BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ THÙY DƯƠNG
SỬ DỤNG MÔ HÌNH JONES ĐỂ NHẬN DIỆN
ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN: TRƯỜNG HỢP
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở HOSE PHÁT
HÀNH THÊM CỔ PHIẾU NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHAN THỊ THÙY DƯƠNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6. Cấu trúc của luận văn 3
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
KẾ TOÁN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 8
1.1. CƠ SỞ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 8
1.2. ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 11
1.2.1. Định nghĩa, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị 11
1.2.2. Vận dụng chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận kế toán 15
1.3. CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA
NHÀ QUẢN TRỊ 27
1.3.1. Nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 27
1.3.2. Các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
BCTC : Báo cáo tài chính
BTC : Bộ tài chính
BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
CTCP : Công ty cổ phần
CKTPHCM : Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
DN : Doanh nghiệp
DA
t
: Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh quý nghiên cứu
KTV : Kiểm toán viên
LCTTTHĐKD
t
: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh quý nghiên cứu
LNST
t :
Lợi nhuận sau thuế của quý nghiên cứu
MCK : Mã chứng khoán
NDA
t
: Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của quý nghiên cứu
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
STT : Số thứ tự
TA
t
: Tổng biến kế toán dồn tích của quý nghiên cứu
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TTCK : Thị trường chứng khoán
TSCĐ : Tài sản cố định
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát hành thêm cổ phiếu là một trong những hình thức tài trợ vốn cho
các công ty niêm yết. Đây là hình thức vừa khả thi vừa an toàn về tài chính vì
vậy được rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Trước khi đầu tư vào một doanh
nghiệp, nhà đầu tư thường quan tâm đến khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt
động của công ty đó. Chỉ tiêu lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh
hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Đó cũng chính là lý do khiến các
nhà quản trị công ty luôn tìm mọi cách có thể để chuyển dịch lợi nhuận của
các kỳ sau hoặc lợi nhuận của kỳ trước về kỳ chuẩn bị phát hành thêm cổ
phiếu nhờ vào tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán nhằm thu hút
các nhà đầu tư. Do đó, khi phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán, khả năng các công ty cổ phần điều chỉnh tăng lợi nhuận là rất cao.
Điều đó khiến các nhà đầu tư luôn đặt ra câu hỏi liệu chỉ tiêu lợi nhuận trong
kỳ phát hành thêm cổ phiếu có được báo cáo trung thực hay không? Việc điều
chỉnh lợi nhuận sẽ làm sai lệch tình hình tài chính của doanh nghiệp và dẫn
đến hậu quả vô cùng lớn đối với nhà đầu tư vì nhà đầu tư bị đánh lừa và có
thể chịu thiệt hại nặng nề vì quyết định đầu tư của mình liên quan đến thông
tin sai lệch được cung cấp bởi doanh nghiệp. Về lâu dài, điều chỉnh lợi nhuận
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Vì vậy, việc nhận diện được hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà
quản trị thông qua các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận nhằm giúp các
đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tư có được nguồn thông
thống kê để chứng minh giả thuyết. Quy trình nghiên cứu từ lập luận và đặt ra
giả thuyết nghiên cứu, sau đó thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của các
công ty niêm yết trên sở GDCK TP Hồ Chí Minh trong quý chuẩn bị phát
hành thêm cổ phiếu và quý liền trước; sử dụng mô hình nhận diện quản trị lợi 1
Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
3 nhuận Modified Jones (1995) để kiểm định giả thuyết; phân tích kết quả được
thực hiện thông qua việc vận dụng các công cụ thống kê toán (kiểm định dấu
Sign test).
Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến hoạt động
phát hành thêm cổ phiếu, số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh, số liệu về
dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và các số liệu báo cáo tài chính có liên
quan khác. Thông tin phát hành thêm cổ phiếu được thu thập từ nguồn
Stoxplus.
