Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý hợp đồng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, quá trình tin học
hóa và hoàn thiện hệ thống tin học diễn ra trên khắp tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Ngân hàng là một trong những ngành đi đầu trong quá trình hiện đại
hóa do nhu cầu đặc thù về tính bảo mật và xử lý của ngành.
Ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải Việt Nam là ngân hàng thương
mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam. Cùng với xu hướng phát triển chung của hệ
thống ngân hàng, Ngân hàng Hàng hải đã ngày càng lớn mạnh và tự khẳng định
mình trong cơ chế cạnh tranh ngày càng khốc liệt với các ngân hàng tư nhân.
Hiện nay, ngân hàng đang bước vào giai đoạn 2 của quá trình hiện đại hóa hệ
thống ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là cốt lõi mang tính bản chất của ngân hàng mà ngân
hàng nào cũng chú trọng phát triển. Bởi vậy xuất phát một phần từ yêu cầu thực
tế và mong muốn tìm tòi về qui trình tín dụng của bản thân mà tụi đó lựa chọn đề
tài: “Phõn tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý hợp đồng cho vay tại Ngân
hàng thương mại cổ phần hàng hải”.CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG HÀNG HẢI VÀ
TÌNH HÌNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG HÀNG HẢI
1.1.1. QUÁ TRèNH HÌNH THÀNH
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam gọi tắt là Ngân hàng
TMCP Hàng Hải, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Maritime Commercial Stock
Bank (viết tắt là Maritime Bank hoặc MSB).
• Giai đoạn thứ nhất (từ tháng 12/07/1991 đến năm 07/07/2003)
Vào những năm cuối thập kỷ 80 của Thế kỷ 20, nhu cầu vốn đầu tư để
phát triển ngành Hàng hải rất lớn. Nguồn vốn đầu tư cho ngành Hàng hải của
Nhà nước không đáng là bao, tài sản của Đội tàu biển Việt Nam chủ yếu hình
thành từ hình thức thuê mua, vay mua mà có. Ý tưởng xin thành lập ngân hàng
để tạo vốn và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho hoạt động của

mọi mặt. MSB đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, phục vụ và góp phần tích
cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng trong nền kinh tế thị
trường và xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới. Ngân hàng đã không ngừng
phấn đấu vươn lên, hỗ trợ tích cực vào sự phát triển của ngành hàng hải nói
riêng, và nền kinh tế Việt Nam nói chung, có những bước tiến nhanh, đạt được
nhiều thành tựu to lớn trên moi mặt hoạt động kinh doanh – dịch vụ ngân hàng,
phát triển đồng đều cả kinh doanh đối nội và kinh doanh đối ngoại. Từ xuất phát
điểm là một ngân hàng chủ yếu phục vụ nhu cầu về vốn cho ngành Hàng hải,
MSB đã góp phần đắc lực trong việc thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc
gia, thúc đảy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng trong thời kỳ đổi mới, thực hiện
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh
70và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng
cho người dân.
Mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Hàng hải được trải khắp trên toàn
quốc với Trụ sở chính, Sở Giao dịch đóng tại Hải Phũng, cỏc chi nhánh tại Hà
Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ, Nha Trang –
những đầu mối kinh tế quan trọng của cả nước. Ngoài ra, Ngân hàng Hàng hải
cũn cú Phũng giao dịch tại Hải Phòng và các chi nhánh cấp 2 tại Hà Nội, Đà
Nẵng, Hồ Chí Minh nhằm mở rộng khả năng đáp ứng và phục vụ khách hàng.
Ngân hàng đã thiết lập quan hệ đại lý với trên 200 ngân hàng và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở nhiều nước trên thế giới, góp phần quan trọng thúc đẩy
tốc độ của hoạt động thanh toán quốc tế. Với lý do đó, Ngân hàng Hàng hải là
ngân hàng TMCP có thế mạnh trong hoạt động tài trợ thương mại (thư tín dụng –
LC, nhờ thu, bảo lãnh) và thanh toán quốc tế, xứng đáng là người bạn đồng hành
đáng tin cậy cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Trong xu thế nâng cao vị thế trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam và hội
nhập môi trường ngân hàng toàn cầu, hiện tại, Ngân hàng Hàng hải đã là thành

