Mục lục
Mục lục 1
1.1 Khái niệm 3
1.2 Đặc điểm cơ bản: 3
1.3 Đặc trưng: 4
1.4 Phân loại trái phiếu: 4
Chương II Thị trường trái phiếu công ty 8
2.2 Phát hành trái phiếu quốc tế của các công ty 11
Chương III Đánh giá và giải pháp 13
3.1. Nhận định đánh giá về thị trường trái phiếu Việt Nam 13
3.1.1. Thành tựu 13
3.1.2. Hạn chế 14
3.1.3. Nguyên nhân: 14
3.2.Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam 16
3.2.1. Hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP 16
3.2.2. Phát triển thị trường TPDN 18
3.2.3 Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư 19
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự phát triển của thị trường TPCP và TPDN 20
3.2.6. Thu hút nhà đầu tư nước ngoài: 21
Kết luận 21
Tài liệu tham khảo 22
1
LỜI MỞ ĐẦU
TPDN là một sản phẩm đầu tư đã phát triển rất mạnh tại các thị trường tài chính tiên tiến
trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Singapore, Hồng Kông và chất lượng giao dịch cũng như quy mô
lớn gấp nhiều lần so với thị trường chứng khoán.
Tại Việt Nam, thị trường TPDN mới bắt đầu phát triển mạnh vài năm trở lại đây. Trước đây
thì thị trường này chủ yếu dành cho trái phiếu chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng
càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp tư nhân bắt đầu có nhu cầu sử dụng công cụ huy động vốn
này.
Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất
TNHH.
- Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể
phát hành trái phiếu. Khác với người mua cổ phiếu là người chủ sở hữu công ty.
- Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết quả sản
xuất kinh doanh của công ty.
3
- Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước hết
Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu trước, sau đó mới chia cho các
cổ đông.
Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ
phiếu. Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng.
1.3 Đặc trưng:
- Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi trên trái
phiếu. Giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi
tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành
phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
- Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát
hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần
trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
- Thời hạn của trái phiếu là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành
hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời gian từ
1 năm đến 5 năm. Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở lên.
- Kỳ trả lãi là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu. Lãi
suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất trái phiếu thường
được mỗi năm hai hoặc một lần.
- Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường giá phát
hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Tùy theo tình hình của thị
trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp. Có thể phân
biệt 3 trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới mệnh giá
(giá chiết khấu) và giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng).
+ Trái phiếu có tài sản cầm cố là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố
một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn
tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
+ Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc
người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu
để làm tài sản bảo đảm.
- Trái phiếu không bảo đảm là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm
mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.
• Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
5
- Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ sách của
người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
- Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách của người
phát hành.
• Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu
- Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền
chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ
khi mua trái phiếu.
- Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ
được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.
- Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại
một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán
1.5 Cách thức phát hành
Hiện tại, một số văn bản luật quy định về phát hành trái phiếu công ty như:
- Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 – Phát hành Trái phiếu doanh nghiệp.
- Thông tư 211/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 - Hướng dẫn Nghị định 90/2011/NĐ-CP.
- Thông tư số 17/2013/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc phát hành
trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh.
Nguyên tắc phát hành trái phiếu
- Tự vay, tự trả và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn;
- Báo cáo kết quả phát hành: chậm nhất 15 ngày sau khi hoàn tất đợt phát hành báo cáo cho
cơ quan thẩm quyền, BTC;
- Báo cáo tình hình thanh toán lãi, vốn gốc đến khi đáo hạn: chậm nhất 30 ngày sau khi kết
thúc quý II và năm;
- Báo cáo sau khi đến hạn thanh toán vốn gốc + lãi: chậm nhất 15 ngày sau khi đến hạn
thanh toán vốn gốc + lãi;
7
Chương II Thị trường trái phiếu công ty
2.1 Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Cùng với việc thiếu đa dạng về sản phẩm, sự lệch pha giữa các thị trường với nhau
cũng rất lớn. Đơn cử, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn rất nhỏ so với quy mô của thị
trường cổ phiếu và trái phiếu chính phủ. Tính đến ngày 30/9/2014, quy mô vốn hóa của các
cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX) đạt 1,2 triệu tỷ đồng, tổng giá trị phát hành trái
phiếu chính phủ đạt 790 nghìn tỷ đồng, trong khi tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh
nghiệp chỉ đạt 11,8 nghìn tỷ đồng, bằng 1% vốn hóa thị trường cổ phiếu và bằng 1,5% tổng
giá trị phát hành trái phiếu chính phủ.
Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã phát triển rất mạnh tại các thị
trường tài chính tiên tiến trên thế giới như Mỹ, châu Âu, Singapore, Hồng Kông… cả về
quy mô và tính thanh khoản, thậm chí là cao hơn cả thị trường cổ phiếu. Trong khu vực
Đông Nam Á, thị trường trái phiếu nội tệ của các nước như Malaysia, Thái Lan, Philippines,
Indonesia cũng rất phát triển. Tính đến tháng 9/2014, tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh
nghiệp của các quốc gia trên lần lượt đạt 136 tỷ USD, 69,5 tỷ USD, 16,5 tỷ USD, 18 tỷ
USD, cao hơn nhiều so với con số 0,56 tỷ USD của Việt Nam.
Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam hiện giao dịch khá ảm
đạm, các doanh nghiệp niêm yết muốn phát hành trái phiếu doanh nghiệp thường phải kèm
theo điều kiện chuyển đổi sang cổ phiếu (trái phiếu chuyển đổi) mới có thể hấp dẫn nhà đầu
tư. Tuy nhiên, loại trái phiếu này còn tồn tại nhiều hạn chế, như lãi suất tương đối thấp và
các điều kiện chuyển đổi không phải lúc nào cũng thuận lợi mà còn phụ thuộc vào diễn biến
của thị trường cổ phiếu.
Thực tế, nhu cầu đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp vẫn có, nhưng cái khó là tìm
9
ngoại trừ một vài doanh nghiệp phát hành từ 7,5 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng, các doanh nghiệp
còn lại đều phát hành trái phiếu với quy mô hàng ngàn tỷ đồng.
Thứ ba, xu hướng phát hành trái phiếu chuyển đổi của các doanh nghiệp niêm yết tăng
lên trong năm 2014. Một số thương vụ lớn có thể kể đến như KBC (1.200 tỷ đồng), CII
(1.128 tỷ đồng), NVT (230 tỷ đồng), KSS (100 tỷ đồng), BLF (50 tỷ đồng) Có một số
doanh nghiệp đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu chuyển đổi nhưng chưa thực hiện được
trong năm 2014, như HUT (100 tỷ đồng), TMS (100 tỷ đồng). Hầu hết các thương vụ phát
hành trái phiếu chuyển đổi này đều được thực hiện bằng hình thức phát hành riêng lẻ, với
giá chuyển đổi hấp dẫn có lợi cho người nắm giữ trái phiếu.
2.1.2 Sự cần thiết phải niêm yết trái phiếu doanh nghiệp
Với thực trạng và tồn tại nêu trên, đồng thời áp dụng các kinh nghiệm thực tiễn trên
thế giới, việc đưa trái phiếu doanh nghiệp lên sàn niêm yết là giải pháp tương đối hoàn hảo
cho thị trường, điều này là cấp thiết và cần làm ngay đối với TTCK Việt Nam.
Niêm yết trái phiếu doanh nghiệp sẽ giải quyết được các khuyết tật thị trường về mất
cân xứng thông tin, ngoài các yêu cầu công bố thông tin bắt buộc đối với phát hành trái
phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, việc niêm yết trái phiếu doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện quản lý
và giám sát giữa các thành viên thị trường với nhau thông qua các sở GDCK, hay thậm chí
cả các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Thêm nữa, khi chủ trương đưa trái phiếu doanh nghiệp niêm yết được thông qua, việc
hoàn thiện khung pháp lý, cụ thể như thành lập, tổ chức và hoạt động các chủ thể định mức
tín nhiệm độc lập sẽ sớm được ban hành, tạo điều kiện tiên quyết cho thị trường hoạt động
xuyên suốt và hiệu quả.
