng là từ vựng, thành ngữ, tục ngữ và một số ca dao, ca khúc
Việt Nam phần lớn xoay quanh 121 ý niệm thuộc MYNSN được nêu trong mục 5.3 (chương

6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý thuyết
Đề tài của chúng tôi đi vào khái chung cách tiếp cận ngôn ngữ dưới lăng kính NNHTN,
từ đó góp phần làm phong phú những nghiên cứu về ngôn ngữ thuộc “sông nước” trong tiếng
Việt từ góc độ MYN (Miền ý niệm). Để rồi, MYN được lưu ý thành một thuật ngữ quan
trọng trong NNHTN và, luận văn còn hướng đến việc xây dựng các thống kê chuyên ngành
mà cao hơn là các từ điển chuyên ngành đi sâu vào miền ý niệm sông nước (MYNSN).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nhấn mạnh đến kinh nghiệm sông nước nổi bật trong tư duy ngôn ngữ của
người Việt so với các dân tộc khác và ngay trong chính hệ thống ngôn ngữ mà người Việt
đang sử dụng. Thông qua đó, chúng tôi khẳng định MYNSN là một miền ưu thế, rộng khắp
vượt ra khỏi lãnh vực của cư dân vùng sông nước.
Luận văn cũng góp phần nhỏ khơi vào việc nghiên cứu ca từ dưới góc độ tri nhận luận
với hy vọng tạo một cầu nối giữa Ngôn ngữ học và Âm nhạc học Việt Nam. Từ đấy, chúng
ta chung sức tạo nên nền Âm nhạc Việt có những tác phẩm không những đẹp đẽ về làn điệu
mà còn có thẩm mỹ trong ca từ.

7. Bố cục luận văn
Luận văn (ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục) sẽ gồm 2
chương:

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Ngôn ngữ học tri nhận – một khuynh hướng hiện đại
2. Quá trình tri nhận cơ bản trong não người
3. Bức tranh ngôn ngữ về sông nước của người Việt
3.1. Bức tranh ngôn ngữ về ý niệm nước
3.2. Bức tranh ngôn ngữ về ý niệm sông
3.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm sông nước
4. Miền ý niệm sông nước trong tiếng Việt
5. Tiểu kết

khuynh hướng đánh đồng nghiên cứu ngôn ngữ với Logic học, xem trọng quy tắc đúng sai
trong ngữ pháp; hoặc ngôn ngữ được đưa vào làm đối tượng duy nhất của ngành Ngữ văn –
lấy việc giải thuyết, phân tích văn bản làm chủ điểm và có khi còn nhập cả vào Lịch sử văn
học...
Ở thời kỳ này, ngôn ngữ được xem là một hệ thống cấu trúc với cơ sở là các yếu tố và
mối quan hệ – nghiên cứu chỉ bản thân ngôn ngữ trong sự phân chia rạch ròi ngôn ngữ với
lời nói (Tuy chính Saussure cũng đề cập đến sự ảnh hưởng của ngôn ngữ từ những yếu tố
“ngoài ngôn ngữ” như phong tục, thiết chế trường học, nhà thờ, lịch sử dân tộc…). Phương
pháp của cấu trúc luận là miêu tả, đại loại là thu thập, thống kê sự xuất hiện của từ và sau đó
là khái quát hóa quy tắc của nó trong các quan hệ. Tuy nhiên, có nhiều hiện tượng không thể
giải thích bằng mối quan hệ. Chẳng hạn từ “lên” trong tiếng Việt trong hai trường hợp: Thầy
tôi lên
núi/Cô tôi lên trường, chúng ta không thể dùng cách khái quát để phân tích cấu trúc
của từ “lên”, đó là một trong những mặt hạn chế của thời kỳ cấu trúc luận và tồn tại mãi đến
những năm 1960.
Ngữ pháp tạo sinh của N. Chomky ra đời được gọi là “cuộc cách mạng tri nhận” của
những năm 1950; tạo một sự thay đổi quan trọng: từ nghiên cứu hành vi sang nghiên cứu các
sản phẩm, từ những cơ chế bên trong thâm nhập vào tư duy và hành động. Ngữ pháp tạo sinh
là trường phái có ảnh hưởng to lớn đối với ngôn ngữ học thế giới, chiếm vị trí chủ đạo trong
suốt ba thập niên (1960 – 1980).
N. Chomsky đã nhận ra có rất nhiều hiện tượng mà Ngôn ngữ cấu trúc không thể giải
thích được. Một ví dụ hay được đề cập đến là hiện tượng một đứa trẻ có thể nắm vững tiếng
mẹ đẻ, nó có thể nói ra những câu chưa bao giờ nói và có thể hiểu những câu chưa bao giờ
nghe. Chomsky lưu ý đến khả năng tạo sinh ngôn ngữ của con người: Con người có thể
thông hiểu, cảm thụ được vô vàn lời nói vô hạn trong đời sống bằng các thông số hữu hạn
trong bộ não.
Mặt khác, nếu quan niệm ngôn ngữ là tập hợp tất cả các phát ngôn của một ngôn ngữ
bất kỳ – tức theo nguyên tắc cấp số cộng – thì về lý thuyết, có thể có một lượng vô hạn các
phát ngôn mà trí nhớ của con người không thể lưu giữ hết được (nếu như vậy thì muốn nói
thuần thục một ngôn ngữ, người có kinh nghiệm sống 60 năm cần bộ nhớ gấp 1000 lần hiện

