Nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro trong chăn nuôi gà thịt ở các hộ nông dân tại huyện đức trọng tỉnh lâm đồng - Pdf 28



BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
 NGUYỄN THÁI BẮC
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO
TRONG CHĂN NUÔI GÀ THỊT Ở CÁC HỘ NÔNG DÂN
TẠI HUYỆN ðỨC TRỌNG – TỈNH LÂM ðỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI , 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
i

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào.
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 18 tháng 08 năm 2013
Người cam ñoan Nguyễn Thái Bắc Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
ii

LỜI CẢM ƠNðể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản là sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cũng như sự ñộng viên giúp
ñỡ của các tổ chức tập thể, gia ñình, bạn bè.
Qua ñây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc ñến các thầy cô giáo
Trường ðHNN Hà Nội nói chung, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo trong
Bộ môn Phân tích ñịnh lượng, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng
ñã giúp ñỡ tạo ñiều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường. ðặc biệt
tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS. TS. Nguyễn Hữu Ngoan, người ñã trực

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

II – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.1.1 Rủi ro 4

2.1.1.2 Khái niệm rủi ro và không chắc chắn trong nông nghiệp 6

2.1.2 Rủi ro trong nông nghiệp 10

2.1.3 Phân loại rủi ro 18


3.2.1.3 Phương pháp đánh giá rủi ro 38

3.2.1.4 Phương pháp phân tích khác 39

3.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 39

IV – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Thực trạng chăn nuôi gà và rủi ro trong chăn nuôi gà tại huyện Đức Trọng 42

4.1.1 Khái quát tình hình chăn nuôi gà trên địa bàn huyện Đức Trọng 42

4.1.2 Thực trạng chăn nuôi gà thịt trong các hộ nông dân điều tra 43

4.2 Giải pháp hạn chế rủi ro cho hộ nông dân nuôi gà thịt tại huyện Đức Trọng 66

4.2.1 Nhóm giải pháp 1: Nhóm giải pháp về kỹ thuật 66

4.2.2 Nhóm giải pháp 2: Nhóm giải pháp về thị trường 69

4.2.3 Nhóm giải pháp 3: Nhóm giải pháp về tài chính 70

4.2.4 Tiếp cận bảo hiểm nông nghiệp 73

V – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Kiến nghị 75


Bảng 17 Tình hình tham gia tập huấn, ứng dụng VAC 62
Bảng 18Khả năng áp dụng kỹ thuật mới trong CN gà của các hộ điều tra 63
Bảng 19 Nguồn thông tin thị trường chính của hộ nông dân tại điểm nghiên cứu 64
Bảng 20 Nguồn vay vốn của hộ điều tra 65Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
vi

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt/
ký hiệu
Cụm từ ñầy ñủ
IPSARD Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp
Nông thôn
DFID Bộ phát triển quốc tế
SX Sản xuất
TB Trung bình
WB Ngân hàng thế giới
CN Chăn nuôi
KN Khuyến Nông
VN Việt Nam
TG Thế giới
LIFSAP Dự án cạnh tranh ngành chăn nuôi và An toàn thực phẩm
PTNT Phát triển Nông thôn
NN Nông nghiệp
HTX Hợp tác xã

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
2

tổng đàn gà của tỉnh. Trong khi đó, giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh trong 5
năm qua, dịch bệnh trong chăn nuôi nói chung xảy ra liên tiếp từ những năm
2008 đến 2012; lãi suất tín dụng cao, nguồn vốn vay ngày càng khó tiếp
cận…Ở các quy mô khác nhau thì mức độ ảnh hưởng và ứng xử của người
dân cũng khác nhau. Những khó khăn trên gây nên nhiều rủi ro và ảnh hưởng
lớn đến doanh thu và các quyết định trong chăn nuôi của các hộ nông dân
chăn nuôi trong địa bàn huyện.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành đi sâu nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro trong chăn nuôi gà thịt ở các hộ
nông dân tại Huyện ðức Trọng – tỉnh Lâm ðồng”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro trong chăn nuôi gà thịt ở các hộ
nông dân tại huyện Đức Trọng nhằm giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và giải pháp hạn
chế rủi ro trong chăn nuôi.
- Phân tích thực trạng các giải pháp hạn chế rủi ro của các hộ nông dân
chăn nuôi gà thịt ở huyện Đức Trọng.
- Đề xuất những giải pháp hạn chế rủi ro cho hộ nông dân chăn nuôi
gà thịt áp dụng tại huyện Đức Trọng.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

