i
I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
PHM TH QUC HUY
(Thớch Qung Trớ)
Quan niệm biện chứng
trong duy thức học phật giáo
(qua bát thức tâm v-ơng và 51 hành tâm sở)
LUN VN THC S TRIT HC
TRONG DUY THC HC PHT GIO
(QUA BT THC TM VNG V 51 HNH TM S) Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số : 60.22.03.09 LUN VN THC S TRIT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Trn Th Kim Oanh
H NI 2014 iii
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
với sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Trần Thị Kim Oanh, có sự kế thừa một số
kết quả nghiên cứu liên quan đã đƣợc công bố. Những tài liệu sử dụng trong
pháp thể khinh an, chúng sinh dị độ, Phật sự viên thành! Kính chúc các Thầy
cô giáo, Gia đình cũng nhƣ chƣ Vị nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công
trong cuộc sống!
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Phạm Thế Quốc Huy
(Thích Quảng Trí)
v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu: 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Ý nghĩa của luận văn 7
8. Kết cấu của luận văn: 7
Chƣơng 1: KHÁI LUẬN VỀ DUY THỨC HỌC PHẬT GIÁO VÀ BÁT THỨC
TÂM VƢƠNG VỚI 51 HÀNH TÂM SỞ 8
1.1. Khái luận về duy thức học Phật giáo 8
1.1.1. Một số khái niệm và sự truyền thừa 8
1.1.2. Nội dung cơ bản của Duy thức học Phật giáo 14
1.2. Bát thức Tâm vƣơng và 51 hành Tâm sở trong Duy thức học Phật giáo 23
1.2.1. Bát thức Tâm vƣơng 23
Các tƣ tƣởng triết học của Phật Thích Ca về cơ bản là giải thích
nguyên nhân của mọi nỗi khổ đau và vạch ra con đƣờng để giải thoát chúng
sinh. Trong học thuyết cốt lõi “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” Phật
Thích Ca cho rằng, cuộc đời là một bể khổ vô tận, nỗi khổ đó nằm ngay
trong con ngƣời. Vì không nhận thức đƣợc sự biến đổi vô thƣờng, vô định
của vạn vật theo luật nhân quả, không nhận thức đƣợc “cái tôi” có mà không,
nên ngƣời ta ngộ nhận rằng cái gì cũng thƣờng định, cái gì cũng của ta, do ta.
Do vậy, con ngƣời cứ khát ái, dục vọng. Để thỏa mãn lòng tham, sân, si,
ngƣời ta phải cố hành động để chiếm đoạt và gây nên những nghiệp báo, do
đó mắc vào bể khổ, đuổi theo cái ảo ảnh triền miên không dứt, chịu kiếp luân
hồi trong tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) và lục đạo (Thiên, nhân,
Atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh).
Con đƣờng giải thoát nỗi khổ là phải phá bỏ đƣợc sự mê muội, dứt bỏ
đƣợc sự ngộ nhận do vô minh để đạt tới sự gác ngộ của bản ngã. Trong 49
năm thuyết giảng, Phật Thích Ca đều kêu gọi và gợi nên bản chất thánh
thiện, từ bi, hỉ xả, của con ngƣời. Ngài coi giải thoát là cứu cánh, là động lực
duy nhất để nhận thức đƣợc chính mình và nhờ đó mà giải thoát đƣợc nỗi
trầm luân; đồng thời còn tin rằng, ngay cả thánh thần cũng không thể chuyển
bại thành thắng đối với một ngƣời đã chiến thắng bản thân mình.
2
Tiếp nối Phật Thích Ca, các vị Long Thọ Bồ Tát (Nagariuma) và
Thế Thân Bồ Tát (Vasubandhu) đã góp phần hoàn thiện hệ thống triết lý
Phật giáo.