hàng thương mại cạnh tranh mở rộng mạng lưới hoạt động và đa dạng hóa các
dịch vụ ngân hàng. Trong bối cảnh trên Ngân hàng hàng hải dù phải tiếp tục đối
mặt với nhiều khó khăn song đã có nhiều nỗ lực đạt được những thành tựu nhất
định:
- Về khách hàng và chính sách khách hàng: số lượng khách hàng giao dịch
trong toàn hệ thống đã tăng 37% so với năm 2004, trong đó khách hàng là các tổ
chức chiếm 19% tổng số khách hàng và tăng 17% so với năm 2004.
- Về vốn tự có và khả năng sinh lời: Năm 2005 MSB đã thực hiện tăng vốn điều
lệ lên 290 tỷ đồng với các cổ đông là các doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh.
- Về sản phẩm dịch vụ ngân hàng: sản phẩm cho vay vẫn là các sản phẩm truyền
thống chủ yếu cung cấp cho các khách hàng là doanh nghiệp. Trong năm 2005,
doanh số cho vay tăng 37,6 % và dư nợ cho vay tăng 42,1% so với năm 2004,
70chất lượng tín dụng được kiểm soát thường xuyên, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ còn
3,69% vào cuối năm. Kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng tăng trưởng lớn,
góp phần nâng cao thu nhập và tăng khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Với
lợi thế công nghệ tin học mới, là thành viên của hệ thống thanh toán liên ngân
hàng quốc gia và hệ thống viễn thông thanh toán toàn cầu, MSB tiếp tục thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước đảm bảo tức thời và an toàn. Các dịch
vụ thanh toán quốc tế, tài trợ thương mai được kiện toàn và quảng bá sâu rộng
tới khách hàng. Riêng sản phẩm tiết kiệm áp dụng cho cá nhân với tiện ích gửi
rút nhiều nơi và điều khoản gửi tiền phong phú đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
nguồn vốn huy động từ cá nhân của toàn hệ thống MSB, góp phần quan trọng
vào việc quảng bá rộng rãi hình ảnh MSB trong cộng đồng dân cư.
- Mạng lưới kinh doanh và phân phối sản phẩm dịch vụ: trong năm qua, MSB đã
mở các chi nhánh Đống Đa tại Hà Nội, chi nhánh Hũa Khỏnh tại thành phố Đà
Nẵng, chi nhánh Sài Gòn tại thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh Nha Trang tại
tỉnh Khỏnh Hũa. Đặc biệt, trụ sở giao dịch đã được chuyển về địa chỉ 44 Nguyễn

máy của MSB được cơ cấu trên cơ sở các mục tiêu sau:
- Cơ cấu tổ chức hướng tới khách hàng phù hợp nhu cầu của từng loại hình
khách hàng
- Quản lí quan hệ khách hàng tập trung
- Phân định chức năng nhiệm vụ giữa các bộ phận trực tiếp kinh doanh, bộ
phận quản lý, giám sát và bộ phận tác nghiệp.
- Thực hiện cỏc kờnh phân phối thương mại
- Thực hiện vai trò quan trọng của Hội đồng quản lý rủi ro và ban quản lí tài
sản Nợ và tài sản Có nhằm chủ động quản lý các loại rủi ro trong hoạt động ngân
hàng. Từ cuối năm 2003, mô hình tổ chức mới của MSB đã được triển khai theo
mô hình sau trên toàn hệ thống:
70
Phạm Quốc Đông
Phó tổng giám đốc
Dương Thế Sơn
Phó tổng giám đốc
Nguyễn Minh Đức
Phó tổng giám đốc
Trần Bá Vinh
Tổng giám đốc1.1.4. NHIỆM VỤ CHỨC NĂNG
PHÒNG TỔ CHỨC
HÀNH CHÍNH
PHÒNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ
70
PHÒNG KẾ HOẠCH
TỔNG HỢP

