BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THANH TÂM QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG THƠ
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong thời kỳ cực thịnh của triều Hậu Lê nhưng lại
mọi mặt ? Khi công cuộc toàn cầu hóa văn hóa đang diễn ra rất phức tạp, khi cơn bão táp
của nền kinh tế thị trường đang làm cho không ít người chỉ biết lấy vật chất làm thước đo
giá trị con người thì lúc ấy mấy ai quan tâm đến đạo lý làm người. Khi thế lực đồng tiền và
văn hóa thực dụng lên ngôi, thì mấy ai sẽ còn nhớ đến những tinh hoa dân tộc ẩn dưới lớp
bụi thời gian. Vì vậy,“ trong thời buổi xô bồ, náo loạn, quay quắt, bề bộn”(Một danh nhân
văn hóa lớn thế kỷ XVI-Lê Quốc Sử)[78, tr.164], việc đi vào tìm hiểu quan niệm nhân sinh
trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Bởi cái nhìn triết
lý về cuộc đời của ông ngày xưa vẫn còn ảnh hưởng đến hậu thế, vẫn có tác dụng hữu hiệu
cho sự phân định những điều thật-giả; tốt-xấu; thiện-ác; đúng-sai đang diễn ra hàng ngày
hàng giờ trong cuộc sống của chúng ta.
Tất cả những vấn đề trên đều là những vấn đề lí thú cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn về
nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm, để bày tỏ tinh thần trân trọng di sản văn hóa quá khứ,
trân trọng một tấm gương cao quí xưa. Đó c
hính là những lý do mà chúng tôi chọn làm đề
tài nghiên cứu trong luận văn này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời xưng tụng là “cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế
kỷ XVI”. Cuộc đời và thơ văn của ông là đề tài khá hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu. Cho
nên, tính đến thời điểm ngày hôm nay, ngoài một số bài viết lẻ tẻ trên Tạp chí Văn học, còn
có nhiều công trình nghiên cứu về thời kỳ lịch sử phức tạp và cuộc đời có nhiều mâu thuẫn
của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm-Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh tuyển
chọn và giới thiệu. Gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn
Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm-Tư tưởng và
nhân cách ; Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa
và nay. Những bài viết này thể hiện nhiều phát hiện khoa học lý thú và những lời
bình sắc
quê hương Vĩnh Bảo; phần hai là những bài bình thú vị về con người và tư tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm; phần ba đề cập sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm với những lời
bình sâu sắc về nội dung và nghệ thuật thơ. Cuối cùng là những ý kiến trân trọng về vị trí
của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức con người hiện nay.
Bạch Vân Quốc ngữ thi tập- Sống Mới của Nguyễn Quân thì chỉ làm rõ thêm một số
vấn đề về thân thế và sự nghiệp tác giả; nêu thêm mấy nghi vấn về Thái ất thần kinh, Thái
Huyền, kinh Dịch, sấm ký Trạng Trình; những ý kiến sơ lược của tác giả về xã hội thời
Nguyễn Bỉnh Khiêm và những lời bình ngắn lướt qua về nội dung-nghệ thuật một vài bài
thơ.
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu có giá trị khác viết về Nguyễn Bỉnh
Khiêm của Bùi Duy Tân, Bùi Văn Nguyên, Mai Cao Chương, Mai Quốc Liên, Vũ Tiến
Quỳnh, Vũ Tiến Phúc, Trần Lê Sáng, Vân Trình… Mỗi một tác giả nhìn nhận về Nguyễn
Bỉnh Khiêm ở góc độ khác nhau, mỗi một lời bình khá lí thú và hấp dẫn đã mở ra rất nhiều
vấn đề mới. Dù những bài viết đó có mang tính chủ quan hay khách quan hoặc chưa đi sâu
vào một khía cạnh nhưng đều tập trung vào vấn đề chính: tư tưởng và tình cảm của Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Chính những nhận định khá sắc sảo của các nhà nghiên cứu đi trước và được
nêu sau đây sẽ làm nền vững c
hắc để cho luận văn này ra đời :
Mai Quốc Liên khẳng định: “ ….Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như Giang, Hán trong
các sông, như ánh mặt trời thu, cây đại thụ của đạo đức, văn chương thế kỷ XVII”. (Nguyễn
Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc)
Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh ch
o rằng : “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản
lĩnh, một trí giả. Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái
vụng, cái chuyết mà theo quan niệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo
Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật Chính quan niệm
nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó
chúng tôi tiếp tục đi vào nghiên cứu sâu hơn quan niệm nhân sinh trong thơ của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, hướng tới một số vấn đề sau:
1. Đi vào nghiên cứu thời đại và tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu cơ sở
khách quan, chủ quan của việc hình thành quan niệm nhân sinh.