Thế nhƣng triết lý Phật giáo có tiêu cực và bi quan không? Từ đó đến
nay đã có bao học giả nghiên cứu về vấn đề này nhƣng đều lý giải rất khác
nhau. Sở dĩ có tình trạng đánh giá khác nhau nhƣ vậy, vì văn bản Phậtt giáo
và bản chất hệ thống triết học của Phật giáo chƣa đƣợc nghiên cứu thật đầy
đủ và thật khách quan nhƣ các hệ thống triết học khác. Nhiều công trình
nghiên cứu bộc lộ khuynh hƣớng chủ quan, hoặc luận chiến, hoặc chống đối
triết học Phật giáo mà còn góp phần làm sáng tỏ tƣ duy biện chứng trong quá
trình nhận thức thế giới. Bởi thông thƣờng chúng ta thƣờng nghe nói: "Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức" nhƣng giữa Tâm và Thức có khác nhau
không? Khác nhau ở chỗ nào? Sao gọi là Tâm? Sao gọi là Thức? Chính vì
vậy, vấn đề này luôn thu hút đƣợc sự chú ý của nhiều học giả thuộc các lĩnh
vực khác nhau nhƣ: lịch sử, triết học, tôn giáo học, tâm lý học, văn hóa
học, Tuy nhiên trong luận văn này, các tác phẩm tiếp cận dƣới góc độ lịch
sử, triết học, tôn giáo học sẽ đƣợc chú ý. Căn cứ vào nội dung của các công
trình nghiên cứu có thể chia thành các chủ đề sau:
- Các tác phẩm kinh điển Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử, giáo lý Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về triết học Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về Duy thức học
Trong chủ đề thứ nhất, các tác phẩm kinh điển liên quan đến việc
nghiên cứu luận văn là:
Kinh Lăng Già (1995)
Kinh Hoa Nghiêm (1966)
Kinh Lăng Nghiêm (1999)
Bách Pháp Minh Môn (2002)
Duy thức Nhị Thập Tụng (2002)
Duy thức Tam Thập Tụng (2002)
Bát thức Quy củ tụng (2002)
4
Đây là những bộ kinh cơ sở then chốt của việc nghiên cứu Duy thức
học, đặc biệt về mối quan hệ biện chứng của Bát thức tâm vƣơng và Hành
Tâm sở.
* Trong chủ đề thứ hai, ở khía cạnh nghiên cứu về lịch sử, giáo lý Phật
giáo từ thời kỳ hình thành cho đến sự hoàn thiện là: "Đại cương lịch sử triết
học Phương Đông cổ đại" (2003) của Doãn Chính (Chủ biên), "Lịch sử Phật
thƣờng: mối quan hệ giữa tồn tại và tƣ duy, vật chất và ý thức, mà xây dựng
vấn đề cơ bản của mình ở bình diện khác, vƣợt khỏi phạm vi đối tƣợng
nghiên cứu của Triết học: mối quan hệ giữa tồn tại và không tồn tại (hƣ
không). Chính vì lẽ đó mà điểm đáng chú ý là: quá trình nhận thức của Phật
giáo nhƣ thế nào? Nó bắt nguồn từ đâu? Tác động đến thế giới muôn vật nhƣ
thế nào? Đều đƣợc lý giải ít nhiều trong các công trình trên. Hay nói khác,
các công trình này đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề trong sự biện
chứng của Duy thức học Phật giáo nói chung, sự tác động qua lại của Tâm
vƣơng và Tâm sở nói riêng.
* Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu về Duy thức học Phật giáo có
các công trình tiêu biểu sau:
"Duy thức học" (1992) của Hòa thƣợng Thích Thiện Hoa, đây là cuốn
giáo trình Phật học với tổng số 420 trang, tác giả đã trình bày những nét cơ
bản về Duy thức học Phật giáo và tác giả cũng chỉ ra những khó khăn khi
nghiên cứu về Duy thức học, "Duy thức học yếu luận" (2000) của Hòa
thƣợng Thích Từ Thông, cuốn sách này tác giả chỉ rõ cho ngƣời đọc hiểu
đƣợc Duy thức học là sự nghiên cứu, tìm hiểu nguyên ủy của hiện tƣợng vạn
pháp để xác lập một luận cứ, Duy thức học là phƣơng tiện chỉ nam hƣớng
dẫn phƣơng pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tƣ duy
bên mặt trừu tƣợng.