Cũng giống như cổ phiếu, việc niêm yết trái phiếu doanh nghiệp sẽ giải được bài toán
khó về thanh khoản. Giao dịch tập trung sẽ giúp các nhà đầu tư tìm đến nhau dễ dàng hơn,
với các quy chuẩn trái phiếu được niêm yết cũng làm tăng nhu cầu gặp nhau giữa họ. Thị
trường thứ cấp cũng từ đó mà phát triển mạnh hơn, tăng niềm tin cho nhà đầu tư, thu hút
thêm vốn từ nền kinh tế.
Ngoài rủi ro thanh khoản, rủi ro thanh toán cũng được hạn chế rất lớn khi trái phiếu
doanh nghiệp được niêm yết. Nhiều thành viên thị trường muốn đầu tư vào trái phiếu doanh
Kế hoạch chuẩn bị từ phía doanh nghiệp
+ Cùng với sự thành công phát hành trái phiếu quốc tế của chính phủ và các yếu tố thuận lợi
đã khiến nhiều doanh nghiệp VN nghĩ đến khả năng huy động vốn trên thị trường quốc tế vì
đây là thời điểm khá thích hợp. Tính đến hiện tại một số doanh nghiệp lớn có tên tuổi của
11
Việt Nam đã phát hành thành công trái phiếu ra quốc tế như Vincom, Hoàng Anh Gia Lai,
Ngân hàng Công thương với số tiền thu được đáng kể và sau khi phát hành được niêm yết
trên các sàn chứng khoán tên tuổi như sàn Singapore, Luân Đôn.
12
Chương III Đánh giá và giải pháp
3.1. Nhận định đánh giá về thị trường trái phiếu Việt Nam
3.1.1. Thành tựu
Thị trường trái phiếu Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhất định.
Hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động của thị trường ngày càng được hoàn thiện, hạ tầng
kỹ thuật, hệ thống giao dịch, lưu ký, giám sát cũng liên tục được thiết lập, cải tiến với mục
tiêu xây dựng một thị trường trái phiếu chuyên biệt và thể hiện được vai trò của mình trên
thị trường vốn.
Quy mô thị trường đã tăng mạnh từ 2,8% GDP (năm 2001) đến 20,14% GDP năm
2010 và lên tới 21,6% GDP vào cuối năm 2012, trong đó trái phiếu chính phủ (TPCP) và
trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh chiếm khoảng 15,7% GDP, trái phiếu doanh nghiệp
(TPDN) chiếm khoảng 5,56% GDP và một phần nhỏ còn lại là trái phiếu chính quyền địa
phương (TPCQĐP).
Với mục tiêu xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu một cách bền vững, đảm
bảo an toàn hệ thống và từng bước tiếp cận các thông lệ, chuẩn mực quốc tế để trở thành
một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế, ngày 01/2/2013, Bộ Tài chính đã
ban hành Quyết định 261/QĐ-BTC phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt
Nam đến năm 2020.