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bởi mô hình nhận diện quản trị lợi
nhuận Modified Jones (1995) để kiểm định giả thuyết dưới sự hỗ trợ của
Excel và SPSS 16.0.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng về hành động quản trị
lợi nhuận của các công ty niêm yết ở Hose trong bối cảnh phát hành thêm cổ
phiếu, từ đó giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có cái nhìn chính xác
hơn chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty niêm yết.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
nghiệm như: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The
Jones Model (1991), Modified Jones Model, Industry Model của Dechow and
Sloan (1991), The Friedlan (1994), …
Đã có một số nghiên cứu lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận như: “Kế toán
theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp”(2009),
“Các mô hình quản trị lợi nhuận ở các nước phát triển có phù hợp với bối
cảnh Việt Nam: phân tích lý thuyết” (2005), “Về tính trung thực của chỉ tiêu
lợi nhuận” (2007) của PGS.TS Nguyễn Công Phương. Các nghiên cứu này đã
cung cấp cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên cứu về việc vận dụng các
chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của nhà
quản trị. Đồng thời tác giả cũng hợp tuyển các nghiên cứu có liên quan về các
mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận trên thế giới và qua đó đưa ra những
nhận xét về ưu, nhược điểm của từng mô hình nhằm cải tiến phương pháp
nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị.
Bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố
trên BCTC” của TS. Đường Nguyễn Hưng (2013) đã đưa ra nội dung rõ ràng 3
Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
5 về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc việc dụng
chính sách kế toán cũng như mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận. Tuy
nhiên bài viết này chỉ giới hạn ở nghiên cứu lý thuyết chứ chưa phải là nghiên
cứu thực nghiệm do đó chưa đưa ra bằng chứng về hành vi điều chỉnh lợi
nhuận của nhà quản trị.
Bên cạnh đó cũng đã có một số nghiên cứu kiểm định việc điều chỉnh lợi
này tác giả đã sử dụng mô hình Friedlan và đã đưa ra kết luận có 60% công
ty điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm 2008 để tiết kiệm thuế thu nhập
doanh nghiệp, có 40 % công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, nghiên
cứu này vẫn còn tồn tại đó là mô hình chỉ sử dụng doanh thu đại diện mức độ
hoạt động của công ty để kiểm soát sự thay đổi của biến kế toán dồn tích
không thể điều chỉnh (NDA) qua hai năm. Trong khi đó, doanh thu không thể
đại diện hết mức độ hoạt động của công ty hay nói cách khác, doanh thu
không thể kiểm soát hết sự thay đổi của NDA. Do đó, nếu mức độ hoạt động
qua hai năm thay đổi thì việc đo lường NDA không còn chính xác nữa và đây
cũng chính là tồn tại của mô hình mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu. Hơn
nữa, kỳ nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là năm, hạn chế này sẽ được đề cập
trong phần sau.
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) về đề tài “Nghiên cứu
hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Với thời gian nghiên cứu là năm
2008 đến năm 2010. Tác giả sử dụng mô hình DeAnglo và Friedlan đã đưa ra
kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong
năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên hạn chế của nghiên
cứu này cũng giống như một hạn chế của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang là
tác giả chỉ chọn mẫu những công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo
phương pháp trực tiếp đã làm cho việc chọn mẫu không thật sự ngẫu nhiên vì
mẫu đã bỏ qua những công ty lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp.
7 Hơn nữa, những nghiên cứu ở trên vận dụng mô hình DeAngelo và
Friedlan có hạn chế là các mô hình này giả định quy mô doanh nghiệp không
thay đổi qua 2 năm và năm liền trước không có điều chỉnh lợi nhuận. Nếu vi
phạm giả thuyết thì kết quả nghiên cứu không còn chính xác nữa.
thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn
tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và
tương lai”.
Ví dụ: Doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng với tổng giá thanh toán là
300.000.000 đồng, khách hàng chuyển khoản trả cho doanh nghiệp
100.000.000 đồng, số còn lại nợ. Theo nguyên tắc cơ sở tiền thì nghiệp vụ chỉ
ghi nhận khi nhận được 100.000.000 đồng và doanh thu thực hiện là
100.000.000 đồng, tuy nhiên theo nguyên tắc cơ sở dồn tích doanh thu ghi
nhận ngay tại thời điểm phát sinh là khi khách hàng chấp nhận mua, ngoài ra
giá trị phản ánh trên tài khoản doanh thu là 300.000.000 đồng (thu tiền
100.000.000 đồng và khoản khách hàng nợ 200.000.000 đồng).