NHÁNH
CẦN
THƠ
CHI
NHÁNH
VŨNG
TÀU
PHÒNG TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
BAN THƯ KÍ
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG
HÀNG HẢI VIỆT NAMa) Trung tâm điều hành thực hiện chức năng: Nghiên cứu và hoạch định
chiến lược phát triển, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát và xử lớ cỏc vi
phạm trên toàn hệ thống, quản lí hệ thống công nghệ thông tin, nghiên cứu phát
triển sản phẩm dịch vụ.
b) Các chi nhánh có chức năng tác nghiệp kinh doanh và được tổ chức
thành các Phòng nghiệp vụ theo hướng chuyờn mụ húa, cụ thể là:
- Phòng dịch vụ khách hàng: Thực hiện nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng, quản lớ cỏc
- Phòng tín dụng: Thực hiện nhiệm vụ cấp tín dụng cho khách hàng, cấp
tín dụng cho dự án theo phân cấp, tham gia đồng tài trợ với các tổ chức tín dụng
khác, góp vốn đầu tư và mua bán nợ, khai thác tiện ích và hạn mức tài trợ của
các ngân hàng đại lý, thực hiện nghiệp vụ tài trợ thương mại.
- Phòng Kế toán – Tài chính: Thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, phân
tích tài chính và tổng hợp kế toán.
c) Sở giao dịch MSB là đơn vị trực thuộc Trụ sở chính thực hiện nhiệm vụ
tổ chức các hoạt động ứng dụng sản phẩm dịch vụ mới, tổ chức thanh toán và

trực tiếp vào các hệ thống thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước và
quốc tế.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng hàng hải trên thị trường
ngân hàng trong nước, tiến tới hội nhập khu vực và quốc tế.
- Góp phần tăng tốc độ lưu thông và chu chuyển trong toàn xã hội, đồng
thời đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng về mở rộng dịch vụ khách hàng và
phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, các giao dịch trên máy tính của MSB đều
70kết nối trực tuyến về trung tâm trên đường thuờ riờng (leased line). Mặt khác,
MSB sẽ tiến hành xây dựng thành một Ngân hàng hiện đại với các dịch vụ tiên
tiến qua Internet nên việc quản trị mạng tập trung với trình độ chuyên nghiệp là
một yêu cầu tất yếu.
Hệ thống dữ liệu và phần mềm ứng dụng của MSB tập trung tại trung tâm
nên được quản lý chuyên nghiệp tiến dần đến tiêu chuẩn quốc tế, tiếp nhận
chuyển giao công nghệ và tiến tới làm chủ hệ thống để làm giảm rủi ro trong
công nghệ.
1.2.2. VỀ TỔ CHỨC
Hệ thống công nghệ thông tin MSB là một trong những công cụ mang tính
quyết định cho việc kinh doanh của MSB nờn đó đặt ra những yêu cầu mang tính
bắt buộc, cụ thể là:
- Chuyên môn hóa: Xây dựng bộ phận nghiên cứu ứng dụng công nghệ và
bộ phận vận hành hệ thống để đảm bảo các hệ thống có độ ổn định cao.
- Tránh rủi ro trong quản lý: quản lý các ứng dụng phục vụ giao dịch hàng
ngày phải có ít nhất 2 người am hiểu hỗ trợ.
- Tránh rủi ro trong công nghệ: Các công nghệ trước khi đưa vào khai thác
chính thức phải có tài liệu để có thể dựa vào tài liệu kỹ thuật để khai thác và
khắc phục sự cố thông thường.
Phòng công nghệ thông tin là đơn vị phục vụ, với nhiệm vụ duy trì hệ

