Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xuất nhập khẩu bắc giang - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGÔ THỊ BÍCH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. PHẠM THỊ MỸ DUNG HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i


Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Học viện nông
nghiệp Việt nam thông qua Ban đào tạo, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh,
các thầy cô giáo, các nhà khoa học trong Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Công
ty CP XNK Bắc Giang. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các đơn vị và các
cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, luận văn còn có những hạn chế, tôi
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô
giáo và các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn Ngô Thị Bích
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC

Page iv

3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Bắc Giang 29
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Bắc  29
3.1.2 Bộ máy quản lý Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Bắc Giang 30
3.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 33
3.1.4. Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty 34
3.1.5 Đặc điểm địa bàn ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của Công ty 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Khung phân tích 38
3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 39
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu Bắc Giang 41
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh Công ty CP XNK Bắc Giang 43
4.1.1. Năng lực cạnh tranh về tài chính 43
4.1.2 Năng lực cạnh tranh về công nghệ sản xuất 46
4.1.3 Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực 48
4.1.4 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 52
4.1.5 Thị phần của Công ty CP XNK Bắc Giang 70
4.1.6 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP XNK Bắc Giang 72
4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu Bắc Giang 74
4.2.1 Môi trường vĩ mô 74
4.2.2 Môi trường vi mô 78
4.2.3. Đánh giá chung thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu Bắc Giang 81

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

BQ : Bình quân
CBCNV

: Cán b
ộ công nhâ
n viên

CC : Cơ cấu
CN

: Công nhân

CF : Chi phí
CPBH : Chi phí bán hàng
CPQL

:Chi phí qu
ản lý

CP : Cổ phần
DN

: Doanh nghi
ệp

DNN : Doanh nghiệp nhỏ
DNNN


g nghi
ệp

SA8000
: Tiêu chuẩn quốc tế đánh giá các vấn
đề xã hội
TNHH

: Trách nhi
ệm hữu hạn

TS : Tài sản
TSCĐ

: Tài s
ản cố định

TSLĐ : Tài sản lưu động
WTO

: T
ổ chức th
ương m
ại thế giới

VCĐ : Vốn cố định
VLĐ : Vốn lưu động
VPPA : Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam
VN : Việt Nam
XNK : Xuất nhập khẩu

Bắc Giang, Bãi Bằng và Vạn Điểm 61
Bảng 4.11. Chi phí SX 1 ram giấy in A4 ĐL 80g/m
2
tại Công ty XNK Bắc
Giang, Bãi Bằng và Vạn Điểm 64
Bảng 4.12. Các hình thức quảng cáo của Công ty XNK Bắc Giang, Bãi Bằng
và Vạn Điểm 69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

Bảng 4.13 Thị phần của Công ty giai đoạn 2011 – 2013 71
Bảng 4.14. Sản lượng xuất khẩu của Công ty CP XNK Bắc Giang, Bãi Bằng và
Vạn Điểm năm 2012 71
Bảng 4.15. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty XNK Bắc Giang 73
Bảng 4.16. So sánh hiệu quả SXKD của Công ty XNK Bắc Giang, Bãi Bằng và
Vạn Điểm năm 2012 73
Bảng 4.17. Ảnh hưởng của thu nhập đến tiêu dùng các sản phẩm của Công ty
NXK Bắc Giang năm 2013 74
Bảng 4.18. Nhóm tuổi của dân số Việt Nam năm 2013 76
Bảng 4.19. Các đối thủ cạnh tranh của Công ty CP XNK Bắc Giang 79
Bảng 4.20. Quy trình xây dựng thương hiệu của Công ty XNK Bắc Giang 94