2.1.1.1 Rủi ro
Một trong những khó khăn lớn nhất đối với các hộ nông dân là thường
xuyên gặp rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi. Rủi ro sẽ
tác động trực tiếp đến quyết định của người nông dân, chính vì vậy nó ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của người nông dân. Vì thế, vấn đề rủi ro trong
chăn nuôi ngày càng trở thành một vấn đề đáng quan tâm của xã hội nói
chung và ngành chăn nuôi nói riêng, đặc biệt là các hộ nông dân. Khái niệm
rủi ro trong phân tích kinh tế được dùng để đề cập tới tình trạng một quyết
định có thể có nhiều kết quả với các khả năng khác nhau. Tuy nhiên khái
niệm này còn đượcđịnh nghĩa theo nhiều khái niệm khác nhau, về cơ bản có
thể chia làm hai trường phái: trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường
phái tiêu cực) và trường phái trung hòa.
Trường phái truyền thống (trường phái tiêu cực)
Theo cách nghĩ truyền thống thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy
hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hay những vấn đề
không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo trường phái này có nhiều
định nghĩa như:
- “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến” (Từ điển tiếng
Việt 1995)
- “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may (Từ điển từ và ngữ Việt
Nam năm 1998)
- “Rủi ro là gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại…” (Từ điển
Oxford)

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
5

- Một số từ điển khác đưa ra khái niệm tương tự như: “Rủi ro là sự bất
trắc gây ra mất mát, hư hại” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự
khó khăn hoặc điều không chắc chắn”…

Phạm Văn Minh (2007) đã đưa ra định nghĩa về rủi ro đó là một tình
huống trong đó một quyết định có thể có nhiều hơn một kết quả, người ra
quyết định biết tất cả các kết quả và xác suất xảy ra các kết quả đó.
Như vậy theo các quan điểm này thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường
được. Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau khi nhìn nhận về rủi
ro, điều này có thể hiểu là do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực
của sản xuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro. Bên cạnh đó, do rủi ro
xảy ra nhiều lần trong đời sống của con người cho nên những bất trắc xảy ra
thì có thể đo lường được chúng.
Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể nguyên nhân gì, khi
xảy ra rủi ro thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như
mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngừng trệ sản xuất và ảnh
hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung. Trong nghiên cứu của chúng tôi
chủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường phái truyền thống, bởi vì với nông hộ
thì họ quan niệm rủi ro tức là sự không may, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế
của họ. Hơn nữa với nông dân cũng không có những ghi chép liên tục về các
sự kiện đã xảy ra nên khó có thể tính ra xác suất chính xác.
2.1.1.2 Khái niệm rủi ro và không chắc chắn trong nông nghiệp
Theo Phạm Thị Mỹ Dung (2002) có thể hiểu sự không chắc chắn là các
tình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện. Sự không chắc
chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các nông hộ
phải đương đầu. Sự không chắc chắn chỉ được xem như là một vấn đề đối với
sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các dạng
chủ yếu sau:
Sự không chắc chắn về sản lượng.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
7

Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai.

giá đối với thị trường nông sản khi có sự biến động quá lớn là cần thiết nhằm
ổn định đời sống và sản xuất đối với ngành này.
Sự không chắc chắn về xã hội
Sự không chắc chắn về xã hội liên quan đến việc kiểm soát các nguồn
lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác. Điều
này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và các
nguồn lực khác. Sự không chắc chắn về xã hội do tính chất của xã hội quyết
định nên nó có mức độ khác nhau giữacác vùng hoặc các nước khác nhau.
Sự không chắc chắn về con người
Không ai có thể biết trước được sức khoẻ của mình cũng như các thành
viên trong gia đình trong tương lai. Vì vậy, điều này cũng được coi là sự
không chắc chắn về con người.
Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân không tình
nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếp nhận
một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắc chắn.
Điều đó cũng làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội nông thôn.
P. H. Callkin và cộng sự của ông (1983) nói rằng F. H. Knight (1921)
đã phân biệt giữa rủi ro (risk) và không chắc chắn (Uncertainty). Theo
Knight, rủi ro tồn tại khi người sản xuất biết vùng kết quả (Outcome) có khả
năng xảy ra và xác suất của vùng kết quả đối với quyết định của anh ta.
Ngược lại sự không chắc chắn xảy ra khi các kết quả hoặc sự kiện (event) xảy
ra và xác suất của chúng không biết. Thông thường không chắc chắn bao gồm
các sự cố thỉnh thoảng xảy ra như lũ lụt của một con sông hay cái chết của
một con bò đực đáng giá…