Theo đó: (i) Tăng tỷ trọng dư nợ trái phiếu/GDP từ 18% (năm 2011) lên khoảng 38%
GDP (năm 2020) trong đó dư nợ TPCP đạt khoảng 22% GDP và trái phiếu được Chính phủ
bảo lãnh đạt khoảng 8% GDP, dư nợ TPCQĐP đạt khoảng 1% GDP; và dư nợ TPDN đạt
so với TPCP hay rộng hơn là so với thị trường TPDN của các nước khác. Các nguyên nhân
này đến từ nhiều phía, có thể chia thành 4 nguyên nhân chính:
- Nguồn cung: sản phẩm TPDN trên thị trường chưa nhiều, chủ yếu do các doanh nghiệp
Nhà nước hay tổ chức tín dụng phát hành, tập trung vào 2 loại hình chính là trái phiếu thông
thường và trái phiếu chuyển đổi (với công ty cổ phần); Chưa phát hành thành công trái
phiếu có kỳ hạn dài. Trên thị trường vốn, nguồn vốn ngắn hạn chủ yếu được cung cấp bởi
hệ thống NHTM, trong khi thị trường chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu) sẽ cung cấp nguồn
vốn trung và dài hạn. Theo thống kê trên thị trường quốc tế, kỳ hạn thông thường của trái
phiếu là khoảng 3 - 10 năm, cá biệt có những đợt phát hành với kỳ hạn lên tới 10 - 30 năm.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở Việt Nam cho thấy thị trường trái phiếu chưa thực sự là
kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế mà chủ yếu vẫn là các kỳ hạn ngắn. Mặc dù
14
TPCP và TPDN thường được phát hành với các kỳ hạn từ 2 - 15 năm, song tỷ lệ trúng thầu
cao nhất lại là các trái phiếu có kỳ hạn dưới 5 năm, chiếm khoảng 90% khối lượng phát
hành. Điều này cho thấy các nhà đầu tư trên thị trường hiện nay đa số tập trung vào phân
khúc trái phiếu kỳ hạn ngắn, có thể do lo ngại về bất ổn kinh tế vĩ mô khi vấn đề lạm phát
luôn được đặt lên hàng đầu những năm qua, hoặc do nhà đầu tư chưa coi thị trường trái
phiếu là kênh đầu tư chính. Trái phiếu kỳ hạn 10 năm gần đây đã được Kho bạc Nhà nước
và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đẩy mạnh phát hành nhưng tỷ lệ trúng thầu
không cao do không nhận được sự quan tâm từ phía nhà đầu tư
- Cầu đầu tư:
Cơ sở nhà đầu tư còn thiếu khi nhà đầu tư chủ yếu trên thị trường trái phiếu hiện nay
là các ngân hàng thương mại. Các đợt phát hành trái phiếu cũng thường là phát hành riêng
lẻ cho một số nhà đầu tư, ít khi đấu thầu rộng rãi. Cơ sở nhà đầu tư chưa đa dạng: Khác với
cổ phiếu, nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu đa phần là các nhà đầu tư tổ chức vì khối
lượng trái phiếu đấu thầu và giao dịch có giá trị lớn nên nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư nhỏ
lẻ khó có thể đáp ứng được. Tại các quốc gia phát triển, cơ sở nhà đầu tư luôn được đa dạng
hóa, có sự cân đối giữa các nhóm nhà đầu tư nếu muốn duy trì lực cầu đều đặn trên thị
trường. Các nhà đầu tư chủ chốt trên thị trường trái phiếu thường là các công ty bảo hiểm,
các quỹ đầu tư, NHTM… Với thị trường trái phiếu Việt Nam, đã xuất hiện các nhóm nhà
các công ty bảo hiểm nắm giữ tính đến năm 2012 cũng chỉ khoảng 33.945 tỷ đồng (chiếm
khoảng 5% tổng dư nợ trái phiếu).
Nhóm nhà đầu tư được quan tâm tiếp theo là các quỹ đầu tư. Các quỹ này hiện nắm
giữ khoảng 6 - 7% dư nợ trái phiếu, phân bổ tới những loại hình quỹ khác nhau trong và
ngoài nước. Rào cản lớn nhất ngăn các nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài) tham gia
vào thị trường trái phiếu Việt Nam có lẽ là sự hạn chế về mặt sản phẩm, đặc biệt là sản
phẩm phái sinh liên quan đến tỷ giá.
3.2.Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam
Để đạt được những mục tiêu như Quyết định 261/QĐ-BTC đã đề ra đòi hỏi cần phải
có một chiến lược nhất quán, đồng thời phát triển thị trường sơ cấp cũng như thứ cấp, hệ
thống khuôn khổ pháp lý và các dịch vụ trung gian tài chính nhằm đưa thị trường hướng tới
chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến những vấn đề sau:
3.2.1. Hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP
TPCP đóng vai trò quan trọng trong phát triển thị trường vốn Việt Nam. Tỷ lệ của
TPCP (bao gồm cả TPCP bảo lãnh và TPCQĐP) trên tổng dư nợ trái phiếu của Việt Nam
lên tới 85%, tương đương với thị trường một số nước đang phát triển trong khu vực như
16
Philippines, Indonesia, Thái Lan. Cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu đã được cải tiến và
hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, thúc đẩy quá trình đăng ký, lưu ký, giao dịch
và niêm yết trái phiếu trên thị trường thứ cấp nhằm tăng tính thanh khoản của trái phiếu.