"Duy thức học cương yếu" (1995) của Hòa thƣợng Thích Thiền Tâm,
"Khảo nghiệm Duy thức học - tâm lý học thực nghiệm" (1998) của Hòa
thƣợng Thích Thắng Hoan, "Duy thức học" của Tuệ Quang, Đại sƣ Thái Hƣ
(2009 - Thích Tâm Hoan dịch), tác phẩm "Khái luận về Pháp tướng duy
thức học, Duy thức tam thập tụng lược giải" (2005) của Thích Trí Châu
Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã khái lƣợc toàn diện đƣợc những
vấn đề cơ bản của Duy thức học Phật giáo dƣới nhiều góc độ nghiên cứu
khác nhau.
6
giáo, chủ yếu là Đại Thừa thể hiện qua mối quan hệ Bát thức Tâm vƣơng và
51 hành Tâm sở.
7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử.
Luận văn có kế thừa thành quả của các công trình đã nghiên cứu trong
và ngoài nƣớc về Duy thức học Phật giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng hệ thống phƣơng
pháp của Tôn giáo học, kinh điển và chủ nghĩa duy vật biện chứng,
phƣơng pháp thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và khái quát, đối
chiếu và so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích sự biện chứng trong Duy thức học Phật giáo, luận
văn đã luận giải một số vấn đề về Duy thức học Phật giáo mà cụ thể là vai
trò, sự tác động qua lại của Bát thức Tâm vƣơng và 51 hành Tâm sở trong
quá trình nhận thức của con ngƣời theo quan niệm Phật giáo. Thông qua đó,
luận văn cũng đã chỉ ra những giá trị có ý nghĩa phƣơng pháp luận trong Duy
thức học Phật giáo.
7. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn phân tích những nội dung cơ bản của duy
thức học Phật giáo và chỉ ra tƣ tƣởng biện chứng của nó thông qua Bát thức
Tâm vƣơng và 51 hành Tâm sở, qua đây thấy rõ những giá trị khoa học của
Duy thức học Phật giáo nói riêng và triết học Phật giáo nói chung trong hệ
thống triết học xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo học về Phật giáo và các ngành khoa học
liên quan.
Sở dĩ gọi là “Duy thức" chứ không gọi là “Tâm thức” là vì chữ “Duy”
tức là duy nhất, chỉ có một, muốn nói ngoài "Thức" ra không có một vật nào
tồn tại, hay nói một cách khác tất cả muôn sự muôn vật, từ thức biến hiện ra
mà có, nên gọi là "Duy thức".
Duy thức học bắt nguồn từ thời đức Phật, Ngài đã diễn giải qua các
Kinh nhƣ: Lăng Già, Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật Sau khi đức Phật nhập
Niết Bàn khoảng 900 năm - 1000 năm, có các Tôn Đức: Di Lặc Bồ Tát,Vô
Trƣớc, Thế Thân đã đúc kết hệ thống hóa lời của đức Phật qua các kinh, hình
thành Duy thức học, tạo nên một "Tông", gọi là “Pháp tƣớng Tông”.Từ đó,
Duy thức học đƣợc phát triển mạnh mẽ.
9
Giáo lý của Phật có đến tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn tu tập,
đƣợc chia ra làm mƣời tông, chung quy chỉ có hai loại: Pháp tính và Pháp
tƣớng. Duy thức tông thuộc về Pháp tƣớng. Nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu
Duy thức tông gọi là Duy thức học.
Khởi điểm thuyết minh về “Duy thức học” ngƣời đầu tiên là ngài Di
Lặc Bồ Tát, Ngài đã ứng hóa thỉnh giảng nơi giảng đƣờng Du Gìa Na tại
miền trung Ấn Độ, thuyết bộ Du Gìa Sƣ Địa Luận. Bồ Tát Vô Trƣớc, Thế
Thân tiếp thu chuyển thành lời văn 100 quyển. Chính vì thế, có thể nói ngài
Di Lặc Bồ Tát đƣợc xem là Thủy tổ của Duy thức học, hay còn gọi ngài là
“Tông” của “Pháp tƣớng Duy thức học”. Chính vì thế mà về mặt hệ thống
hóa từ lập thành, triển khai và hƣng thịnh thì phải khẳng định rằng : Di Lặc
Bồ Tát, Vô Trƣớc, Thế Thân là những vị Tổ sƣ danh tiếng đƣơng thời đã
truyền thừa Pháp tƣớng Duy thức học thời đức Phật cho đến sau này, rồi từ
đó truyền bá khắp nơi, là những vị có công lao to lớn nhất lúc bấy giờ.