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
9

Còn R. D. Kay (1988) nói rằng, có nhiều tác giả phân biệt giữa rủi ro và
không chắc chắn. Họ định nghĩa rủi ro là tình trạng mà ở đó tất cả các kết quả có

• Thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp
khá đa dạng về đối tượng cũng như phương pháp. Ở thời kỳ đầu, các nghiên
cứu thường tập trung ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như ở Mỹ,
EU, Canada, Australia với mối quan tâm chính là tác động của các yếu tố
ngoại vi như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh đối với sản xuất nông nghiệp; lựa
chọn quyết định sản xuất trong điều kiện rủi ro; Các phương pháp xác định rủi
ro; sự cần thiết phải can thiệp của chính phủ trong sản xuất nông nghiệp.
Đóng góp đáng kể trong thời kỳ này phải kể đến Arrow (1971), Just (1974,
1975, 1984), Jodna (1975, 1978), Binswanger (1979), Butler(1979), Quiggin
(1979, 1981, 1986), Anderson và các cộng sự (1971, 1979, 1983, 1984),
Gardner và các cộng sự (1984, 1985), Walker (1986) và nhiều tác giả khác.
Kế thừa những nghiên cứu này, các nghiên cứu về rủi ro trong nông
nghiệp được mở rộng cả về phạm vi lẫn đối tượng nghiên cứu. Sản xuất nông
nghiệp ở các nước thế giới thứ 3 với những đặc thù riêng cũng đã được quan
tâm. Sự biến động của thị trường; tác động qua lại và ảnh hưởng tổng hợp của
các loại rủi ro đối với lựa chọn của người sản xuất; các chiến lược giảm thiểu
rủi ro đối với cá nhân, cộng đồng và vai trò của chính phủ; các phương pháp
tiếp cận mới đối với rủi ro, đánh giá lại các chương trình giảm thiểu rủi ro của
chính phủ là những nội dung mà các học giả và nhiều tổ chức nghiên cứu đề
cập đến. Bên cạnh đó, nghiên cứu rủi ro không chỉ liên quan đến người sản
xuất mà còn hướng đến những tác động do biến đổi môi trường khí hậu toàn
cầu, cũng như những rủi ro đem đến cho sức khỏe của cộng đồng. Những
đóng góp chính trong giai đoạn này đến từ Anderson và các cộng sự (1988,
1990, 1992,,1994, 1997, 2001), Facler (1988), Antle(1989), Fafchamps
(1992), Dercon (1996, 1998), Huirne và các cộng sự (1997, 200), Dehm

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
11


soát và ứng phó đối với các cú sốc bệnh dịch trong chăn nuôi của Việt Nam
thấp hơn nhiều so với các nước lân cận như Thái lan và Malaysia.
Liên quan đến ảnh hưởng của giá cả đối với các quyết định trong sản
xuất nông nghiệp, Quốc (2006) và Linh (2008) đã có những mô phỏng bước
đầu về khả năng áp dụng các mô hình động trong dự báo quy mô sản xuất.
Tuy nhiên khả năng triển khai trên diện rộng đối với các mặt hàng nông sản
chiến lược còn khá hạn chế do hệ thống cung cấp thông tin giá cả ở Việt Nam
rất yếu và thiếu chính xác.
• Quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Trên cơ sở các tiêu chuẩn chung về quản lý rủi ro giữa Australia và
New Zealand (AS/NZS 4360: 1995), Hardaker và các cộng sự (1997) đưa ra
khái niệm rằng “quản lý rủi ro là sự áp dụng có hệ thống các chính sách quản
lý, các nguyên tắc và hành ñộng trong ñịnh dạng, phân tích, ñánh giá, xử lý,
và giám sát rủi ro nhằm giảm thiểu thiệt hại và tối ña hóa các cơ hội.”. Tuy
nhiên, các nguyên tắc này không cố định và mang tính thích ứng với từng
trường hợp cụ thể (Hardaker, 1997).
Căn cứ trên khái niệm này cũng như các nghiên cứu thực tiễn của nhiều
tác giả trước đó, Ngân hàng thế giới (2000, 2001), Anderson (2005), đã hệ
thống và sắp xếp các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp theo thời
điểm phát sinh của rủi ro, đối tượng áp dụng, cơ chế và công cụ ứng phó theo
bảng dưới đây:

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
13

Bảng 1: Cơ chế và công cụ ứng phó rủi ro
Cơ chế chính thốngCơ chế phi chính thống

giao rủi
ro
Chia sẻ sản phẩm
Chia sẻ các trang thiết bị
đầu vào, nguồn nước
Thiết lập các nhóm hỗ trợ
tự phát
Ràng buộc
bằng hợp
đồng
Hợp đồng
giao sau
Bảo hiểm

Chiến lược ñối với rủi ro
ñã phát sinh
ðối
mặt với
rủi ro
Cắt giảm tiêu dùng
Trì hoãn các hoạt động
không quan trọng
Bán tài sản
Di cư
Tái phân phối lại lao động
Cứu trợ tương hỗ
Tín dụng Cứu trợ xã hội
Dãn nợ, khoanh nợ
Bảo hiểm nông
nghiệp

Ngoài các chiến lược mang tính tự vệ ở cấp nông hộ khi đối mặt với
rủi ro thì cơ chế chia sẻ rủi ro dựa vào thị trường là một trong những chiến
lược đang nhận được sự quan tâm như bảo hiểm, sản xuất theo hợp đồng,
quản lý an toàn thực phẩm.
- Bảo hiểm nông nghiệp: Theo thống kê của Vụ bảo hiểm- Bộ Tài
Chính, cho tới nay mới chỉ có 1% cây trồng vật nuôi được bảo hiểm. Năm
2011, Nhà nước ta cũng đã đi sâu triển khai loại hình bảo hiểm nông nghiệp

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
15

trong chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Đối với từng địa bàn khác
nhau áp dụng bảo hiểm nông nghiệp cho loại cây trồng và vật nuôi khác nhau.
Hiện tại đối với ngành trồng trọt, cây lúa nước áp dụng tại: tỉnh Nam Định,
Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp; đối với
ngành chăn nuôi áp dụng cho trâu, bò, lợn gia cầm đối với tỉnh: Bắc Ninh,
Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình
Dương, Hà Nội; ngành thủy sản đối với cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân
trắng áp dụng cho các tỉnh: Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh Bạc Liêu, Cà Mau.
Trên thực tế, bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam đã từng có từ năm 1982 bởi
Bảo Việt và đến năm 1993 thì công ty này mở rộng bảo hiểm đối với lúa cho
16 tỉnh thành trên cả nước, đồng thời cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nông
nghiệp khác như bảo hiểm chăn nuôi, bảo hiểm cây công nghiệp, bảo hiểm
cháy rừng. Tiếp theo Bảo Việt, Groupama, một công ty bảo hiểm nước ngoài
cũng đã tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam với các sản phẩm bảo
hiểm vật nuôi cho 13 tỉnh thành ở Đồng bằng sông Cửu long và mở rộng đối
với một vài tỉnh phía bắc và miền trung. Tuy nhiên tính đến thời điểm này,
các công ty kể trên đều không thành công và buộc phải tháo chạy khỏi thị
trường bảo hiểm nông nghiệp. Đi sâu vào phân tích sự thất bại nêu trên,
Thomas Dufhues và các cộng sự (2004) đã chỉ ra ba nguyên nhân cơ bản bao

gom, người mua
Người trực tiếp sản xuất
Không có vốn Tạo cơ hội kinh doanh,
không phải đầu tư hạ tầng

Tiếp cận được vốn
Không thu hồi được vốn Tạo khả năng hợp tác lâu
dài trên cơ sở thỏa thuận
Giảm thiểu rủi ro thị
trường
Thiệt hại về vật nuôi Chống các rủi ro do sự
bất cẩn
Giảm thiểu rủi ro do bệnh
dịch
Chất lượng sản phẩm
kém
Đảm bảo chất lượng sản
phẩm
Có kế hoạch dự trữ tốt
hơn

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
17

Thiếu thông tin giá đầu ra

Minh bạch giá cung cấp Minh bạch đầu ra
Lợi ích của sản xuất theo hợp ñồng ñối với
Hạn chế/rủi ro của chăn
nuôi theo ñịnh hướng

Thiếu kiến thức Tiếp cận được các dịch
vụ khuyến nông
Thua thiệt do dịch bệnh Kiểm soát được thực
trạng vệ sinh và an toàn
thực phẩm
Tiếp cận được nguồn
giống có chất lượng và
dịch vụ thú y

Trích đoạn Phân loại rủi ro Quản trị rủi ro trong nông nghiệp Các phương pháp thu thập và phân tắch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status