Vậy, hiểu “tri nhận” như thế nào?
Tri nhận là khái niệm chứa đựng nghĩa của hai từ kết hợp: cognition (nhận thức) và
cogitation (tư duy – suy nghĩ). Tri nhận còn là nhận thức và đánh giá của con người về bản
thân trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt – tất cả những cái tạo
thành cơ sở cho hành vi của con người.

Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi
truyền vào trong não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung,
cảnh,…) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người.
Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán, nghĩa là xử lí thông tin dưới
dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành mật mã khác, thành cấu
trúc khác.
Khoa học tri nhận (cognitive science) được hình thành như một khoa học vào những
thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ XX, có nhiệm vụ nghiên cứu và mô hình hóa các quá trình trí tuệ
của con người. Tri nhận là một cách nhìn, theo đó con người cần phải được nghiên cứu như
một hệ thống chế biến thông tin, còn hành vi của con người cần phải được miêu tả và thuyết
giải bằng những thuật ngữ về những trạng thái nội tại của con người. Những trạng thái này
về mặt vật lí học, được thể hiện, được quan sát và được thuyết giải như là sự tiếp nhận, chế
biến và lưu trữ, sau đó là vận dụng thông tin để giải quyết một cách hợp lí những nhiệm vụ
đặt ra. Do việc giải quyết những nhiệm vụ này trực tiếp cần đến việc sử dụng ngôn ngữ nên
tất nhiên ngôn ngữ phải nằm ở trung tâm chú ý của các nhà tri nhận luận.
Liên quan đến khoa học tri nhận, các bộ môn khác nhau nghiên cứu những bình diện
khác nhau của sự tri nhận. Trong đó, Ngôn ngữ học nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ
của hệ thống tri thức. Nếu tri nhận luận có đối tượng nghiên cứu là trí tuệ, tư duy và các quá
trình tinh thần của con người, thì NNHTN thiết lập mối quan hệ giữa đối tượng ấy với ngôn
ngữ tự nhiên mà con người sử dụng trong giao tiếp thường nhật.
F. de Saussure từng so sánh “ Ngôn ngữ còn có thể so sánh với một tờ giấy: mặt phải là
tư duy, mặt trái là âm thanh; không thể cắt mặt phải mà không đồng thời cắt lên cả mặt
trái...”. Thế nhưng, Ngôn ngữ học mà ông đi nghiên cứu lại trừu xuất khỏi lời nói, phân tách
nó và tạo nên tính “tự trị”. Tính tự trị của ngôn ngữ đã tồn tại từ lâu, cho rằng hệ thống ngôn