Từ ngày 18/3/2013, hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 2 và hệ thống Đường cong
lợi suất TPCP đã được đưa vào vận hành và hoạt động ổn định về cơ bản, không ghi nhận
lỗi phát sinh, thành viên đã tham gia chào mua, chào bán trên cả hai hệ thống (giao dịch và
Đường cong lợi suất).
Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thị trường nợ và tạo tiêu chuẩn cho cả thị
trường cổ phiếu. Ngoài ra, nhằm đa dạng hóa các công cụ nợ, Bộ Tài chính đã thí điểm phát
hành TPCP có kỳ hạn 10 năm (tổ chức định kỳ 1 lần/tháng) từ năm 2012 và đã bắt đầu phát
hành TPCP kỳ hạn 15 năm trong năm 2013. Mặc dù vậy, thị trường TPCP vẫn còn tồn tại
một số vấn đề như: (i) Trái phiếu có kỳ hạn ngắn (dưới 5 năm) chiếm tỷ trọng chi phối; (ii)
Thanh khoản thấp trên thị trường trái phiếu thứ cấp; (iii) Cơ sở nhà đầu tư chưa đa dạng,
Vingroup hay NHTM cổ phần Công thương. Vì vậy, cần phải có những giải pháp phù hợp
để trước mắt là tăng tỷ trọng dư nợ TPDN/GDP lên 7% GDP vào năm 2020 theo Lộ trình
phát triển và xa hơn nữa là xây dựng thị trường TPDN thực hiện hiệu quả vai trò của mình.
Từ quá trình phát triển thị trường TPDN của các quốc gia như Malaysia (dư nợ
TPDN chiếm 42% GDP) hay Hàn Quốc (dư nợ TPDN chiếm 75% GDP) có thể thấy một số
điểm quan trọng mà Việt Nam cần tập trung trước tiên như:
Trước hết, phải minh bạch hóa thông tin về doanh nghiệp, các đợt phát hành, cách
thức sử dụng vốn huy động thông qua một hệ thống thông tin trái phiếu (tương tự Hệ thống
công bố thông tin trái phiếu BIDS - Bond Information Dissemination System của Malaysia).
Để thực hiện yêu cầu này, đòi hỏi trên thị trường phải có những tổ chức định mức tín nhiệm
hay công ty giám sát độc lập.
Kinh nghiệm của các quốc gia ASEAN chỉ ra rằng sự có mặt của những tổ chức định
mức tín nhiệm tốt là một yếu tố quan trọng trong việc định giá. Tuy nhiên, những tổ chức
định mức tín nhiệm địa phương lại sử dụng phương pháp đánh giá có nhiều khác biệt so với
quốc tế, chưa xây dựng được những chi tiết như lịch trình hoạt động của doanh nghiệp,
trong khi các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế chỉ thực hiện đánh giá các doanh nghiệp
lớn phát hành ở phạm vi quốc tế.
Vì vậy, các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu việc áp dụng một chuẩn mực chung
về phương pháp đánh giá cho các tổ chức định mức tín nhiệm, giúp các nhà đầu tư dễ dàng
có cơ sở đánh giá, so sánh việc đầu tư vào các quốc gia trong khu vực.
18
Ngoài ra, cũng có thể nghiên cứu xây dựng một tổ chức định mức tín nhiệm khu vực.