2. Khảo sát thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu quan niệm
nhâ
n sinh của ông thể hiện như thế nào? Tìm hiểu quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong sự đối sánh với tư tưởng các nhà thơ khác.
3. Nhận xét ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp lịch sử-xã hội
Phương pháp Mác-xít khẳng định mối quan hệ giữa văn học và xã hội, giữa văn học
và thời đại, giữa cá nhân và thời đại. Vì vậy, người viết đặt tác giả vào bối cảnh lịch sử-xã
hội thế kỷ XV-XVI để nghiên cứu. Tham khảo những tài liệu có độ chính xác cao, có sự
đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình qua quá trình tiếp nhận. Nhưng xin mạn phép
là không tham dự vào cuộc tranh luận để phân định
ai đúng ai sai mà chỉ đưa ra ý kiến cá nhân để chia sẻ cách hiểu riêng về một tác gia.
4.2. Phương pháp hệ thống
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quan đối với vấn đề
đang nghiên cứu. ở đây, quan niệm
nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được biểu
hiện cụ thể qua cuộc đời, tư tưởng, cách sống và tình cảm trước hiện thực khách quan.
Người viết sẽ sưu tầm những tài liệu có liên quan và sắp xếp có hệ thống khoa học. Phân
loại thơ theo từng đề tài nhằm thể hiện cụ thể quan niệm nhân sinh của tác giả.
4.3. Phương pháp đối chiếu so sánh
Sử dụng phương phá
p này để khẳng định rằng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự tiếp
vào tập Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khá
nh biên soạn và Tuyển dịch Bạch
Vân am thi tập của Nguyễn Khuê.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Từ hệ qui chiếu lấy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc làm chuẩn, chúng tôi soi
vào những tác phẩm thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu sâu hơn quan niệm nhân
sinh của ông như một giá trị văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam. Đồng thời đóng góp
thêm một số ý kiến về ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂNLuận văn chia làm 3 phần :
7.1. Mở đầu
7.2. Nội dung : có 2 chương. Bao gồm:
Chương 1: Những tiền đề của quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Chương 2: Các khía cạnh của quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
7.3. Kết luận
CHƯƠNG MỘT
NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG THƠ
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Như Tô xây ngôi điện một trăm nóc và Cửu trùng đài trong nhiều năm liền). Trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cũng viết: “…nhà vua…ăn chơi vô độ, xây cất
nhiều cung điện, khiến cho dân oán, giặc dã nổi khắp nơi, gây nên thảm họa nguy
vong…”[7, tr.45]. Sứ thần nhà Minh là Phạm Hy Tàng gọi là Trư vương, loạn vong không
lâu nữa sẽ tới.
Ứng với lời tiên đoán đó, giặc giã nổi lên khắp nơi, chia bè kết phái đóng ở từng vùng:
năm 1511, tại Kinh Bắc có Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng khởi binh ở huyện Đông Ngạn,
Gia Lâm; vùng Sơn Tây có Trần Tuân dấy binh chiếm cứ Hưng Hóa; năm 1512 Lê Hy,
Trịnh Hưng và Lê Minh Triết nổi quân ở Nghệ An; năm 1515 nổi lên ở Tam Đảo có Phùng
Chương, Đặng Hân, Đặng Ngật ở Ngọc Sơn; năm
1516 Trần Công Minh nổi dậy ở huyện
Yên Lãng; Trịnh Ân và Lê ất ở Thanh Hóa…. Đặc biệt đội quân của Trần Cảo rất hùng
mạnh. Trần Cảo tự xưng là Đế Thích giáng sinh tiến chiếm Hải Dương, Đông Triều, Bồ Đề.
Quân triều đình nhiều lần đi đánh mà vẫn không diệt được.
Năm 1516, Trịnh Duy Sản cùng với Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm mượn cớ đi đánh
Trần Cảo, kéo quân vào cung bắt giết Lê Tương Dực, cùng với triều đìn
h lập con Mục ý
Vương là Quang Trị mới 8 tuổi lên ngôi. Nhưng Quang Trị làm vua mới được 3 ngày lại bị
Trịnh Duy Đại giết ở Tây Kinh. Sau đó, Trịnh Duy Sản lập con Cẩm Giang vương là ỷ lên
làm vua, tức là Lê Chiêu Tông (niên hiệu Quang Thiệu 1516-1522) rồi rước vua vào Tây
Kinh. Lợi dụng sự rối loạn trong triều, Trần Cảo đem
quân về chiếm Đông Đô, tự lên ngôi
hoàng đế niên hiệu Thiên ứng. Triều đình cử Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy
và Trần Chân tiến đánh Đông Đô. Trần Cảo yếu thế bỏ chạy lên Lạng Nguyên. Trịnh Duy
Sản kéo quân truy đánh và bị giặc giết. Do thế lực yếu, Trần Cảo chạy lên đóng quân ở
Lạng Sơn rồi sau đó ở Bồ Đề. The
o Trần Xuân Sinh trong Việt Sử kỷ yếu thì Trần Cảo
“Thấy sự nghiệp không thành, giao binh quyền cho con là Trần Thăng (có sách chép là Trần
Cung) rồi cắt tóc đi tu”[48, tr.290]. Nghĩa quân dần dần tan rã. Trong thời gian này, chẳng
những chiếc ngai vàng đã bao lần thay ngôi đổi chủ mà mâu thuẫn trong nội bộ phong kiến
bắt. Sau đó Mạc Đăng Dung sai Bùi Khê bá Phạm Kim Bảng giết chết. Dòng họ nhà Lê
tưởng chừng đứt đoạn từ đây.