so sánh tạo nên những cấu trúc tinh thần – tri nhận các dữ kiện rời rạc thành một chỉnh thể có
nghĩa. R.W.Langacker đã đưa ra ba hình ảnh rời rạc về các góc không tiếp nhau, tạo một
chuỗi sự kiện có liên quan đến hình tam giác. Trong nhận thức của chúng tôi, có thể trong
giao tiếp các sự kiện ngôn từ rời rạc nhưng khi tư duy, chúng nằm trong một hệ hình nhất
định. Sự liên kết để tạo nên những cấu trúc không hoàn toàn mạch lạc và logic, nhưng chắc
chắn sự liên kết này có tồn tại trong tư duy con người. Lấy ví dụ về tri nhận về sông nước,
những “bờ”, “ao”, “hồ”, những “dụng cụ đánh bắt” hay “các họat động trên sông nước” thực
chất là các sự kiện riêng lẻ, nhưng bộ não của cư dân người Việt đã “tổ chức lại” thành
những cấu trúc hoàn chỉnh trong não mình thành những miền cố định (chúng tôi định thành 7
miền cơ bản) mà chúng ta sẽ phân tích cặn kẽ ở những phần tiếp sau. Cấu trúc tinh thần được
tạo trên cơ sở sự củng cố, liên kết các dữ kiện tạo nên những mô hình nhất định được gọi là
tiêu chí, tiêu chí dùng để đánh giá kinh nghiệm. Trong MYNSN chúng ta đang xét, Miền các
dạng nước là một tiêu chí với nhiều dạng riêng lẻ: nước đá, nước hoa, nước vôi…
Một quá trình nữa trong hoạt động tri nhận là quá trình phóng chiếu – quá trình tổng
hợp trong đó một tiêu chí đã được củng cố S (entrenched standard) chiếu lên một đích tri
nhận T (cognitive target). Ví dụ trong câu ca: Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà
vẫn hơn, “ao” thuộc tiêu chí đã được củng cố – thuộc Miền vật chứa nước và các yếu tố bộ
phận liên quan tới vật chứa (Trường ý niệm 2 trong phân loại MYNSN) và đích tri nhận lúc
này sẽ là vùng miền sinh sống. Quá trình phóng chiếu chỉ diễn ra khi tiêu chí S được kích
hoạt dựa trên cơ sở các tiểu hệ thống gắn liền với S và T; các tiểu hệ thống trong trường hợp
này chính là sự tri nhận về những tương đồng giữa “ao” với “làng quê”: với người Việt, ao là
vật chứa quen thuộc và dường như không thể thiếu ở mỗi vùng quê; như vậy đã có những
tiểu hệ thống phóng chiếu giữa hai miền mà cụ thể trong ví dụ này là ý niệm “ao” và “làng
quê”.
Việc phóng chiếu các lược đồ để phân nhóm các đích tri nhận chính là một phần quan
trọng của quá trình phạm trù hóa. Thông qua quá trình phạm trù hóa, dữ kiện được tổ chức
thành những nhóm có các điểm giống nhau bằng cách loại bớt các dị biệt riêng lẻ. Ví dụ
chúng ta thường lấy “sông” để nói đến sự chia cách, cách trở, chia lìa…như “sang sông”,
“đưa người qua sông”…dù giữa “sông” và “khoảng cách” có những khác biệt cơ bản như
đây là hai khái niệm giữa vật thể (sông) và đo lường (khoảng cách) nhưng đã bị che khuất, bị

mẹ đẻ của một dân tộc nhất định, chúng ta có thể hiểu được “bức tranh thế giới thứ hai”, hiểu
được cách nhìn thế giới phổ biến và đặc trưng của cả một dân tộc. Cũng có thể nói, có bao
nhiêu ngôn từ được phản ảnh trong ngôn ngữ một dân tộc thì có bấy nhiêu bức tranh ý niệm
thông qua nó tồn tại. Tuy nhiên, chúng ta
không xét chi tiết mọi ngôn từ
được xác lập
trong hệ thống một ngôn ngữ được nghiên cứu mà chỉ tập trung vào những từ ngữ có tính
biểu trưng trong ý thức dân tộc ấy. Giả sử đối với người Việt, những ý niệm như “số phận”,
“trời”, “cây tre”, “mặt”, “sông”, “con đò”,…sẽ được nghiên cứu chi tiết vì tính biểu trưng cô
đọng của nó. Trong luận văn này, ý niệm về “nước”, về “sông”, về “sông nước” sẽ được khai
thác tỉ mỉ từ góc độ bức tranh ý niệm trong tư duy ngôn ngữ người Việt.
Đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu ý niệm “nước” (ý niệm là gì sẽ được làm rõ ở 4.1 chương
này) với nghĩa gần gũi nhất trong tri nhận con người: Chất lỏng không màu, không mùi và
trong suốt khi là nguyên chất, tồn tại trong tự nhiên ở sông hồ, biển…[38]. “Nước là thành
phần rất cần thiết cho sự sống, chưa từng phát hiện sự tồn tại của nó trên bề mặt của bất kì
hành tinh nào khác…”
[89].