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường, khi chuyển đổi từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp
ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân
doanh nghiệp. Do đó, năng lực cạnh tranh là một trong các yếu tố mang tính quyết
định tới sự thành bại của một doanh nghiệp. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp được
thị trường chấp nhận thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển. Vì vậy, Thị
trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải có được, nắm được các lợi thế, củng cố năng
lực cạnh tranh để đưa ra thị trường các sản phẩm nổi trội hơn so với các đối thủ
khác cùng ngành, cùng lĩnh vực kinh doanh.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Bắc Giang là một doanh nghiệp cổ phần
hạch toán độc lập với chức năng sản xuất kinh doanh các sản phẩm giấy công
nghiệp, tấm lợp thép hình, khung nhà tiền chế, mặt hàng hóa chất, hàng nông sản,
hệ thống siêu thị, nhà hàng, ô tô, Sản phẩm chính của Công ty hiện nay là các loại
giấy: Giấy viết, giấy in, giấy phô tô, giấy vệ sinh, khăn ăn, Qua hơn 50 năm hoạt
động, Công ty đã có những bước trưởng thành to lớn với những sản phẩm sản xuất
ra có chất lượng cao, được người tiêu dùng tín nhiệm.
Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) từ đầu năm 2007. Là thành viên chính thức của WTO đồng nghĩa với việc
phải thực hiện các cam kết gia nhập trong đó có các cam kết về giảm thuế. Trong
cam kết khi gia nhập, Việt Nam phải giảm thuế suất thuế nhập khẩu hầu hết các sản
phẩm như: Giấy in, giấy phô tô, hàng nông sản, có thuế suất cam kết tại thời điểm
gia nhập là 100% và đến năm 2010 giảm xuống còn 40%. Việc giảm thuế suất thuế
nhập khẩu đã tạo ra một sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các doanh nghiệp sản
xuất của Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài. Hơn thế nữa, sự cạnh tranh trong
nước cũng đang diễn ra rất khốc liệt với sự nỗ lực vươn lên của các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh các sản phẩm giấy trong nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

Công ty XNK Bắc Giang trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.3.2.3. Về thời gian
Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty
CP XNK Bắc Giang từ năm 2011, 2012, 2013, khảo sát số liệu thực tế năm 2012.
Về thời gian thực hiện: Thời gian thực hiện từ tháng 3 năm 2013 đến 8 năm
2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP


ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu
suất cao, ". [5]
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc
gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh
quốc tế”. [6]
Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh
tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự
ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc
khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu
kinh doanh cụ thể”. [7]
Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh
tranh… Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần
thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà
các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án…). Một loạt điều
kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng…). Mục đích cuối cùng là kiếm được
lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc
chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các
điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh…
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử
dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm,
cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách định giá
cao; chính sách ổn định giá; định giá theo thị trường; chính sách giá phân biệt; bán
phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ);
cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán…
Như vậy có thể hiểu khái niệm cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là quan hệ
kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật

lực giới hạn như: nhân lực, vật lực, tài lực,…để tạo ra năng suất và chất lượng cao
hơn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan
một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

cạnh tranh của mình trên thị trường, từ đó chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập
và lợi nhuận cao, đảm bảo cho DN tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức hợp. Vì vậy để hiểu được rõ hơn
về năng lực cạnh tranh các nhà kinh tế học đã chia năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ
khác nhau: Năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và
năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ. Việc nhận biết và phân loại những khái
niệm là cần thiết nếu muốn hiểu một cách đầy đủ về khái niệm năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
* Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh là một chỉ tiêu tổng hợp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô,
đồng thời cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước.
Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF – World Economic
Forum) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng
trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng
kinh tế khác. [11]
Năng lực cạnh tranh quốc gia có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá
trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp theo các
tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ; ngược lại, sự dịch chuyển cơ cấu ngành
theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng, sự phồn thịnh kinh tế lại
phụ thuộc vào sự phát triển năng động của doanh nghiệp.
Theo VEF, năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định bởi tám nhóm nhân
tố, bao gồm:
- Mức độ hội nhập: Mức độ hội nhập của một nước vào nền kinh tế thế giới
xét về mặt định hướng và mức độ thuận lợi trong khuôn khổ pháp luật về