Mãi đến năm 1533, cơ nghiệp triều Lê Trung hưng nhờ công thần Nguyễn Kim.
Nguyễn Kim cùng Lý quốc công Trịnh Duy Thoan, Phúc Hưng hầu Trịnh Duy Duyệt…đưa
con trai Lê Chiêu Tông từ Ai Lao về tên là Duy Ninh lên ngôi tức Lê Trang Tông (niên
hiệu Nguyên Hòa 1533-1548), đóng ở Sầm Châu. Anh hùng hào kiệt khắp nơi tìm đến quy
phục rất đông,
thanh thế càng ngày càng lớn, tạo thế đối đầu với nhà Mạc. Lê Trung Tông
kế vị (tên Huyên, niên hiệu Thuận Bình 1549-1556). Dưới sự phò tá đắc lực của Lương
quốc công Trịnh Kiểm, đất đai nhà Lê càng lúc càng được mở rộng, nhiều danh sĩ ra giúp
sức như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh….Lê Trung Tông qua đời, Thái quốc công
Trịnh Kiểm nghinh lập cháu huyền tôn của Lê Trừ (anh Lê Thái Tổ) là Lê Duy Bang lên
ngôi tức Lê Anh Tông (niên hiệu Thiê
n Hựu, Chánh Trị, Hồng Phúc). Vì là cháu họ xa với
các vua Lê tiền triều, lại không nắm được binh quyền cho nên nhà Lê chỉ có hư vị.
Nhìn lại lịch sử triều Lê, có thể nhận thấy triều đại nhà Lê bắt đầu khởi nghiệp từ vị anh
hùng Lê Lợi tức Lê Thái Tổ và kết thúc bằng sự sụp đổ ngai vàng của Lê Cung Hoàng (tuy
sau đó cơ nghiệp triều Lê có trung hưng nhưng thực quyền không có). Nhà Lê trị vì thiên hạ
đư
ợc gần 100 năm (1428-1527), truyền được 10 đời vua. Trong vòng 100 năm, đất nước
Đại Việt trải qua biết bao thăng trầm. Lê Thái Tổ đã từng dấy binh đánh đuổi quân Minh,
khôi phục xã tắc giang sơn, khiến: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp
chốn”(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi). Lê Thái Tông thì được xưng tụng là một vị lương
chúa, biết trọng dụng nhân tài. Lê Nhân Tông thì yêu thương dân, trọng người hiền. Lê
Thánh Tông là một đấng m
inh quân, văn tài võ lược. Đời Hồng Đức là thời kỳ cực thịnh của
triều Lê, là thời kỳ mà bờ cõi đất nước được mở rộng. Còn vua Lê Hiến Tông thì rất thông
minh, ham chuộng văn học, quan tâm đến cuộc sống nhân dân. Cảnh thái bình thịnh trị, vua
hiền tôi trung chấm dứt khi xuất hiện vua Quỷ, vua Lợn. Vua hoang dâm, vô đạo; quan
tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau. Đạo đức suy đồi. Dân chúng khổ ải, lòng người
“chỉ thích du hí, lúc ở nhà thì đam mê con hát, đi ra thì tìm thú chọi gà”(Lịch triều hiến
chương loại chí-Phan Huy Chú)[7, tr.68]. Năm 1532, một cựu thần nhà Lê là An Thanh hầu
Nguyễn Kim lập Duy Ninh con Chiêu Tông lên ngôi, tức Trang Tông, rồi khởi quân về
Nghệ An đánh chiếm Tây Đô năm 1543. Đất nước bấy giờ chia làm hai: Nam và Bắc triều
từ Thanh Hóa trở và
o thuộc nhà Lê gọi là Nam triều; từ Sơn Nam trở ra gọi là Bắc triều
thuộc nhà Mạc. Hai phe đánh nhau triền miên nhiều năm liền. Đến triều Mạc Phúc Nguyên
(niên hiệu Vĩnh Định 1546), lợi dụng chúa còn nhỏ tuổi, bọn quyền thần trong triều thao
túng, mọi quyền hành rơi vào tay là Khiêm vương Kính Điển. Vì vậy, Thái tể Lê Bá Ly đem
một vạn tư quân phối hợp cùng với Thượng thư Đô Ngự sử Nguyễn Thiếp đầu hàng tập
đoàn Lê-Trịnh, khiến Phúc Nguyên phải rời bỏ kinh thành, sau đó bị bệnh chết. Năm 1592,
Trịnh Tùng chiếm thành Thăng Long, bắt giết Mạc Mậu Hợp (niên hiệu Thuần Phúc), rước
vua Lê về Đông Đô. Cuộc nội chiến chấm dứt chưa được bao lâu thì lại xảy ra sự phâ
n tranh
Trịnh- Nguyễn. Một lần nữa, đất nước bị chia cắt thành hai miền Đàng Ngoài- Đàng Trong .