Không dừng ở cách hiểu mang tính khoa học thường thức ấy, chúng ta còn nghiên cứu
nước dưới góc độ là một biểu tượng tinh thần đặc biệt mang tính nhân loại.
Nước với hầu hết các nền văn hóa trên thế giới được biết đến với ba ý nghĩa chủ đề: 1.
Mầm sống, nguồn sống, 2. Phương tiện thanh tẩy, 3. Tâm điểm của sự tái sinh [5, 6]. Trong
tiếng Việt cũng có những biểu hiện đó. Cụ thể với thành ngữ, ca dao tiếng Việt chúng có vô
thủy nghỉ ăn, bắc nước chờ gạo người, chờ hết nước hết cái, lạ nước lạ cái (Mầm sống,
nguồn sống)…Dù ai xấu xí như ma/Tắm nước đồng Lẫm cũng ra con người (Phương tiện
thanh tẩy); Của bàn tay làm ra như nước nguồn/Của cha mẹ để cho như nước lũ (Tâm điểm
của sự tái sinh).
Với cư dân vùng lúa nước Việt, “nước” không chỉ là điều kiện tiên quyết của kinh tế
nông nghiệp (“nước – phân – cần – giống”) mà còn là yêu cầu đầu tiên cho mọi sự lựa chọn
từ nơi sinh sống đến vị trí quan trọng nhất là kinh đô của một quốc gia. Có thể thấy rằng,

đều đổ ra biển…” [86].
Với tri nhận bản thể là trung tâm, con người quan niệm mình như ở vị trí gốc tọa độ,
nhìn lên (trục tung) là nguồn nước chảy xuống dưới là biển cả (Lên trời xuống
biển), trục
hoành là hai bên tả – hữu của con người. Biểu tượng sông (hay dòng nước chảy) là biểu
tượng về khả năng của vạn vật, của tính lưu chuyển của mọi dạng thể, của sự phong nhiêu,
của cái chết và sự đổi mới. Dòng chảy là dòng của sự sống và cái chết với sự xuôi chảy hòa
vào đại dương hay ngược dòng hoặc vượt bờ. Sự xuôi chảy là sự tụ họp nước, là sự trở về
với trạng thái bất phân, là lối vào Nirvana (Niết Bàn). Sự ngược dòng là sự trở về với thần
thánh – cội nguồn, bản thể. Sự vượt bờ là sự vượt qua chướng ngại vật, vượt qua chướng
ngại ngăn cách hai lĩnh vực, hai trạng thái, hai thế giới: cảm tính và siêu thoát – hiện thực và
phi hiện thực [5:829].
Với người Ấn, sông Hằng là một dòng sông đổ từ trên cao – từ ân huệ trên cao vời, từ
mái tóc của thần Siva, dòng sông của tắm gội, tẩy uế và giải thoát. Ở người Hy Lạp là sự tôn
kính lẫn kinh sợ, người ta cúng tế cho thần sông lễ vật bằng cách nhấn chìm những con bò
hoặc ngựa còn sống, và, người ta chỉ qua sông khi đã tuân thử những nghi lễ tẩy uế và
nguyện cầu.
Chảy từ trên cao xuống, quanh co qua núi vào thung lũng và biến mất trong những lòng
hồ và đại dương, dòng sông trở thành biểu trưng cho đời người vô thường với những chuỗi
liên tiếp những dự tính, ước ao, những suối nguồn tình cảm và thiên hình vạn trạng những
bước ngoặt của chúng đúng với thành ngữ triết lý của người Việt: “sông có khúc, người có
lúc.”
Việt Nam là nước có hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển từ bắc chí nam – miền Bắc
có 10 cửa biển lớn, miền Trung có 8 và miền Nam có 13 [86].
Chúng ta có tới 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 41.900 km.
Mật độ sông và kênh trung bình ở Việt Nam 0,6 km/km², khu vực sông Hồng 0,45 km/km²
và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là 0,68 km/km². Các sông lớn thường bắt nguồn từ
nước ngoài chỉ có phần trung du và hạ lưu chảy trên địa phận Việt Nam [86].
Lưu lượng nước của các sông và kênh là 26.600 m³/s, trong tổng lượng nước này phần
được sinh ra trên đất Việt Nam chiếm 38,5%. Lượng nước không đồng đều giữa các hệ thống

