Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
Hướng dẫn cách làm:
Trong dàn đồng ca đa điệu buồn của thơ ca lãng mạn trước Cách mạng thì
Huy Cận là hồn thơ buồn hơn cả:
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”
Trong tâm hồn ông luôn luôn chất chứa nỗi sầu buồn: buồn sông núi, sầu vũ
trụ, sầu nhân thế, sầu vạn kỉ… Tâm trạng ấy của Huy Cận được diễn tả khá thấm
thía và cảm động trong bài “Tràng giang” – một bài thơ đã đạt đến trình độ cổ
điển của dòng thơ Mới.:
I. Hoàn cảnh sáng tác và cảm hứng chủ đạo.
1. “Tràng giang” là một bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, sáng tác vào năm 1939,
đăng lần đầu tiên trên báo “Ngày nay”, sau đó in vào tập thơ “Lửa thiêng”
(Lửa sáng tạo). Bài thơ mang phong vị Đường thi khá rõ.
2. Đây là bài thơ được cảnh sông nước mênh mông của sông Hồng gợi tứ. Huy
Cận đã có lần tâm sự: “Tôi có thú vui thường vào chiều chủ nhật hàng tuần
đi lên vùng Chèm để ngoạn cảnh sông Hồng và Hồ Tây. Phong cảnh sông
nước đẹp, gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên bài thơ không chỉ do sông
Hồng gợi cảm mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của
quê hương”. Vì vậy, phân tích bài thơ này là phân tích một bức tranh thiên
nhiên sông nước hầu như đã trở thành cổ điển mà linh hồn của nó là một nỗi
buồn đìu hiu, mênh mang, cô đơn. Qua mỗi khổ thơ, tác giả điểm thêm một
nét buồn nào đó. Tất cả những nét buồn ấy cứ trở đi trở lại, vẫn là bát ngát
mênh mang mà hoang vắng và có một cái gì đó tàn tạ, lụi tắt, cô đơn, bơ vơ,
nổi trôi, chia lìa, phiêu bạt. Đây là nỗi buồn cô đơn đến rợn ngợp của cái tôi
cá nhân trước không gian ba chiều bao la, luôn luôn có niềm khát khao hoà
hợp, cảm thông giữa người và người trong tình đất nước và tình nhân loại.
3. Nhan đề:
Theo Huy Cận, đây là một bài thơ “tình”, tình gặp cảnh tình sầu nên
cảnh cũng sầu. Nỗi sầu buồn mênh mang bao trùm cả không gian, thời gian
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 1
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 2
Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
nhân. Để làm rõ hơn cảm giác ấy, phần sau câu thơ tác giả viết “buồn điệp
điệp”. “Điệp điệp” là một từ láy thật gợi hình, gợi cảm, vừa là hình ảnh vừa
là tâm tư. Nó vừa gợi từng đợt sóng chồng chất, tầng tầng lớp lớp, vừa diễn
tả “điệp điệp” nỗi sầu. Đúng là dòng nước đã đồng nghĩa với dòng sầu:
“Sông bao nhiêu nước dạ sầu bấy nhiêu”
“Con thuyền xuôi mái nước song song”, “xuôi mái” là con thuyền
nương theo dòng nước mà đi, nhưng cũng có thể hiểu là con thuyền bất lực
với cả mái trèo của mình lênh đênh để dòng nước cuốn xuôi tận cuối chân
trời mặc cho dòng đời xô đẩy, phiêu bạt, buông xuôi không bến đậu.
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”
Hình ảnh sông nước mênh mang cùng con thuyền nhỏ nhoi giữa dòng
tạo nên sự đối lập gợi cho ta cảm giác cô đơn da diết. Từ xưa tới nay, thuyền
và nước là hai hình ảnh luôn luôn gần gũi, gắn bó. Vậy mà ở đây, con thuyền
lênh đênh mà dòng nước mênh mông như có một nỗi buồn chia li xa cách
đương đón đợi:
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”
Những con thuyền đã về hết, chỉ còn dòng sông mênh mang sóng nước.
Vì thế, cảnh dễ gợi nỗi “sầu trăm ngả”. Suy ngẫm về ba câu thơ, ta thấy nỗi
lòng tác giả đã có sự nâng cấp từ “buồn điệp điệp” đến “sầu trăm ngả”. Nỗi
buồn không chỉ có bề sâu nữa mà còn được mở rộng ra “trăm ngả’.
“Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Giữa con sông mênh mông mang nặng dòng nước sầu buồn chia li,
“trăm ngả”gợi lên sự chia lìa cách biệt ấy hiện lên một cành củi khô trôi dạt
lạc lõng bơ vơ, không biết rồi sẽ đi đâu về đâu trong dòng sông mông lung,
vô định. Ba câu thơ trên mang dáng dấp cổ điển thì đột nhiên câu cuối lại
mang dáng dấp một câu thơ rất hiện đại. Tác giả đã đưa vào thơ ca “những
thi liệu sống của đời thường” - chữ dùng - Xuân Diệu. Hình ảnh “củi một
cành khô lạc mấy dòng” là hình ảnh mới mẻ, gợi cảm, có nhiều sức biểu
tạo vật thống trị tuyệt đối. Bức tranh “Tràng giang” tuy có cồn đất, có
nắng, có bến, có làng, có chợ nghĩa là có hơi tiếng con người đấy nhưng vẫn
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 4
Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
không át được cái cảm giác tàn tạ, hiu hắt, quạnh vắng, buồn bã mênh mang.
Bởi không gì buồn bằng cái chợ chiều tan tác. Bởi trên nền thiên nhiên bát
ngát chỉ điểm “lơ thơ” mấy “cồn” và thoáng chốc xao động lên một vài cơn
gió buồn “đìu hiu”. Hai từ láy đồng thời là tính từ“lơ thơ” và “đìu hiu” đặc
biệt gợi cảm. Nó không chỉ gợi buồn mà nó còn gợi cảm giác quá nhỏ nhoi,
thưa thớt, quạnh quẽ, lạnh lẽo. “Lơ thơ” diễn tả những dáng cây nhỏ nhoi,
mỏng, thưa thớt trên cồn bãi, đồng thời gợi lên sự xuất hiện đơn độc lẻ loi,
đượm chút ngơ ngác của những bãi cồn giữa dòng “Tràng giang” bát ngát.
“Đìu hiu” nói về hơi gió nhẹ đưa nỗi buồn lan toả khắp đất trời. Huy Cận rất
lấy làm thích thú với những chữ này, cho rằng mình đã học được trong thơ
nổi tiếng của Đoàn Thị Điểm:
“Non kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
Hai câu thơ của Huy Cận mới đọc qua tưởng chúng không có quan hệ
gì với nhau bởi không gian địa lý và hình thức câu thơ. Nhưng thực ra chúng
đều cộng hưởng với nhau để làm nổi bật lên cái cô đơn, lạnh giá, lụi tàn của
những kiếp người.
Câu 3+4:
Không gian trời rộng, sông dài được đột ngột đẩy cao và mở ra bốn
phía đến vô cùng làm cho cảnh bờ bãi của dòng sông vốn đã vắng vẻ lại
càng trở nên “cô liêu” tĩnh mịch:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”
Không gian ở đây được mở rộng ra nhiều chiều khó nắm bắt. “Nắng
xuống, trời lên”, “sông dài trời rộng” nhịp nhàng tạo nên một vũ điệu kì vĩ
của vũ trụ. Tác giả dùng từ “sâu chót vót” chứ không phải “cao chót vót”.
dạt về đâu”, nhà thơ sống trong cảnh mất nước, nô lệ nên đã cảm nhận được
cả thế hệ thanh niên lúc đó cũng như mình đang vật vờ, lênh đênh trôi dạt, bị
cuộc đời cuốn đi nhưng không biết đi về đâu.
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 6
Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
Cảnh mênh mông, buồn bã, trống vắng quạnh hiu của “Tràng giang”
càng được nhân lên bằng mấy lần phủ định:
“Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Chiếc cầu, con đò bắc nối đôi bờ là biểu hiện sự giao nối của con người
với cuộc sống, thường gợi về sự tấp nập gần gũi và gợi nhớ quê hương:
“Chiếc cầu đám cưới đi qua”
(Nguyễn Cảnh Trà)
“Chiếc cầu là đêm trăng ta hò hẹn”; “Quê hương là cầu tre nhỏ”; “Quê
hương là con đồ nhỏ”… là sự sống. Nhưng ở đây “không một chuyến đò” lạc
qua, không một chiếc cầu bắc nối đôi bờ, nghĩa là tuyệt nhiên không một
dấu vết của sự sống hay một cái gì đó gợi về tình người, lòng nước muốn
gặp gỡ lại qua đôi bờ hoang vắng. Hai bờ sông cứ thế chảy dài về phía chân
trời xa như hai thế giới cô đơn, xa lạ không bao giờ gặp nhau, không chút
niềm thân mật của những tâm hồn đồng điệu. Cảnh “Tràng giang” chỉ còn
“lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Câu thơ vẽ lên được một bức tranh thật đẹp
nhưng tĩnh lặng, buồn đến nao lòng.