Từ khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê (1527) cho đến khi Mạc Mậu Hợp bị giết là
gần 66 năm. Khách quan mà nói trong thời điểm này triều Mạc có xây dựng được một trật
tự xã hội ổn định, có kỷ cương và pháp luật nghiêm minh. Và chính Mạc Đăng Dung là
người đã có công trong việc thiết lập một triều đại mới khi triều đại cũ đã suy vong và liên
tục củng cố lực lượng để bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, phải nhìn nhận rằng nhà Mạc có
đưa ra nhiều chính sách có ý nghĩa tiến bộ nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tranh thủ sự ủng
hộ của các cựu thần nhà Lê và nhân dân như khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp (hình thành chế độ cấp phát
ruộng đất hợp lý, đúc tiền đồng, tiền sắt;
nghệ thuật điêu khắc, đồ gốm; mở rộng buôn bán với Nhật Bản, Triều Tiên…), quan tâm
đến giáo dục và việc trọng dụng, đào tạo nhân tài cho đất nước (xây trường, tổ chức các kỳ
thi…), nhiều nhân vật kiệt xuất có tâm huyết với đời lần lượt xuất hiện như Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Thiến, Nguyễn Q
uyện, Giáp Hải….
tội phản quốc.[78, tr.44]
Trong bài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa thế kỉ XVI, tác giả
Trần Quốc Vượng có lời bình sắc sảo và thú vị: “Tất cả những ứng xử của
nhà Mạc với
Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ với Hoa lớn
“thần phục giả vờ, độc lập thật sự”.[59, tr.78]
Chính nhờ việc nhìn nhận lại mặt tích cực của triều Mạc của các nhà nghiên cứu mà
người viết mới có cơ sở để phân tích quan niệm xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là
một người cẩn thận, s
uy xét sâu sắc thế sự, cho nên không thể là người hời hợt đi phụng sự
cho một triều đại mang tiếng cướp ngôi.
1.1.2. Về xã hội
Do chiến tranh xảy ra liên miên trong vòng một thế kỷ giữa các tập đoàn phong
kiến đã ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Bọn quan lại và địa chủ địa
phương ra sức nhũng nhiễu bóc lột dân lành. Còn nhân dân thì sống trong cảnh lầm than,
khốn khổ chẳng những vì chiến loạn mà còn vì nạn đê vỡ, hạn hán hàng năm, trộm cướp,
phiến loạn, thuế má tăng cao. Tuy thời Mạc Đăng D
ung, xã hội có bình ổn một thời gian, có
kỷ cương và pháp luật nhưng dấu tích chiến tranh vẫn ám ảnh trong lòng người thời đó. Đến
khi hai thế lực Nam triều-Bắc triều được hình thành thì cuộc chiến tranh bùng nổ trên một
vùng đất đai rộng lớn từ Thăng Long đến Quảng Bình. Chết chóc, chia lìa, đau thương, đói
kém hiện diện trong đời sống nhân dân trong khoảng thời gian khá
dài, khiến lòng người lo
lắng khôn nguôi.
1.1.3 Về kinh tế
Nông nghiệp càng lúc càng suy kém vì đất đai bị tàn phá trong chiến tranh, vả lại
phong Chinh phu nhân. Ông
ngoại là Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan. Phụ thân là Văn Định, hiệu Cù Xuyên tiên sinh,
học rộng đức cao, được phong Thái bảo Nghiêm quận công, được sung chức Thái học sinh.
Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân. Bà thông kinh sử, giỏi văn chương, tinh
thông thuật số. Chính dòng dõi gia đình và sự giáo dục của người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc
đến sự phát triển toàn diện trong nhân cách của Nguyễn Bỉnh K
hiêm. Bỉnh Khiêm sinh ra
thông minh, từ nhỏ được mẹ dạy chính văn trong kinh truyện, thơ quốc âm. Trong bài tựa
tập thơ chữ Hán Bạch Vân Am thi tập, tác giả đã khẳng định cuộc đời của ông chịu ảnh
hưởng về sự giáo dục rất lớn của gia đình, ông cho biết: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia
đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật….”. Lớn lê
n, theo học Bảng
nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng-một học giả uyên bác và khí tiết thanh cao. Vào năm 7
tuổi, Bỉnh Khiêm đã phải sống với cha vì mẹ bỏ ra đi do bất đồng trong việc dạy dỗ con cái.
Từ trước đến nay, có thể nói, chưa có một tác giả nào bị lịch sử tác động mạnh mẽ đến tư
tưởng, quan niệm như Nguyễn Bỉnh K
hiêm. Cho nên, dựa vào các cột mốc lịch sử và những
hoạt động, có thể chia cuộc đời của nhà thơ làm ba chặng:
Chặng thứ nhất tính từ thời niên thiếu đến năm 1534. Ngay từ tuổi ấu thơ, Bỉnh
Khiêm được mẹ nuôi dạy, chăm sóc cẩn thận về cả thể lực và trí lực. Đến tuổi trưởng thành,
Nguyễn Bỉnh Khiêm được học với quan hưu trí Hộ bộ Thượng thư Dương Đức Nhan và trở
thành con rể của ông. Sau đó, Bỉnh Khiêm “nghe tiếng cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng là
bậc văn chương cái thế, bèn lặn lội tìm đến học”(Phả kí). Đây là khoảng thời gian mà từ
trong triều đến ngoài xã hội có nhiều biến động, “Nội chiến phi nghĩa làm cho hao người,
tốn của, sưu cao, thuế nặng; rồi cướp bóc, chém giết,….v.v….” (Văn học Việt Nam từ đầu
thế kỷ X đến đầu thế kỷ XVIII - Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương).[21,
tr.358]
Trong
khoảng thời gian 1523 và 1526, triều Lê Tương Dực có mở khoa thi nhưng
chức Đông Các Đại học sĩ. Như vậy, con đường khoa hoạn của tác giả không có gì trắc trở
thậm chí còn quá thuận lợi. Làm quan được 8 năm, ông từng dâng sớ chém đầu 18 nịnh thần
nhưng vua Mạc không thuận. Tiếp đó, lấy cớ con rể Phạm Dao cậy thế cậy quyền làm
nhiều
điều bất nghĩa, ông thác bệnh xin về trí sĩ vào thời Mạc Phúc Hải (1543). Trong bài Trung
Tân quán bi ký, ông cũng có viết: “Mùa thu năm Nhâm dần, ta bỏ quan chức về nghỉ ở quê
nhà, mời các cụ già đi dạo chơi ở bến giữa (Trung Tân)”.
Chặng thứ ba tính từ năm 1543 đến 1585. Trong thời gian ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm
dựng am Bạch Vân, bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân, tu bổ chùa chiền, dựng
một ngôi quán gọi là Trung Tân trên bến Tuyết Giang, được học trò xưng tôn là Tuyết
Giang phu tử. Ông có dựng bia cạnh quá
n và soạn bài văn khắc vào bia đá để khuyên nhủ
người đời nên làm điều thiện. Dựa theo bài Phả ký, trong Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề
cho rằng tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn cư dạy học nhưng với tài đức cao vời vợi của Trạng
Trình, vua Mạc vẫn lấy “sư lễ” đãi ông. N
hững khi nhà nước có việc gì quan trọng, triều
đình đều sai sứ đến hỏi, có khi triệu ông về kinh “thung dung trù liệu kế hoạch, rồi lại trở về
am, chứ không ở lại”. Bên cạnh đó, cả những người phù Lê cũng luôn tôn trọng, vị nể
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau 2 năm, Mạc Phúc Hải gia phong cho ông tước Trình Tuyền hầu
(Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết học của họ Trì
nh). Người đời thường gọi ông là Trạng
Trình.
Với một tấm lòng nhân đạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn luôn mong muốn đất nước được
thịnh vượng, thái bình. Với sự uyên thâm vốn có, ông nhận thấy vận mệnh của đất nước
trong hoàn cảnh bi đát này không thể trao vào tay bất kỳ một lực lượng chính trị nào. Bởi vì,
lúc bấy giờ các tập đoàn phong kiến huyết chiến với nhau chỉ vì m
uốn tranh giành quyền
lực. Vì vậy, tương truyền, để tránh những cuộc binh đao khói lửa lan tràn đến cuộc sống của
nhân dân, ông đều bày cho các phe phái những phương sách khác nhau để giữ thế “chân
vạc”. Chẳng hạn, năm 1568, Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hãm
Tây nữa rồi mới “ quy lão” năm 73 tuổi (1563):
“Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba,
Treo xe hơi muộn, cũng nên thẹn.