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)
Và:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi bóng những hàng me
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống dòng sông lấp lánh…
(Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)
Trong “Quê hương”, Tế Hanh cũng mở đầu: “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới/ Nước
bao vây cách biển nửa ngày sông”…
Một điều thơ mộng không chỉ trong ca dao, văn thơ xưa mà ngay chính trong âm nhạc
Việt đương đại cũng thấm đẫm hình ảnh sông. Hát về núi sông tức cũng là ca bài ca về đất
nước Việt. Này là con sông Tương trong bài ca Ai về sông Tương (Thông Đạt), con sông Lô
trong bài hát cùng tên của Văn Cao, con sông Vàm Cỏ trong Vàm Cỏ Đông (Trương Quang
Lục), sông Hậu trong Chiếc áo bà ba (Trần Thiện Thanh)…Sông là biểu trưng gắn với tình
cảm quê hương trong Sông Quê (Nguyễn Trọng Tạo): “Sông quê nước chảy đôi bờ/ Để anh
chín dại mười khờ thương em. Ơi con sông quê, bao năm đã lở đã lở bồi”…
Người Việt xa xưa còn coi sông như một hình nhân sống nên có cách đặt tên phổ biến:
sông Cái, sông Con, sông Cả… và cũng cho thấy mối thân tình ruột rà với tự nhiên. Lưu vào
tiếng Việt, người Êđê cũng bắt đầu tên địa danh của mình là sông (Krông) nên một số địa
danh Tây Nguyên, vùng không hề biết đến biển cả thì yếu tố sông nước đặc biệt nổi biệt:
(huyện) Krông Bông, Krông Buk , Krông Pak, Krông Ana, Krông Năng…
Như vậy, đến đây có thể khẳng định: vai trò to lớn của sông trong tri nhận, trong bức
tranh thế giới thứ 2 của tư duy người Việt chúng ta là điều có thật và có nhiều cơ sở xác
đáng.
3.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm sông nước
Sông nước là sông, về mặt là cảnh vật thiên nhiên, hoặc điều kiện sinh sống của con
người (nói khái quát). Ví dụ: Thạo nghề sông nước, cảnh sông nước nên thơ. [38:867]
“Nước sông” hay “sông nước” đều có nghĩa, nhưng ý nghĩa thì không như nhau. “Nước
sông” chỉ là một dạng của nước nói chung theo nghĩa gốc trong khi thuật ngữ “sông nước”
khái quát hơn đã định nghĩa trên, hiểu một cách dân dã là vùng đất quanh sông suối, kênh