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực tồn tại, duy trì và gia
tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường của các sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh (hay năng lực cạnh tranh)
và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác, khi các sản phẩm
thay thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn các sản
phẩm cùng loại, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất
lượng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Nhìn chung, khi xác định năng lực cạnh
tranh của một doanh nghiệp hay một ngành cần xem xét đến tiềm năng sản xuất
kinh doanh một hàng hóa hay một dịch vụ ở mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

giá phổ biến mà không phải trợ cấp.
Năng lực cạnh tranh DN được xác định trên cơ sở bốn nhóm yếu tố chủ
yếu sau:
- Nhóm yếu tố thứ nhất bao gồm các yếu tố liên quan đến chất lượng, khả
năng cung ứng các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hóa: tài nguyên thiên nhiên,
nguồn nhân lực, nguồn vốn, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thông tin, các yếu tố về khoa
học và công nghệ, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước…
- Nhóm yếu tố thứ hai liên quan đến các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ
trợ cho hoạt động của doanh nghiệp, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ có liên quan
để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
- Nhóm yếu tố thứ ba liên quan đến nhu cầu của thị trường đối với các sản phẩm
và dịch vụ của DN, yêu cầu của khách hàng về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. Phân
tích những yếu tố thuộc nhóm này giúp DN có các thông tin về dung lượng, sức mua,
mức độ đàn hồi của thị trường, nhu cầu và thị hiếu của khách hàng đối với SP.
- Nhóm yếu tố thứ tư phản ánh trực tiếp mức độ cạnh tranh ở lĩnh vực mà
DN kinh doanh, năng lực cạnh tranh của DN trong tương quan so sánh với các DN
khác (về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thương hiệu, kinh nghiệm quản lý ).
Nhìn chung trong chiến lược phát triển của mình, các DN đều phải tính toán

trường các nước nhập khẩu. Thương hiệu là một tài sản vô hình có ảnh hưởng quan
trọng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Thương hiệu nổi tiếng sẽ ăn
sâu vào trí nhớ người tiêu dùng và với sức mạnh của thương hiệu, sản phẩm tạo ra
giá trị gia tăng (GTGT) không chỉ ở giá mà còn ở niềm tin người tiêu dùng.
Cạnh tranh về hệ thống phân phối, dịch vụ bán hàng ngày càng đóng vai trò
quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, đặc biệt trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thế giới hiện
nay. Khâu phân phối sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, là cầu nối giữa người sản
xuất với người tiêu dùng. Trong điều kiện hàng hóa được sản xuất từ nhiều DN với
các chủng loại đa dạng và phong phú như hiện nay, thì công tác tiếp cận thị trường,
giới thiệu sản phẩm phải được chú trọng đúng mức. Hệ thống phân phối được thiết
kế hợp lý, phân định được kênh phân phối chủ lực và các kênh phân phối phụ trợ có
ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

2.1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhiều nhà kinh tế học đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực canh tranh của
doanh nghiệp khác nhau. Chúng ta có thể đưa ra đây ba nhóm tác giả tiêu biểu sau:
- Theo Goldsmith và Clutterbuck: có 3 tiêu chí đo lường khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp là: tăng trưởng tài sản vốn, doanh số và lợi nhuận trong 10
năm liên tục, sự nổi tiếng trong ngành như là một Công ty dẫn đầu, sản phẩm được
người tiêu dùng ưa chuộng.
- Theo Baker và Hart: có 4 tiêu chí để xác định năng lực cạnh tranh là: tỷ
suất lợi nhuận, thị phần, tăng trưởng xuất khẩu và qui mô.
- Theo Peters và Waterman: có 7 tiêu chí để đo lường năng lực cạnh tranh
của DN gồm 3 tiêu chí đo lường mức độ tăng trưởng và tài sản dài hạn được tạo ra
trong vòng 20 năm là : doanh thu, lợi nhuận và tổng tài sản; 3 tiêu chí khác đo
lường khả năng hoàn vốn và tiêu thụ sản phẩm là: thời gian hoàn vốn, thị phần và tỷ