Về phƣơng diện lịch sử, tƣ tƣởng, văn học bắt nguồn từ Tông Du Gìa
(yogacàra) đƣợc hình thành, y cứ nơi tƣ tƣởng giáo nghĩa bộ Du Gìa Sƣ Địa
luận (yoga- càra-bhami) vào cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V do Di Lặc Bồ
Tát thuyết giảng. Ngài Vô Trƣớc, Thế Thân tiếp thu và chuyển thành lời văn
gọn, gọi đầy đủ là Pháp tƣớng Duy thức học, là nói về các "Pháp" ( bao gồm
cả nhân sinh và vũ trụ) chỉ do "Thức" mà ra.
Pháp tƣớng là hình tƣớng của các pháp, theo định nghĩa trong Thành
Duy thức luận về pháp tƣớng: "Nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải”. Tức là
giữ đƣợc tự tính của các pháp, nhìn vào hình tƣớng ta có thể hiểu đƣợc đó là
"Pháp" gì. Ngoài ra “Pháp” còn có nghĩa bao hàm mọi vật, cụ thể hay trừu
tƣợng, khi nhìn vào ta có thể có một khái niệm về vật ấy, đều gọi là "Pháp".
“Pháp” theo thuật ngữ Duy thức học thì chữ "Pháp”, là chỉ cho những
vật mang một đặc tính rõ ràng, cụ thể, không thể nhầm lẫn giữa vật này với
vật khác, mỗi pháp mang một khuôn khổ riêng biệt. Chính "Pháp" ấy nó có
thể làm phát sinh trong trí óc một khái niệm rõ ràng (quỹ sinh vật giải).
"Pháp chỉ chung cho tất cả những hiện tƣợng sự vật cụ thể hay trừu tƣợng có
tự tính, có bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến ngƣời ta nhìn
vào là có thể nhận thức và giải thích đƣợc" [48;281].
Trong thuật ngữ Phật học, “Pháp” phiên là Đạt - ma, Đàm - ma, Đàm -
vô, là khái niệm chỉ mọi sự vật, hiện tƣợng từ vật chất đến tinh thần, từ hữu
hình đến vô hình, từ cực đại đến cực tiểu, từ cái có thể nghe, thấy, ngửi, biết,
cảm nhận cho đến cái chỉ tồn tại trong tƣởng tƣợng; từ cái phàm tục đến
thánh thiện, từ hữu vi đến vô vi: "Từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật hiện
tƣợng dù là to nhỏ hữu hình , vô hình, chân thực, hƣ vọng. Sự vật cũng là 1
Hộ Pháp, Đức Huệ, An Huệ, Thân Thắng, Nam Đà, Tịnh Nguyện, Hỏa Biện, Thắng Hữu, Thắng Tử, Trí Nguyệt
11
vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả. Duy thức luận giải thích hai ý
nghĩa của pháp: "Tự thể nhậm trì và quỹ sinh vật giải""[21;957].
Triết học Phật giáo cho rằng, Pháp là căn nguyên của thế giới. Thế
giới luôn luôn tồn tại “vạn pháp” hay “hằng hà sa số” các pháp. Pháp là
12
Hay trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn cũng viết:
"Xa lìa các nhơn duyên
Chỉ có vi tâm trụ
Thân kia tùy chuyển biến
Cũng lìa tất cả sự
Tƣởng sở tƣởng đều lìa
Ta nói là vô sanh" [14;460]
Tuy nhiên, các pháp không phải do một nhân duyên mà có nhiều nhân
duyên. Do đó, các pháp quan hệ mật thiết với nhau, tác động chi phối lẫn
nhau. Kinh Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm có viết:
Một thế giới để vào tất cả
Tất cả thế giới để vào một [15;8].
Trong nhận thức các pháp, Phật giáo còn đƣa ra thuyết "Sắc – Không".