Với ví dụ trên, tính ưu việt của nguyên tắc cơ sở dồn tích đã thể hiện rõ,
nó giúp cho kế toán ghi nhận và phản ánh tài sản thuộc sở hữu của doanh
nghiệp nhưng hiện tại không nằm ở doanh nghiệp là các khoản phải thu khách
hàng, hay các khoản vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn
9 vị là nợ phải trả. Chính vì thế phạm vi của nguyên tắc này rộng và bao quát
hơn và có thể khẳng định “…Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản
ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”.
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi
nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là
một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí;
từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích
phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kinh tế trong
kỳ và từ đó cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp được
phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa
thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%; giá vốn 125.000 đồng/ sản phẩm. Khi
nhận được hàng, khách hàng chấp nhận mua 80 sản phẩm. Theo nguyên tắc
cơ sở dồn tích, doanh thu được ghi nhận tại thời điểm khách hàng chấp nhận
mua hàng (đã trả một khoản tiền hay ghi nhận một khoản nợ), mặt khác, theo
nguyên tắc phù hợp của kế toán, kế toán sẽ sẽ xác định số lượng được tiêu thụ
là 80 sản phẩm, do vậy doanh thu và chi phí được xác định phải tương ứng
với số lượng tiêu thụ là 80 sản phẩm, còn lại 20 sản phẩm không được tiêu
thụ vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và là tài sản của doanh nghiệp.
Như vậy 100 sản phẩm gửi bán của doanh nghiệp sẽ được xử lý như sau:
Gửi bán 100 sản phẩm, giá vốn: 100 x125.000 = 12.500.000 đồng
Tiêu thụ 80 sản phẩm: Doanh thu: 80 x150.000 = 12.000.000 đồng
Giá vốn (chi phí): 80 x 125.000 = 10.000.000 đồng
20 sản phẩm còn lại đang còn là hàng gửi bán chưa về đến đơn vị.
- Lợi nhuận được đo lường dựa trên cơ sở thận trọng. Thận trọng là việc
xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các
điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
+ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn
về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có
11 bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
1.2. ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ
1.2.1. Định nghĩa, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
a. Định nghĩa
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về việc điều chỉnh lợi
Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
6
Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
7
Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2009)
8
Được trích dẫn trong nghiên cứu của TS. Đường Nguyễn Hưng (năm 2013)
12 các nguyên tắc kế toán hay nói cách khác điều chỉnh lợi nhuận là hợp pháp và
từ đó còn được gọi là quản trị lợi nhuận, thể hiện sự vận dụng linh hoạt các
nguyên tắc kế toán để làm thay đổi doanh thu, chi phí ghi nhận trong kỳ.
b. Động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Trong năm 2013, theo thống kê của Vietstock, tính đến ngày 08/04/2014
đã có khoảng 500 doanh nghiệp công bố BCTC hợp nhất kiểm toán năm 2013
và gần 300 doanh nghiệp công bố BCTC kiểm toán công ty mẹ. Chỉ xét riêng
về các khoản mục trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh, mà quan trọng
nhất là khoản mục lợi nhuận sau thuế cho thấy có đến 80% kết quả có chênh
lệch trước và sau kiểm toán. Như vậy, tình trạng số liệu tài chính theo BCTC
kiểm toán chênh lệch so với báo cáo doanh nghiệp lập là khá phổ biến.
Không những chênh lệch mà thậm chí có trường hợp làm thay đổi hoàn
toàn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như từ lãi sang lỗ hay từ lỗ sang
lãi. Gây sốc nặng cho nhà đầu tư khi CTCP Xuyên Thái Bình (PAN) bất ngờ
lỗ 2 tỷ đồng sau kiểm toán trong khi trước đó báo lãi vượt kết hoạch với 48,8
tỷ đồng. Không kém cạnh, CTCP Xây Lắp Đường Ống Bể Chứa Dầu Khí
(PXT) cũng gây thất vọng lớn cho cổ đông khi kết quả kiểm toán cho thấy lỗ
ròng 35,6 tỷ đồng chứ không phải có lãi hơn 1 tỷ đồng như trước đó. Khoản
mục gây ra sự thay đổi lớn này là giá vốn hàng bán sau kiểm toán bất ngờ
trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu cần tạo được sự chú ý
của các nhà đầu tư về hiệu quả kinh doanh để đợt chào bán thành công.
Các công ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút nhà
đầu tư và tăng giá cổ phiếu, trái phiếu.