Vốn tự hẹn đua ba
y với người ta, than ôi không đủ sức
Không cần sang hèn đâu phải là tham….”
(Về hưu gửi cho quan Thượng thư Bộ lại Kế Khê Bá)
Dựa vào bài thơ Quá Hữu Giang (bài 3), tác giả Vũ Đức Phúc cho rằng có thể Nguyễn Bỉnh
Khiêm về hưu năm 1541, nhưng sau đó lại ra làm quan và đến khi Phạm Dao cậy quyền càn
quấy, ông chán nản xin về trí sĩ. Nhưng sau đó lại “tòng nhung” hai lần dẹp loạn:
“ Tuổi ngoài sáu chục gắng gượng theo quân,
Hai dịp qua đây
, đóng lại ở núi này.”
Còn hơn hai chục bài thơ nói về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm hộ giá nhà vua đi dẹp loạn.
Trong bài Qua sông Hữu (bài một, bài hai, bài bốn, bài sáu), ông đã thừa nhận tạm rời cái
thú điền viên để bước lại con đường quan trường tham gia chiến trận giúp vua cứu nước
thoát cảnh binh đao:
“Nho quan tạm khước ủng du chàng
Lưỡng độ trùng l
ai quá thử giang.”
(Quá Hữu giang-nhất)
Đôi lúc nâng chén ruợu nhàn nhìn bóng trời chiều, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhớ lại những ngày
tòng chinh đi Qua sông Hữu “trợ sức cho quân nhà vua” (bài 2), cùng lo với nỗi lo “tìm một
vị tướng nhân đức” của vua Mạc (bài 4), cùng bày mưu tính kế và vui với nỗi vui mừng
chiến thắng của chư tướng (bài 6). Trong buổi loạn ly gửi Nguyễn Cảo Xuyên (Nguyễn
Thiến, trọng thần nhà Mạc, cha của Nguyễn Quyện), người bạn c
ùng chung chí hướng đã
từng cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm hộ giá vua Mạc đánh Tuyên Quang, ông có tâm sự:
“Xét mình giúp vua trẻ còn giữ được nghĩa,
m chiếc lọng hoa.”
(Vâng mệnh đi theo quân qua sông Thao
-họa theo vần của Khánh Khê hầu)
Bên cạnh đó, còn một vài bài thơ chứng tỏ việc tham gia chiến trận của Nguyễn Bỉnh
Khiêm như : Qua nơi đóng doanh trại ở Qui Hóa; Đóng doanh trại ở Liệt Khê, Qua Châu
Văn Bàn thuộc trấn Hưng Hóa:
“Sườn núi vòng vèo, đường đi mấy dặm
Vâng mệnh đi dẹp yên bọn giặc hãy coi trọng chuyến đi này.”
Cuối cùng, điểm dừng t
hật sự của cuộc hành trình giúp triều đình nhà Mạc là:
“Tuổi đời đã quá bảy mươi tư
Mừng được về nhàn, thăm chốn xưa.”
(Đầu năm cảm xúc làm thơ)
Đến ngày 28 tháng 11 năm Diên Thành thứ 8 (1585) Nguyễn Bỉnh Khiêm mất hưởng
thọ 95 tuổi. Mạc Mậu Hợp sai Mạc Kính Điển đến dự tế, truy phong Thượng thư bộ Lại,
Thái phó Trình quốc công và tặng mấy c
hữ trước cửa đền thờ : “ Mạc triều Trạng nguyên
Tể tướng từ”
1.
2.2. Sự nghiệp văn chương
Tuy Tuyết Giang phu tử có nói: “…rất làvụng về trong nghề thơ. Tuy nhiên, cái
bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy, mỗi khi được thư thả lại dậy hứng
mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa
trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thay thảy đều ghi lại thành thơ
nói về chí, đư
ợc tất cả một nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là tập thơ Am Bạch
Vân”(Bài tựa tập thơ Am Bạch Vân) nhưng khi nghiên cứu thơ văn của ông, người viết nhận
thấy sự nghiệp văn chương của Trạng Trình chính là tấm gương sáng về quá trình lao động
sáng tạo không ngừng. Tác giả để lại cho đời một núi thơ vĩ đại chứa đựng nhiều tư tưởng
tấc lòng ưu ái cũ. Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông” (Tự thuật-5) thì Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng trải tấm lòng son với khói mây, với nhật nguyệt:
“Lồng cửa động, vân yên cách,
Giải lòng đan, nhật nguyệt thâu.”