khẩu và kinh doanh nội địa góp phần cải tạo công ăn, việc làm, lập lại trật tự
an ninh xã hội.
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ trương và chính
sách thích hợp nhằm khuyến khích và đẩy mạnh hoạt động xuất kinh doanh xuất
nhập khẩu và kinh doanh nội địa như: Giảm thuế xuất khẩu, thuế suất thuế GTGT
áp dụng cho hàng xuất khẩu là 0%, đưa ra các phương án hỗ trợ vốn kinh doanh để
kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng cao, thị trường không ngừng được mở rộng.
Các Tỉnh, Hội đã chủ động phối hợp, gắn kết các hoạt động của Hội với các
Sở, ban ngành và các công ty để xây dựng mô hình sản xuất, tổ chức tập huấn,
chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiến tiến cho doanh nghiệp sản xuất, để có năng
suất chất lượng sản phẩm cao và đảm bảo nâng cao được uy tín cũng như thương
hiệu cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh nội
địa của Việt Nam. Trong những năm qua ngành công nghiệp nói chung và các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa nói riêng
đã góp phần giải quyết được việc làm cho hàng triệu lao động phổ thông và nhiều
lao động có trình độ chuyên môn, được đạo tạo qua trường lớp. Nhiều lao động phổ
thông có mức thu nhập từ 7 – 11tr/ tháng. Do sản xuất kinh doanh có hiệu quả nên
đời sống vật chất, tinh thần và văn hóa của người lao động được nâng lên và an ninh
trật tự tại các địa phương dần ổn định, các tệ nạn xã hội ngày một giảm.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

b. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa khẳng định được vị thế của Việt Nam.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế
giới, về phương hướng, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa của Việt Nam trên cơ sở khai
thác tối đa lợi thế so sánh của sản phẩm trên thị trường xuất khẩu và nội địa, phát
triển toàn diện, bền vững, hiện đại hóa đồng bộ các khâu: Sản xuất nông nghiệp –

sản xuất và kinh doanh của những ngành khác.
d. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa là cơ sở quan trọng để mở rộng hợp tác kinh
tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Theo báo cáo của VPPA, Tổng thư ký VPPA cho biết, xuất khẩu giấy và các
sản phẩm từ giấy của Việt Nam đã có mặt ở thị trường 18 nước trên thế giới (thị
phần nhiều nhất là vào các thị trường Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản…), với kim ngạch
năm 2012 đạt 425 triệu USD. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu giấy hiện chỉ bằng 1/3
so với kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này. Năm 2012, cả nước đã nhập khẩu 1,216
triệu tấn giấy các loại với trị giá 1,164 triệu USD, nguồn nhập nhiều từ Trung Hoa
và Indonesia.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với sự hiện diện của sản xuất giấy trong những năm
qua trên thị trường thế giới đã thể hiện sự quan trọng của nó trong chủ trương “chủ
động hội nhập quốc tế” của Việt Nam. Song với thực trạng sản xuất và xuất khẩu sản
phẩm giấy công nghiệp như hiện nay, tiềm năng của Việt Nam vẫn chưa được phát huy
cũng như chưa đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường thế giới. Vì vây, nâng
cao NLCT của Giấy in, giấy phô tô, luôn là một yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các
cấp từ Nhà nước, các ngành, các DN sản xuất và giấy ở Việt Nam.
2.1.5 Các nhân tố cơ bản tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua đối thủ cạnh
tranh để duy trì và phát triển doanh nghiệp. Như vậy để nâng cao năng lực cạnh
tranh, doanh nghiệp phải xem xét đến các nhân tố tác động đến khả năng nâng cao
năng lực cạnh tranh gồm:
2.1.5.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài là các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

nghiệp. Chúng tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho doanh nghiệp. Môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status