Sắc là danh từ Phật học chỉ sự vật, hiện tƣợng ở trạng thái có hình tƣớng
trong không gian mà con ngƣời nhận biết đƣợc, còn gọi là "Có". "Không" là
chỉ sự vật, hiện tƣợng ở trạng thái không có hình tƣớng mà con ngƣời không
nhận biết đƣợc. Theo lý thuyết "Sắc – Không", thế giới luôn chuyển động,
biến đổi nên không phải khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tƣớng mới gọi
là Sắc, mới là Có; ở trạng thái không (diệt) mới là Không. Thực tƣớng, cái
gọi là Không đã là có và cũng là Có; cái gọi là Có đã là không và cũng là
Không. Trong cái "có" có cái "không", trong cái "không" có cái "có". Sắc tức
nhị Không, Không tức nhị Sắc, có đấy mà không đấy, không đấy mà có đấy.
Sắc, Không là hai dạng tồn tại của thế giới vạn pháp. Kinh Thủ Lăng
Nghiêm viết: "Nhƣợc phục sắc trần sinh nhãn kiến giả, quán không phi sắc,
kiến tức tiêu vong. Vong tắc đô vô, thùy minh không sắc? Có nghĩa: Lại nữa
nếu sắc trần sinh ra cái thấy. Khi thấy hƣ không chẳng có sắc tƣớng, thì cái
thấy liền bị tiêu mất. Tiêu rồi thì tất cả đều không, còn ai để rõ đƣợc không
và sắc tƣớng" [37;54]. Vì thế mà "Tƣớng" tức là chỉ hình tƣớng của sự kiện,
sự vật hay tƣớng trạng của một pháp, nó tiêu biểu hay biểu hiện ở bên ngoài
ngũ thức, mà chỉ dành cho nhận thức của Đệ lục ý thức: suy nghiệm, phán
đoán, nhận thức, nó hoạt động độc lập, không cùng với tiền ngũ thức, nó là
đối tƣợng của Đệ lục và Đệ nhất, Đệ bát: "Nghĩa tƣớng là hình tƣớng của ý
thức thứ sáu và ý căn thứ bảy cùng nhau nhận thức. Ma na thức thứ bảy nhận
thức hình tƣớng tự ngã trong kín đáo, không thể hiểu biết" [40;4].
Bởi vậy, "Pháp tƣớng" hay "Pháp" là từ chỉ chung cho mọi sự kiện, sự
vật trong vũ trụ, mọi hoạt động trong đời sống, dù lớn hay bé, tốt hay xấu,
hữu hình hay vô hình, chân thật hay hƣ vọng, giả tƣớng hay giả danh, tất cả
đều là Pháp hay một pháp. Nên chữ "Pháp" bao hàm phạm vi rất rộng lớn.
14
Cái có của sự vật khả dĩ gọi là "Pháp" và cái "Không" của sự vật, mặc dù chỉ
là khái niệm về "Không", cũng có thể là "Pháp". Sắc bất dị không, không bất
dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Chính lẽ đó mà hình tƣớng hay
pháp tƣớng các pháp đều thể hiện ở các yếu tố. Nên tất cả mọi sự vật trong
vũ trụ dù có muôn hình vạn trạng, hoặc những tính trạng mang tính chất trừu
tƣợng thì đều là những đối tƣợng của tâm thức, và đƣợc gọi là "Pháp".