(Thơ Nôm, bài 54)
Mấy ai hiểu được tấm
lòng sáng trong, cao vời như trăng, như núi của nhà thơ:
“ Có ai biết được lòng tri kỷ?
Vòi vọi non cao, nguyệt một vừng.”
(Thơ Nôm, bài 6)
Đồng cảm với lòng yêu nước, yêu dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi đọc Thơ Nôm, bài 1
của ông, Thomas Engelbert có lời nhận định: “…Đó là nỗi lo đau đáu chân thành vì Tổ
Quốc, lo cho sự gì
n giữ đạo lý, giống nòi trong một thời kỳ các cuộc chiến tranh phong kiến
xảy ra triền miên cùng với những biến động xã hội lớn lao”(Giúp nước giúp dân)[60,
tr.657]. Thomas Engelbert cảm nhận một cách rất giản dị cái tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm
đối với dân, với nước:
“Thông cảm với người dân, yêu thương đất nước,
Trong trắng như ánh trăng lung linh soi trên mặt hồ,
Niềm vinh quang và danh dự: lâng lâng như đóa hoa, phất phơ trong gió”
Vì tấm
lòng son với nước với dân mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lên đường ứng thí đầu
quân nhà Mạc dù “Chẳng quản ai chê, chẳng quản khen”(Thơ Nôm, bài 128). Ông tự an ủi:
“Vốn học vấn chưa đủ thỏa lòng tin mong của kẻ sĩ. Chỉ có cái hư danh, chuốc lấy sự cười
chê của người đời”(Lý cư giản chư đồng chí). Và có thể nói chính niềm ưu quốc ưu thời là
thứ tâm bệnh nan y khiến ông chẳng những hao gầy về thể xác mà còn thương tổn về tinh
thần:
“…Tuổi đời của ta nay đã sáu mươi,
Già đến, lại cùng bệnh tật hẹn hò nhau.
Tiếc xuân, gượng khuyên mời vài chén rượu
việc dân.…Dồn lại đến c
ùng, vẫn là tấm lòng lo cho dân khỏi cảnh điêu linh khốn khổ, có
được cuộc sống sung túc, yên vui.”(Sự an lạc của nhân dân, điểm hội tụ của thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm).[79, tr.284]. Dân và nước đã truyền sức mạnh cho Nguyễn Bỉnh
Khiêm, giúp ông có đủ dũng khí để dâng sớ chém đầu bọn loạn thần mà không sợ nguy hại
đến bản thân. Và khi từ bỏ công danh lợi lộc, vui với cảnh quê nhà, trí sĩ vẫn không thể nào
quên hai chữ “ưu ái”. Đó chính là tấc lòng, là tâm huyết suốt đời của ông:
“Ưu ái chẳng quên niềm trước
Thị phi biếng nói sự nay.”
(Thơ Nôm, bài 70)
Chính vì vậy, dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, chốn an nhàn hay chốn xôn xao, đeo đai
vàng, đội mũ nho hay sống tự tại. Dù đang ở và
o vị trí “xuất” hay “xử”, tấm lòng “trung
cần” của nhà thơ cũng không bao giờ phai lạt:
“Chẳng hết “trung cần” hai chữ ấy
Nhờ ơn đất rộng, cậy trời cao.”
(Thơ Nôm, bài 83)
Tấm lòng “trung cần” hay “trung hiếu” là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta. Nó thấm nhuần trong tư tưởng, tình cảm của các nho sĩ và trụ lại trong t
âm như một bức
tường thành vững chắc. Tác giả Huỳnh Hữu Bát cho rằng trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm “có sự đồng nhất giữa vua với nước, giữa chế độ phong kiến với lịch sử dân tộc”.
Điều này là lẽ đương nhiên trong một xã hội còn tồn tại cái nghĩa quân thần. Nói đến nước
là nói đến vua, nói đến sự hưng thịnh ha
y suy vong của một triều đại là gắn với vận mệnh
của một dân tộc. Rõ ràng, tư tưởng yêu nước, thương dân của ông vẫn không thể thoát khỏi
ý thức hệ phong kiến. Trong ông, học thuyết Khổng Mạnh vẫn tồn tại mạnh mẽ:
“No lòng ấm cật, ơn nhà chúa
Tiết ngọc gan vàng, giữ phận tôi”
(Thơ Nôm, bài 97)
đức”(Thương cảnh loạn ly) là tiêu chí của những người có chủ trương “nhập thế hành đạo”.