Mặt khác, theo quy chế niêm yết của các sở giao dịch chứng khoán
cũng như luật chứng khoán, nếu kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp niêm yết bị âm trong năm báo cáo gần nhất thì chứng khoán của doanh
nghiệp rơi vào diện bị cảnh báo, hoặc kiểm soát; nếu kết quả sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp niêm yết thua lỗ trong 03 năm liên tục hoặc tổng số
14 lỗ lũy kế vượt quá số vốn điều lệ thực góp trong báo cáo tài chính kiểm toán
thì chứng khoán của doanh nghiệp bị hủy niêm yết. Đây cũng chính là lý do
khiến nhà quản trị doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán để
tránh rơi vào diện bị hủy niêm yết hoặc bị cảnh báo, kiểm soát nếu lợi nhuận
kế toán năm bị lỗ rơi vào diện trên. Vì nếu chứng khoán của doanh nghiệp rơi
vào diện bị cảnh báo, bị kiểm soát hay tồi tệ hơn là bị hủy niêm yết thì đồng
nghĩa với việc thu hút đầu tư của doanh nghiệp gặp khó khăn, kênh huy động
vốn hiệu quả và phù hợp nhất của doanh nghiệp bị cắt đứt.
- Chế độ lương, thưởng dành cho nhà quản trị: Chế độ trả lương,
thưởng dựa trên lợi nhuận đã tạo ra một động cơ thúc đẩy các nhà quản trị
điều chỉnh lợi nhuận theo hướng có lợi cho họ nhất. Khi lợi nhuận thực tế
lớn hơn giới hạn trên của mức lợi nhuận được nhận tiền thưởng, các nhà
quản trị sử dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh giảm lợi nhuận
nhưng vẫn nằm trong giới hạn được nhận thưởng, phần lợi nhuận không
làm tăng tiền thưởng được dịch chuyển sang năm sau và tiếp tục được
nhận thưởng trong năm sau. Ngược lại, khi lợi nhuận thực tế nhỏ hơn
nhiều so với giới hạn dưới của mức lợi nhuận được nhận thưởng, nhà
thì thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở
và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và
trình bày báo cáo tài chính.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, việc lựa chọn và áp dụng chính sách
kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực, các văn bản hướng dẫn
các chuẩn mực và các chính sách, chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành.
Chính sách kế toán có những đặc trưng sau:
Chính sách kế toán là những nguyên tắc: Kế toán phải tuân thủ các
nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo. Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả
mọi doanh nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù
hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích. Việc áp dụng các nguyên tắc kế toán
16 cũng có một vài nguyên tắc có thể thay đổi thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví
dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ phát sinh hay phân bổ
cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp mà chi phí phát sinh trong kỳ sẽ khác
nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.
Chính sách kế toán là những lựa chọn: Chuẩn mực kế toán cho phép
doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho phù
hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp. Việc lựa chọn và áp dụng
các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi
thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên
ngoài. Các lựa chọn kế toán bao gồm lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho,
lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định, lựa chọn phương pháp đánh
giá sản phẩm dở dang, lựa chọn phương pháp tính giá thành…
Chính sách kế toán là ước tính kế toán: Ước tính kế toán là các nguyên
tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không
thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở. Các khoản ước tính
chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài. Sau đây là các phương pháp kế
toán nhà quản trị có thể vận dụng trong quản trị lợi nhuận:
a1. Ghi nhận doanh thu
Trong trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ xây lắp thực hiện trong
nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được
thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo VAS-15, phần công việc
hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp tuỳ thuộc vào bản
chất của hợp đồng xây dựng:
- Đánh giá phần công việc hoành thành.
- So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng
khối lượng công việc phải hoàn thành.
- Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn
thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ.
18 Nhà quản trị có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp trong việc xác
định phần công việc hoàn thành trên mà mỗi phương pháp sẽ cho ra một mức
doanh thu không giống nhau. Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận
tăng lên hoặc giảm đi.
a2. Phương pháp xác định giá thành sản phẩm và đánh giá sản phẩm dở
dang
Ở các công ty sản xuất hoặc xây dựng việc tính giá thành sản phẩm
có thể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau như: Phương
pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn), phương pháp hệ số, phương pháp
tỷ lệ, phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng, phương pháp loại trừ
sản phẩm phụ, phương pháp phân bước, tùy vào đặc điểm tổ chức sản
xuất, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm sản phẩm, yêu cầu quản lý