Qua luận bàn nhƣ vậy, cho thấy sự ra đời của Duy thức học gắn liền
với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc, gắn
với vai trò của Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài. Từ đó, Pháp tƣớng Duy
thức tông dần dần phát triển sâu rộng và lan ra các xứ cận đông nhƣ Nhật
Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ
Khi ngài Huyền Trang từ Trung hoa đến Tây Trúc(Ấn Độ) tham học
tiếp thu những giáo lý Đại thừa, nhất là trực tiếp với Ngài Giới Hiền và các
Luận sƣ danh tiếng. Sau 17 năm du học, ngài trở về Trung Hoa mang theo
các bộ: Kinh, Luận. Trong đó có các bộ Luận về Pháp tƣớng và ngài mở ra
phong trào dịch thuật kinh điển từ chữ Phạn ra chữ Hán, chú ý nhiều đến bộ
môn Pháp tƣớng Duy thức học, tiêu biểu nhƣ:
Duy thức Tam Thập Tụng
Duy thức Thập Nhị Tụng
hiện hữu. Thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên. Tất
cả đều là do thức tâm phân biệt suy lường. Chỉ là lời nói, hoàn toàn không
có nghĩa chân thật"[37;239]. Nhận thức đƣợc điều này là do bản thân con
ngƣời không thể tìm đâu ra một cái "Ngã" hay pháp chân thực nào cả. Điều
mà con ngƣời luôn cho là chân thực chẳng phải là chân thực; mà chỉ là một
biểu lộ ngoại tại của cái thực. Toàn thể thế giới do đó là tạo nên do ảo tƣởng
hay do nhân duyên, và không có thực tại thƣờng tồn nào cả. Duy thức học
quan niệm "Vạn vật duy thức", tức mọi hiện tƣợng khách quan (tức tồn tại,
thế giới) đều do ý thức chủ quan con ngƣời mà có, chứ không phải thực sự
tồn tại độc lập với chủ quan con ngƣời. Kinh Hoa Nghiêm viết: "Tất cả
những pháp rộng lớn kia
Vì lợi chúng sinh nên khai diễn
Tại sao Phật - nhãn là vô - lƣợng
Nhĩ, tỷ, thiệt, thân cũng nhƣ vậy"[71;273].
Nhƣ vậy sự tồn tại của các vật ở thế giới này theo Duy thức học Phật
giáo là do các thức (Nhãn , Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý, Mạt na, Alaya thức)
chuyển động biến hóa, vì thế mà phân biệt thành những biểu tƣợng ảo của
đối tƣợng vào trong chủ quan của con ngƣời, do đó Nó (chỉ tồn tại) đều là
không, mọi cái đều do Thức mà có.
16
Cho nên, nói về nội dung Duy thức học thì không thể bỏ qua nội dung
về Pháp tƣớng vì:
1) Tất cả các Pháp trong vũ trụ hiện có, nó đƣợc thể hiện qua lý Duyên
khởi, tức là do các duyên phối hợp mà có ra muôn hình vạn trạng, vì hƣ vọng
ta chấp nó là thật ngã thật pháp, mà không biết các duyên tan rã, các pháp
không còn tồn tại nữa.
2) Vì hƣ vọng ta chấp cho là thật có, nên yếu lý Duy thức với chủ yếu
cần phải phá trừ "Chấp ngã Chấp pháp". Có phá trừ Chấp ngã pháp, ta mới
đạt đƣợc lý Duy thức, thấu rõ các pháp nó chỉ là "Không", vì không thật thể,
không tƣơng ƣng với Tâm pháp, hay với Vô vi pháp. Cùng với 6 pháp vô vi,
tạo thành tất cả 100 pháp" [36;37].
Nói tóm lại, tất cả các Pháp trong vũ trụ có thể chia ra làm hai loại:
Duy thức tính và Duy thức tƣớng.
Duy thức tính, tức là Pháp tính thanh tịnh xa rời ngôn ngữ (ly ngôn
tuyệt tƣớng) không thể nói năng luận bàn, tức chỉ cho chân nhƣ thật thể
thanh tịnh.
Duy thức tƣớng, là những pháp có hình tƣớng, dáng mạo, có thể luận
bàn, tức là Pháp tƣớng phân biệt theo lý tục đế. Về hình tƣớng của các pháp,
bao gồm có: Thật-Đức-Nghiệp-5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, kể cả nhân sinh vũ trụ
trong thế gian.
"A - nan nhữ du vị minh nhứt thiết phù trần chƣ huyễn hóa tƣớng.
Đƣơng xứ xuất sanh tùy xứ diệt tận huyễn vọng xƣng tứng. Kỳ tánh chơn vi
diệu giác minh thể.
A - nan, ông còn chưa rõ tất cả các tướng huyễn hóa nơi tiền trần,
ngay đó sinh ra, ngay đó diệt mất. Huyễn vọng nên gọi là tướng, nhưng tánh
chân thật vốn là thể giác ngộ sáng suốt nhiệm màu.
Giảng:
" Huyễn vọng nên gọi là tƣớng". Nó có tên gọi là huyễn vọng.