Việc giám sát các công ty kiểm toán bởi một tổ chức độc lập cũng đang được thực hiện tại
nhiều quốc gia. Tại Malaysia, một đạo Luật được thông qua năm 2009 đã thành lập Hội
đồng Giám sát Kiểm toán, bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 4/2010. Hội đồng này sẽ trực
tiếp giám sát các CTKT, hỗ trợ Ủy ban Chứng khoán trong việc quản lý chất lượng báo cáo
của các CTKT.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn cung sản phẩm trên thị trường ngoài trái phiếu
trả lãi định kỳ và trái phiếu chuyển đổi. Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu phát triển thêm
các loại chứng khoán có đảm bảo như chứng khoán hóa nợ vay bất động sản (MBS), chứng
Sửa đổi Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg cho phép Bảo hiểm xã hội được đầu tư vào
TPDN theo một tỷ lệ nhất định;
Tăng cường việc đầu tư vào thị trường trái phiếu của công ty bảo hiểm và Công ty
Quản lý quỹ;
Khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư khác như Bảo hiểm tiền gửi, quỹ hưu
trí, quỹ đầu tư trái phiếu, nhà đầu tư cá nhân;
Tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn của các định chế tài chính khác (SCIC, DATC)
bằng cách đặt ra quy định hạn chế các tổ chức này gửi tiền mà phải đầu tư vào trái phiếu.
Ngoài ra, nhóm nhà đầu tư khá quan trọng mà trên thị trường trái phiếu Việt Nam còn thiếu,
đó chính là các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Theo kinh nghiệm phát triển thị trường trái
phiếu của các quốc gia ASEAN, trong năm loại sản phẩm phái sinh chính (tỷ giá, lãi suất,
cổ phiếu, hàng hóa, tín dụng), sản phẩm phái sinh tỷ giá có mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất.
Nguyên nhân là do các nhà đầu tư tổ chức thường lo ngại về rủi ro tỷ giá mỗi khi đầu tư ra
nước ngoài.
Vì vậy, nếu muốn thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, ngoài một số ưu đãi
về thuế để khuyến khích họ tham gia, cần tập trung phát triển thị trường về chiều sâu, đa
dạng hóa sản phẩm, cũng như dịch vụ trên thị trường nhằm giúp các nhà đầu tư tổ chức
giảm thiểu rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam.
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự phát triển của thị trường TPCP và TPDN
Tiềm năng phát triển thị trường trái phiếu của Việt Nam vẫn còn rất lớn, do vậy, để
khơi thông thị trường này, cần hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng:
Xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách về việc thành lập, tổ chức và hoạt động
của công ty định mức tín nhiệm tại thị trường trong nước; quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện.
Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về phát hành TPCP, trái phiếu được Chính
phủ bảo lãnh và TPCQĐP theo hướng thống nhất địa điểm đấu thầu TPCP tại HNX, thiết
20
lập cơ chế nhà tạo lập thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP và cơ chế thanh
toán trái phiếu qua Ngân hàng Nhà nước nhằm tạo sự thống nhất của thị trường.
Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách về phát hành TPDN theo hướng rà soát lại điều
kiện phát hành trái phiếu trên cơ sở xem xét việc quy định bắt buộc có hệ số tín nhiệm đối
/>- Phát hành trái phiếu doanh nghiệp được lợi gì? ( />trai-phieu-doanh-nghiep-duoc-loi-gi-3038781)
- Niêm yết trái phiếu doanh nghiệp: Cũ người mới ta
( />nguoi-moi-ta-111380.html)
- Rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp ( />hanh-trai-phieu-doanh-nghiep.html)
- Thị trường trái phiếu Việt Nam đang đi đúng hướng ( />hang/thi-truong-trai-phieu-viet-nam-dang-di-dung-huong-2014111315184956013.chn)
- Hồng Minh, Trái phiếu doanh nghiệp dài hạn liệu đã "chín"? ( />nghiep/trai-phieu-doanh-nghiep-dai-han-lieu-da-chin-2014122900083293717.chn)
-Linh Anh, Trái phiếu Doanh nghiệp: 3 xu hướng sẽ phát triển ở Việt Nam
( />nam-2014111715485416016.chn)
- Trái phiếu kỳ hạn trên 5 năm: Bán cái thị trường chán!
( />truong-chan.aspx)
-
22