a) Chức năng
- Quản lý công nghệ và chính sách để đảm bảo sẵn sàng cao và an ninh
của hệ thống phần mềm ứng dụng SIBS và các phần mềm trung gian khác tại các
máy chủ trung tâm
- Nghiên cứu xây dựng các tài liệu kỹ thuật cấu trúc hệ thống, mô tả dữ
liệu, luồng luân chuyển dữ liệu … trờn cỏc máy chủ trung tâm và xây dựng kế
hoạch để tự quản trị hệ thống phần mềm SIBS
b) Nhiệm vụ
70- Quản lý, bảo dưỡng hệ thống phần mềm ứng dụng SIBS để đảm bảo sẵn
sàng đáp ứng nhu cầu giao dịch trực tuyến của MSB.
- Giám sát và đề xuất các giải pháp để phòng ngừa và đảm bảo an ninh các
ứng dụng của SIBS
- Nghiên cứu tích hợp các dịch vụ khác vào hệ thống SIBS và nghiên cứu
phát triển các dịch vụ gia tăng trờn cỏc phần mềm ứng dụng hiện có
1.2.2.3. Bộ phận quản lý các ứng dụng bổ trợ
a) Chức năng
- Quản lý công nghệ và chính sách để đảm bảo sẵn sàng cao và an ninh
của hệ thống phần mềm bổ trợ (AD, TR, GW, BDS, DWH) và các phần mềm
trung gian khác tại các máy chủ
- Nghiên cứu xây dựng các tài liệu kỹ thuật trờn cỏc hệ thống trên
b) Nhiệm vụ
- Quản lý, bảo dưỡng để đảm bảo sẵn sàng cao và an ninh các phân hệ phụ
trách
- Giám sát an ninh các phân hệ phụ trách
1.2.2.4.Tổ vận hành hệ thống và dịch vụ
a) Chức năng
- Vận hành hệ thống cuối kỳ

- Quản trị phần mềm ứng dụng phát hành thẻ (SWIFT, ATM, NAC, POS,
Embossing )
- Quản trị phần mềm ứng dụng ngân hàng trên Internet
- Quản trị phần mềm ứng dụng Phone/Mobile/Card banking
- Quản trị hệ thống an ninh ứng dụng Ngân hàng điện tử, xây dựng các
báo cáo kiểm toán và giải quyết khiếu nại kỹ thuật
- Quản lý cấu hình và phần mềm hệ thống các thiết bị trong hệ thống Ngân
hàng điện tử
1.2.3.ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
70Với các yêu cầu về công nghệ ngày càng cao quản lý chuyên nghiệp dần
tiến đến tiêu chuẩn quốc tế, nguồn nhân lực cho phòng công nghệ thông tin hiện
nay còn thiếu về số lượng. Các ngân hàng có hệ thống tương tự, số lượng nhân
viên từ 30 – 80 người. Chất lượng các nhân viên tham gia trực tiếp vào các dự án
trước đây, nhân viên am hiểu về công nghệ mới cũn ớt nờn chỉ đảm bảo duy trì
vận hành hệ thống với mức độ hạn chế các giao dịch như hiện nay.
Ngân hàng Hàng hải là một ngân hàng hoạt động với quy mô vừa vốn điều
lệ ngày 31/01/2006 là 310 tỷ, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phát hành thẻ ATM của ngân hàng mang tên
OCEAN CARD đang được xúc tiến trong khi một số ngân hàng khỏc đó phát
triển dịch vụ này từ cuối năm 2004. Thời kỳ đầu, hoạt động tín dụng chưa chú
trọng đến việc cho vay tiêu dùng dân cư. Gần đây mảng hoạt động này mới được
chú trọng phát triển và đang có những bước tiến đáng kể. Mặc dù còn một số hạn
chế về quy mô nhưng Ngân hàng Hàng hải đang dần khẳng định và tìm được chỗ
đứng trong điều kiện cạnh tranh căng thẳng giữa các ngân hàng thương mại như
hiện nay nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu về vốn của đông đảo tầng lớp
dân cư và hỗ trợ ngân hàng Nhà nước điều tiết, bình ổn giá, thực hiện chính sách
tiền tệ quốc gia.