hóa mang tính biển cả, điều này còn gắn liền với các truyền thuyết “Âu Cơ – Lạc Long
Quân”, “An Dương Vương Cổ Loa”, “Sơn tinh – Thủy Tinh”…Theo bản năng tự vệ, người
Việt co cụm lại thành những làng xã quanh lũy tre, thôn xóm, con đò của sông nước. Và làng
– với sông nước, trở thành thành trì bảo vệ văn hóa Việt trước nguy cơ bị đồng hóa của ngoại
xâm, từ đó, “sông nước” cũng là nơi có thể áp dụng những bài học về đánh bắt, về sinh sống
của cư dân Việt. Cũng từ đây, sự xa vời biển lập nên một hình thái kinh tế mới – nền kinh tế
nông nghiệp tự cung tự cấp. Dù sau này người Việt đã có những hành trình lớn để về với
biển, nhất là sự trỗi dậy mạnh mẽ của các triều đại Lý – Trần thời trung cổ chóng ngoại xâm,
nhưng, thực tế sau hàng trăm năm cách biển, thói quen và tập tục đã đổi thay; người Việt đã
không còn nghĩ nhiều đến những thương thuyền lớn giong buồm ra biển lớn, và, làm cho văn
hóa Việt cũng không thực mặn mà với những hùng vĩ và dữ dội của biển cả.
Một khi văn hóa khoanh lại trong một vùng cố định, thì ngôn ngữ cũng sẽ trở nên
chi tiết ở những lĩnh vực mà con người cọ sát. Dù sông nước không phải luôn hiền hòa với
con người, nhưng người Việt chấp nhận như một lẽ tự nhiên, truyền thuyết “Sơn Tinh –
Thủy Tinh” phần nào nói lên được điều đó, hay Đam San (nhân vật trong sử thi Đam San của
người Êđê) là biểu tượng cho khao khát chiếm lĩnh tự nhiên bằng cách “bắt nữ thần mặt trời
về làm vợ” nhưng khao khát làm chủ của Đam San thật chất đã bất thành trong khu rừng Sáp
Đen cho thấy, thực tế, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, người Việt Nam nói
chung phụ thuộc, nương tựa hơn là độc lập, làm chủ. Người Việt Nam thể hiện rõ ý thức tôn
sùng bái tự nhiên, gọi thiên nhiên là “thần” (nữ thần mặt trời, thần sông, thần núi…) và thể
hiện thành lối sống hòa hợp, thích nghi, hòa mình và gắn bó với môi trường tự nhiên. Từ ngữ
“sông nước”, vì vậy mà trở nên dồi dào, phong phú trong vốn từ vựng dân tộc.
Con người – mà trong trường hợp chúng ta đang xét là người Việt (người Kinh) – với tư
cách là chủ thể tiếp xúc và tri nhận về thực tại với ba phạm vi cơ bản: thế giới tự nhiên
quanh mình, xã hội mà con người tổ chức và chính con người trong hai mối liên hệ ấy có hai
khuynh hướng hành xử: chấp nhận hoặc cải tạo. Hai khuynh hướng này không phân tách
rạch ròi mà bổ trợ, đan xen nhau.
Ở lĩnh vực ngôn ngữ, xuất phát từ ba phạm vi đó, vốn từ vựng được hình thành với ba
lớp từ cơ bản: Lớp từ biểu thị sự vật, hiện tượng, khái niệm thuộc về thế giới tự nhiên;
về xã hội loài người và về nhận thức bản thể. Từ ngữ “sông nước”, lĩnh vực sông nước về

vừa tự nhiên khách quan vừa mang đặc trưng địa phương – vùng miền.
Khu vực văn hóa đặc trưng nhất từ dấu ấn sông nước có thể nói đến là Tây Nam bộ với
hàng ngàn đường kênh rạch, sông ngòi. Cuộc sống người dân nơi này gắn bó mật thiết với
nước: ruộng ngập nước, trồng lúa nước, thức ăn có sẵn dưới nước, nhà trên nước, chợ nổi, di
chuyển trên nước (ghe, xuồng), văn nghệ, thể thao trên nước (hát nhạc tài tử, đua ghe), người
chết vào mùa nước nổi thì dìm xác vào nước…Cả tên của thành phố được mệnh danh là thủ
đô của lục tỉnh Nam kì (Tây Đô) cũng có một giả thuyết lý thú liên quan đến sông nước:
Vùng đất này xưa kia của người Khmer có nhiều tôm cá, đặc biệt là cá sặc rằn (loại cá to
bằng bàn tay, làm khô ăn với cơm nguội) và người Khmer gọi cá này là Krantho. Người Việt
đọc lệch "Kr" nên thành Cần Thơ. (Xét riêng về mặt ngữ âm, đây là xu hướng rụng tổ hợp
phụ âm đầu kiểu Kr thành K). Từ môi trường sống “bồng bềnh sông nước” đến ngữ điệu
phát âm “bằng phẳng” của người dân vùng Tây Nam bộ dường như có mối quan hệ; rồi tất
nhiên là đi vào lời ăn tiếng nói, như ca dao chẳng hạn:
Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.
Hay:
Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.
Rồi:
Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen
Và:
Trời mưa cóc nhái chết sầu
Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng
Chàng hiu đứng dựa sau lưng
Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.
Không thể chối cãi “cá tính sông nước” đặc thù của vùng Tây Nam bộ, nhưng cũng có
thể thấy: toàn Việt Nam có nhiều sông lớn nhỏ khác nhau, phân bố dày thưa khác nhau
nhưng đặc biệt là hầu như vùng nào cũng có. Và vì vậy, ảnh hưởng từ sông nước đến tiếng
Việt là rộng khắp và dễ thích nghi, lan tỏa. Ngôn ngữ sông nước dễ dàng “lên bờ”, “lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status