Nhƣng tánh chân thật vốn là thể giác ngộ sáng suốt nhiệm màu. Nó đƣợc gọi
là hƣ vọng, nhƣng căn nguyên các hƣ vọng nảy sinh khởi là ở đâu? Cũng
vậy, nó lƣu xuất từ thể tánh chân thật sáng suốt nhiệm màu. Nó sinh khởi từ
chân tâm của chúng ta. Do chân tâm mà khởi vọng. Từ hƣ vọng mà có kiến
phần và tƣớng phần. Kiến phần là khả năng thấy. Tƣớng phần là tất cả các
hiện tƣợng, vật thể, đối tƣợng của cái thấy. Tƣớng phần và kiến phần cũng
đều lƣu xuất từ thể tánh chân thật sáng suốt nhiệm màu, đều lƣu xuất từ chân
18
tâm thƣờng trụ thể tánh thanh tịnh sáng suốt. Nó chẳng đến từ đâu
cả"[36;291- 292].
19
"Tƣớng" thì là tƣớng dạng (dáng mạo) có thể biết, có thể thấy, chúng ta có
thể hiểu. Tƣớng không cũng gọi là Tự tƣớng không, Tự cộng tƣớng không,
tức các tƣớng "Tổng biệt đồng dị" đều có tính chất bất khả đắc của các pháp.
Nói rõ hơn, "Tƣớng" là Sở thủ phần chỉ cho bóng dáng của sự vật ở
ngoại giới, ảnh hiện vào tâm, là Tâm pháp trong 4 loại tâm.
Tâm sở: là tác dụng của tâm đƣợc chia ra 4 loại:
1) Thực tƣớng: Danh tƣớng các Tƣớng chân thật, Thể tƣớng là Chân
nhƣ thật thể.
2) Cảnh tƣớng: Danh tƣớng đối cảnh của Căn và Tâm.
3) Trạng tƣớng: Danh tƣớng chỉ cho các tƣớng dạng của hữu vi. Trong
3 loại cảnh chung cho cả: Tính cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh, là do
thức biến hiện ra.
4) Nghĩa tƣớng: Danh tƣớng chỉ cho nghĩa Năng thuyên và Sở thuyên.
Nhƣng thông thƣờng chỉ cho 3 tƣớng trong 4 tƣớng đã nêu ở trên, thuộc về
Tƣớng phần. Tƣớng phần đƣợc chia làm hai loại:
a) Bản chất Tƣớng phần tức là "Sắc pháp", do chủng tử của thức
Alaya hiện khởi.
b) Ảnh tƣợng Tƣớng phần tức là các thức duyên theo Cảnh biến ra
bóng dáng, chứ không có bản chất để nƣơng gá. Lại từ tƣ tƣởng này tiến
bƣớc, mà có thuyết "Sinh Phật Nhất Nhƣ" tức Chúng sinh và Phật là một.
Ngoài ra, các từ ngữ nhƣ: "Tất cả do Tâm chuyển" hay nhất thiết do
Tâm tạo đều là những từ ngữ điển hình thƣờng thấy trong Kinh-Luận để
biểu hiện tƣ tƣởng trên (Tâm và Tƣớng).
Tuy nhiên theo Duy thức học, con ngƣời muốn nhận thức rõ chân lý
ngoài "Tâm" không có "Cảnh" (lý Duy thức), thì phải Quán Duy thức theo
thứ tự cao thấp, theo năm lớp nhƣ sau:
- Thứ nhất là , "khiển hƣ tồn thật thức", nghĩa là trừ bỏ cái biến kế sở
chấp giả dối mà để lại Y tha và Viên thành thật có. Đó là phép Quán Duy
biết rằng từ sắc thân cho đến núi sông, hƣ không và thế giới đều là vật ở trong
diệu minh chân tâm [36;44]. Tuy theo Quán Duy thức có thứ tự năm lớp,
Một là, khiển hƣ tổn thật thức – không hữu tƣơng đối
Hai là, xả lạm lƣu thuần thức – tâm cảnh tƣơng đối
Ba là, nhiếp mạt qui bổn thức – thể dụng tƣơng đối
Bốn là, ẩn liệt hiển thắng thức – vƣơng sở tƣơng đối
Năm là, khiển tƣớng chứng tính thức – sự tƣớng tƣơng
đối – tính duy thức
Năm lớp Quán Duy
thức
Tƣớng Duy thức