tiền nhiều nơi và đặc biệt việc chuyển tiền cho khách hàng khác trong cùng hệ
thống Ngân hàng Hàng hải được thực hiện một cách tức thì, an toàn và thuận
tiện.
Việc phát triển một hệ thống ngân hàng điện tử đang là xu hướng phát
triển của hầu hết các ngân hàng ở Việt nam. Các dịch vụ ngân hàng như phone
banking, home banking, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền mặt ATM tất cả
đều đang trở thành các thế mạnh của ngân hàng và tạo nhiều tiện ích cho khách
hàng hơn trong việc quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng
Đứng trước cơ hội mới của thị trường, Ngân hàng Hàng hải nhận thấy tầm
quan trọng rất lớn của việc đưa các tiện ích ngân hàng điện tử vào định hướng
70phát triển của ngân hàng trong đó đặc biệt chú trọng tới việc phát triển các sản
phẩm thẻ để tiến đến một hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, hiệu
quả, mọi lúc, mọi nơi. Tiến tới việc thực hiện được mục tiêu này, ngày
08/01/2004 Ngân hàng Hàng hải đã chính thức tham gia vào Hiệp hội thẻ
Mastercard International cùng với 11 Ngân hàng TMCP khác dưới sự bảo trợ
của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (VCB). Đồng thời, Ngân hàng Hàng hải
cũng đã ký kết với VCB trở thành ngân hàng đại lý phát hành và thanh toán thẻ
ghi nợ nội địa Connect 24.
MoneyGram là nhà cung cấp hàng đầu trên thế giới về dịch vụ chuyển tiền
giữa các cá nhân trên toàn thế giới. Đến với dịch vụ chuyển tiền MoneyGram tại
Ngân hàng Hàng hải, Khách hàng luôn được đảm bảo về việc chuyển và nhận
tiền nhanh chóng, tiện lợi. Với mạng lưới 60,000 đại lý trải rộng trên hơn 160
nước trên khắp thế giới, Khách hàng có thể gửi/nhận tiền một cách nhanh chóng,
thuận tiện (thông thường trong vòng 10 phút) với chi phí tối ưu nhất mà không
phụ thuộc vào việc Khách hàng có tài khoản tại Ngân hàng hay không.
Vừa qua, Thủ tướng Phan Văn Khải đã phê duyệt báo cáo tiền khả thi cho
Dự án hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống thanh toán giai đoạn II. Tham gia Dự

nhiều hình thức tín dụng mới đã xuất hiện trong quá trình bùng nổ của các
nghiệp vụ tín dụng. Khi hình thành các loại dịch vụ tín dụng mới, ngân hàng
không những thích nghi với những nhu cầu của quá trình tái sản xuất, mà trước
hết muốn bằng con đường đa dạng hóa việc cung ứng tín dụng mà thu hút nhiều
khách hàng nhất và do đó tăng lợi nhuận của mình. Khi cấp tín dụng, ngân hàng
quan tâm tới việc bảo tồn vốn của mình và thu được các khoản thu nhập tối đa.
Khách hàng thì muốn nhận được tín dụng với những điều kiện ưu đói nhất. Điều
đó được thể hiện trong các yêu cầu cụ thể của người vay.
Hiện nay hoạt động ngân hàng đã được đa dạng hóa dưới nhiều hình thức
khác nhau nhằm góp phần rất lớn trong việc điều tiết tài chính của nền kinh tế.
Nền kinh tế càng phát triển, ngân hàng sẽ càng phát sinh ra nhiều sản phẩm phát
sinh, và để quản lý được chúng, bắt buộc Ngân hàng phải phân loại các sản
70phẩm của mình, ứng với mỗi loại hình sẽ có một phân hệ quản lý riêng, ví dụ
hoạt động huy động vốn sẽ được quản lý bởi phân hệ tiền gửi, hoạt động bảo
lãnh Ngân hàng thuộc các sản phẩm dịch vụ và được quản lý bằng phân hệ tài
trợ thương mại, hoạt động tín dụng được quản lý bằng phân hệ tín dụng.
Hiện nay hệ thống Ngân hàng đang thi hành chính sách hiện đại hóa. Ngân
hàng hàng hải là một trong năm ngân hàng nằm trong dự án hiện đại hóa của
ngân hàng nhà nước.
Do đang trong giai đoạn chuyển đổi hệ thống nên hệ thống mới mua của
nước ngoài có rất nhiều thế mạnh nhưng có một số ít điểm chưa đáp ứng được
nhu cầu thực tế của Việt Nam mà ngân hàng chưa kịp thời sửa chữa cập nhật ví
dụ như việc gia hạn. Đối với hệ thống nước ngoài, do hoạt động quản lí ngân
hàng nước ngoài rất chặt chẽ do đó qui trình gia hạn tương đối phức tạp trong
khi ở Việt Nam việc gia hạn, điều chỉnh lãi suất diễn ra khá thường xuyên. Các
tiêu chí phân loại hợp đồng để làm căn cứ tính lãi suất ở Việt Nam cũng thay đổi
một cách linh hoạt theo chính sách tài khóa của Ngân hàng Nhà nước, không ổn