“Lấy lòng nhân mà đánh kẻ bất nhâ
n”(Thương cảnh loạn ly) là mục đích chiến đấu vì đại
nghĩa của những đấng trượng phu. Tiêu chí đó cũng là phương châm sống của Nguyễn Trãi:
“Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược; Có nhân, có trí, có anh hùng”. Cho nên, cuộc chiến nào
mang tính chất chính nghĩa, đội quân nào vì dân mà tiểu trừ bạo tặc thì tất sẽ chiến thắng, vị
vua nào biết chăm lo đời sống của dân thì sẽ giữ vững được triều đại. Bởi “Xưa na
y nước
phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân!”(Cảm
hứng), bởi “Xưa nay nhân giả là vô địch”(Hữu cảm):
“Quân nhà vua biết là tất thắng,
Cứu cho dân điêu đứng bệnh hoạn này
Thì là bước lên cõi nhân cõi thọ.”
(Thương cảnh loạn ly)
Cũng chính vì có một “Tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi”(Tự thuật), cho
nên, tuy là nhà N
ho, trung thành với thuyết “Tam cương ngũ thường” nhưng Nguyễn Bỉnh
Khiêm không cố chấp, câu nệ trong quan niệm xuất xử. Ông nghĩ rằng người quân tử sống
trên đời phải biết chọn lựa cho mình một lối đi riêng. Trên con đường lập sự nghiệp công
danh, người quân tử sẽ đứng trước hai con đường “xuất” và “xử”. Con đường nào cũng
qua
n trọng đối với người có lý tưởng nhưng chỉ được chọn một mà thôi. Khi lao mình vào
chốn quan trường thì phải cố giữ mình, giữ đạo đức, phải dốc lòng vì vua, vì nước, vì dân.
Khi đã quyết chí lui về ở ẩn thì không nên ghen ghét, quan tâm gì đến những người còn ở lại
chốn đua chen:
“Quân tử gẫm hay nơi xuất xử,
Ắt là khôn hết cả hòa hai.”
(Thơ Nôm, bài 39)
Khảo sát chặng đường hoạt động từ thời niên thiếu đến năm 1534, ta thấy đây là khoảng
thời gian Nguyễn Bỉnh Khiêm không tham gia vào thời cuộc nhưng vẫn không đứng ở vị
(Thơ Nôm, bài 12)
Tuy nhiên, con đường xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy nhất quán về tình cảm yêu
nước, thương dân nhưng đầy phức tạp do hoàn cảnh chính trị xã hội đương thời. Thử nghĩ,
khi nhà Lê còn tại vị nhưng bạc nhược thì liệu một con người có tâm huyết với đời, luôn
giương cao ngọn cờ nhân nghĩa như Tuyết Giang phu tử có nên “xuất” để giúp vua Lê giữ
vững cơ đồ hay không? Vả lại, vua hôn muội, quanh vua toàn là kẻ xu nịnh thì kẻ bầy tôi dù
có tài đến đâu, dù có đức đến mấy cũng không thể giữ được nước. Những bài học về “Quân
m
inh thần lương” trong Tam Quốc chí còn đó. Gia Cát Lượng Khổng Minh tuy có tài quán
thông vũ trụ, am tường binh pháp, dụng binh như thần, người đời nể phục, kẻ thù kiêng sợ
nhưng vị quốc sư nhà Hán đành bất lực vì gặp phải tên vua bạc nhược, hôn muội Lưu Thiện.
Vị hiền tài nhắm mắt lìa trần m
à lòng luôn trăn trở, những “Mong sao Vận Hán dần xoay
chuyển” để đất nước mãi mãi thanh bình.
Luận về chuyện xứ người, nghĩ lại chuyện xứ ta, khi Mạc Đăng Dung thay đổi lịch sử,
thay đổi luôn cả những chính sách giúp an dân, lợi nước, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn ẩn
nhẫn chờ thời. Có lẽ ông nghĩ rằng người thực sự có tài chẳng khác nào như và
ng mười, cần
chi vội vã, cần chi cầu danh. Vả chăng, trong quan niệm “xuất” của ông là mong muốn tìm
một vị vua anh minh. “Quân minh thần lương” là ước vọng không chỉ của riêng ông mà còn
là niềm mơ ước của bao nhiêu người, trong đó có Nguyễn Trãi : “Vua Nghiêu Thuấn, dân
Nghiêu Thuấn. Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền” (Tự thán, 4). Như vậy, “tiệc ngọc, mâm son”
bày ra trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đang trông ngóng hiền tài. “Gươm trời, búa nguyệt”
chờ đó để trao vào ta
y người có chí. Cách nói của nhà thơ vừa cụ thể mà cũng vừa ẩn ý:
“…Tiệc ngọc còn chờ người quý giá,
Mâm son hãy đợi khách cao tài.
Gươm trời nỡ để tay phàm tuốt,
Búa nguyệt chi cho đứa độc mài.
Ơn nghiêm liệt soi thăm thẳm,