Bốn câu thơ, bốn hình ảnh, tất cả đều buồn. Mỗi hình ảnh mang một
nỗi buồn riêng. Chúng liên kết với nhau tạo thành một bức tranh gợi về số
phận nổi trôi, bơ vơ, bất hạnh, vô định của kiếp người trong xã hội cũ. Về
nghệ thuật, ở khổ thơ này tác giả sử dụng thủ pháp quen thuộc của nghệ
thuật cổ điển: lấy không để nói có, nhắc nhiều đến cái không, làm cho ta
càng thiết tha khát khao cuộc sống ấm cúng đông vui của con người.
4. Khổ 4
thơ Huy Cận có nét đặc sắc riêng của nó. Thơ ca cổ xưa nay khi miêu tả
cảnh chiều tà thường vờn vẽ một vài hình ảnh cánh chim:
“Chim hôm thoi thóp về rừng”
(Nguyễn Du)
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 8
Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
(Bà huyện Thanh Quan)
Cánh chim trong thơ Huy Cận xuất hiện giữa “lớp lớp mây cao đùn núi
bạc”. Đúng là cánh chim trong thơ Mới. Nó nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn, buồn
thương, tội nghiệp và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la.
Trong câu thơ trên, nghệ thuật đối lập giữa hình ảnh cánh chim nhỏ bé
với vũ trụ bao la làm cho không gian như bát ngát hơn và qua đó cũng xa
vắng buồn bã hơn. Đến đây, nỗi sầu dâng kín “Tràng giang” và từ trời cao
đổ xuống cánh chim yếu ớt rồi thấm sâu vào cõi lòng nhân thế:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Câu thơ có từ láy “dợn dợn” rất gợi cảm. Nó là một sáng tạo của nhà
thơ. Từ ấy đã diễn tả chuyển động uốn lên uốn xuống nhẹ nhàng không dứt
của mặt nước khi bị dao động, còn “vời” là xa, “con nước” là nước thuỷ triều
đương lên. “Dợn dợn vời con nước” vừa là hình ảnh vừa là tâm trạng. Nó
vừa diễn tả sóng lan ra vừa gợi cảm giác nỗi buồn lạnh lẽo u uẩn trải ra vời
vợi không nơi bám víu. Sông vốn dài rộng càng thêm rộng mênh mông lại
gặp lúc hoàng hôn đang xuống gợi nỗi buồn cô đơn da diết. Thì ra, nỗi buồn
của nhà thơ trong chiều sâu thẳm của nó cũng có nguyên nhân rất cụ thể. Đó
là nỗi buồn của người xa quê chạnh lòng nhớ tới quê hương xứ sở. Câu thơ
cuối của khổ thơ càng khẳng định điều đó:
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
“Tràng giang” là một bài thơ mang đậm ý vị cổ điển. Cổ điển ở hình
ảnh con người một mình đứng trước không gian trời rộng sông dài; trước
thơ Mới thời mất nước chưa tìm thấy lối ra:
“ Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”
2. Chất liệu thi ca:
− Ở “Tràng giang” ta bắt gặp hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ
(tràng giang, bờ bãi đìu hiu, cánh chim trong bóng chiều, khói
hoàng hôn…). Nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi lên từ thơ cổ (lớp
lớp mây cao…).
Hocmai.vn – Ngôi trường chung của học trò Việt Trang 10
Khóa Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn
− Mặt khác, “Tràng giang” cũng không thiếu những hình ảnh, âm
thanh chân thực của đời thường, không ước lệ (củi khô, tiếng vãn
chợ chiều…).
3. Thể loại và bút pháp
− “Tràng giang” mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng
nhuần nhuyễn thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu
trúc đăng đối, bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi nhiều hơn tả, những
từ Hán Việt cổ.
− Song “Tràng giang” lại cũng rất mới qua xu hướng bày trực tiếp
cái tôi trữ tình (buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhá) qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn cảm
xúc cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn dợn).
Kết luận:
“Tràng giang” của Huy cận không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là
một bài thơ về tâm hồn. Bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, trước cuộc
đời, luôn luôn khao khát hoà hợp cảm thông trong tình đất nước, tình nhân loại.
Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, “Tràng giang” vừa mang
phong vị thi ca cổ điển, vừa mang chất liệu hiện đại của thơ. Vẻ đẹp ấy cũng là nét
đặc trưng của phong cách Huy Cận.
Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh
Nguồn: Hocmai.vn