tự, các từ, các văn bản, các số, các bảng số, âm thanh, hình ảnh…
Hai thuật ngữ dữ liệu và thông tin thường được sử dụng thay thế nhau.
Nhưng có thể xem dữ liệu là nguyên liệu thô, được xử lí để trở thành sản phẩm
thông tin. Khi đó thông tin được định nghĩa là dữ liệu được xử lý để trở nên có
nghĩa và có ích cho những người sử dụng đầu cuối xác định. Tất nhiên dữ liệu có
thể trở thành thông tin mà không qua xử lý. Tuy nhiên dữ liệu thường không có
ích khi chưa qua quá trình “Tăng giá trị” bao gồm 3 bước sau đây:
70- Các biểu mẫu chứa dữ liệu được phân loại, sắp xếp …
- Nội dung được phân tích, tổng hợp và đánh giá
- Các dữ liệu được đặt vào văn cảnh cụ thể đối với người sử dụng
Như vậy có thể xem thông tin là dữ liệu đã được xử lý và được đặt vào
văn cảnh (hoàn cảnh) có ích cho những người sử dụng đầu cuối nhất định. Ví dụ:
một hóa đơn bán hàng gồm các mục dữ liệu: tên khách hàng, tên hàng hóa, giá
bán Nhưng người quản lý cửa hàng không quan tâm đến những thông tin đú.
Cỏc dữ liệu đó cần được tổng hợp thành các thông tin như: Số tiền bán hàng
trong 1 tháng của cửa hàng hoặc số tiền bán hàng cho khách hang X trong một
tháng của cửa hàng để cung cấp cho người quản lý cửa hàng.
Qua các định nghĩa đó ta có thể thấy thông tin luôn được gắn với sự tiện
dùng, có ích đối với chủ thể nhận tin. Dữ liệu luôn luôn là dữ liệu nhưng thông
tin đối với người này nhưng đối với người khác có thể chỉ là dữ liệu. Thông tin
mang đầy ý nghĩa với một cá nhân nhưng nhiều khi lại trở thành vụn vặt đối với
nhân vật khác. Khái niệm dữ liệu và thông tin là hai khái niệm cơ bản dùng trong
hệ thống thông tin. Thông tin là một yếu tố căn bản của quá trình thành lập, lựa
chọn và ra quyết định để điều khiển một hệ thống thông tin nào đó.
Thông tin là một yếu tố cơ bản của quá trình thành lập, lựa chọn và phát ra
quyết định để điều khiển một hệ thống thông tin nào đó. Hệ thống này có thể là
trong tự nhiên, xã hội hay tư duy. Quá trình thu thập thông tin -truyền tin - nhận tin

định khác nhau cần được cung cấp thông tin khác nhau. Các cán bộ quản lí trong
các cấp quản lý khác nhau cần thông tin cho quản lí khác nhau. Việc ra quyết
định khác nhau cần được cung cấp thông tin khác nhau.
Với cách định nghĩa này thì cấp quản lí khác nhau cần thông tin khác
nhau, người quản lí khác nhau cần thông tin khác nhau. Việc khái quát hóa thành
nguyên tắc những tính chất của thông tin cung cấp chi từng cấp quản lí là rất
quan trọng và có ý nghĩa thực tế. Trước hết cần phải rừ khái niệm mức của quyết
định. Người ta thường chia quyết định của một tổ chức thành 3 loại: Quyết định
chiến thuật, quyết định chiến lược và quyết định tác nghiệp.
- Quyết định chiến lược là những quyết định xác định mục tiêu và những
quyết định xây dựng nguồn lực cho tổ chức.
- Quyết định chiến thuật là những quyết định cụ thể hóa mục tiêu thành
nhiệm vụ, những quyết định kiểm soát và khai thác tối ưu nguồn lực.
- Quyết định tác nghiệp là những quyết định nhằm thực thi nhiệm vụ.
2.1.1.1.2. Khái niệm cơ bản liên quan đến hệ thống thông tin
70
Mô hình thông tin trong quản lý
Thông tin từ môi trường
Thông tin phản hồi
Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý
Quyết định quản lý
Thông tin ra môi trườngHệ thống thông tin là một tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau cùng
làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin để nhằm mục đích
hỗ trợ cho việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status