Nhóm 6 : Lớp CH23K
Tham gia nghiên cứu bài tập môn “ Kinh tế quốc tế” gồm có
1. Trần Thị Thanh
2. Nguyễn Tất Thành
3. Nguyễn Thị Ngọc Dung
4. Thiều Thị Ngọc Chi
5. Nguyễn Thị Thanh Mai
6. Nguyễn Thanh Mai
7. Nguyễn Thị Ngọc Mỹ
8. Dương Thị Băng Nhung.
1
Lời nói đầu 3
Phần I: Lý thuyết xuất khẩu và phá giá tiền tệ 4
1.Biện pháp các nước đang phát triển sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu: 4
2.Những vấn đề chung về phá giá đồng nội tệ: 6
2.1.Điều kiện để một cuộc phá giá nội tệ thành công: 6
2.2.Tác động của phá giá nội tệ đến xuất khẩu: 7
Phần II. Phá giá tiền tệ trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay 10
1.Ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai 10
2. Luồng vốn vào – ra trong nền kinh tế 14
3. Ảnh hưởng của phá giá đến lạm phát 14
4. Tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Việt Nam 14
5. Ảnh hưởng của phá giá đến ngân sách 15
Kết luận: 15
2
Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo hướng là nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của nhà nước. Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã phải gồng mình để
chống lại những đợt khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và chúng ta cũng thấy được các
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước ta trong việc can thiệp để giữ vừng sự phát triển
kinh tế quốc gia, giữ vững vị thế đất nước, trong những công cụ điều hành đó, chúng
cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từ năm 1979 Trung Quốc đã thực hiện cải cách
kinh tế. Chính sách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của
nền kinh tế.
Thời kỳ chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang thả nổi có điều tiết (1979-1993):
Ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều
chỉnh tỷ giá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT trên thị trường. Từ
năm 1981- 1985, Trung Quốc thực hiện là phá giá đồng tiền. Trong thời gian này,
đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong năm 1982 và 56 lần
trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó.
Ra đời từ đầu những năm 1980 ở TQ, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh
từ đầu những năm 1980 ở TQ, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh từ sau những
năm 1986 dẫn tới một mạng lưới thanh toándựa vào thị trường Với sự hiện diện của thị
trường này, đã làm cho tỷ giá trao đổi từng bước được dao động tự do hơn. Chính sách
tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán
cân thương mại, cán cân thanh toán và đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế.
Nếu như năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD bằng 9,8%
GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại và cán cân thương mại là
-15.002 triệu USD thì nhờ thương mại phát triển đến năm 1990 cán cân thương mại là
8.646 triệu USD.
Cho nên, đầu những năm 90 (1991- 1993), Trung Quốc chính thức công bố áp
dụng một tỷ giá thả nổi. Trong giai đoạn này, tỷ giá trao đổi của đồng NDT thường
xuyên dao động, đồng NDT hầu như hạ giá. Sau khi tỷ giá được điều chỉnh tương đối
sát với biến đổi của thị trường và sức mua thực tế của đồng NDT, tỷ giá danh nghĩa
giữa đồng NDT với USD tương đối ổn định ở mức 5,2 -> 5,8 NDT/USD. Tuy nhiên,
4
mức điều chỉnh này được dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho lạm
phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trưởng và thúc đẩy xuất khẩu
của nền kinh tế. Có thể nói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá
hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trước
đây được thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trường. Như từ mức thặng dư
những NH đã được chỉ định trước, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo quy
định mới được rút, thậm chí các nhà đầu tư NN cũng phải bán ngoại tệ cho các NH TQ
để đổi lấy một lượng NDT nhất định sử dụng trong lãnh thổ nước này Trong thời kỳ
này, TQ đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất cho vay và tiền gửi bằng đồng NDT, lãi suất chiết
5
khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc giảm cả lãi suất với các loại tiền gửi bằng
ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các DN, kích thích tiêu dùng ở các tầng lớp dân cư.
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Ngày 21/07/05 nâng tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD một lần
lên 2%, tức là 8,11 NDT đổi 1 USD.
Ngày 15/5/2006 Giá trung gian của tỷ giá hối đoái đồng NDT so với đồng USD
lần đầu tiên giảm xuống dưới mức 8NDT/1USD.
Ngày 18/05/07 NHTW Trung Quốc thông báo biên độ giao dịch ngay giữa các
ngân hàng từ mức 0,3% tăng lên 0,5%.
Ngày 10/04/08, giá trung gian của tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT với đồng
USD lần đầu tiên xuống dưới mức 7NDT/1USD.
Ngày 07/2008 Tỷ giá 6,8 NDT đổi 1USD nhằm mục tiêu kích thích tăng trưởng
XK, khôi phục lại nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Ngày 06/2010 Đồng NDT đã giảm 1,8% lên mức 6,7081 nhân dân tệ/USD từ
mức 6,8202 NDT/USD sau 23 tháng tỷ giá neo cố định.
Ngày 29/04/11 Nhân dân tệ phá vỡ gưỡng 6,5 NDT/USD. Ngày 22/06/11 Nhân
dân tệ lên mức 6,7980 NDT/USD. Xuất khẩu và vai trò của nó đối với sự phát triển
của mỗi quốc gia.
Những chính sách Trung Quốc sử dụng đã mang lại cho Việt Nam một số bài
học trong việc thực hiện chính sách tỷ giá thúc đẩy xuất khẩu trong nước.
2. Những vấn đề chung về phá giá đồng nội tệ:
2.1. Điều kiện để một cuộc phá giá nội tệ thành công:
Khi xem xét có nên phá giá tiền tệ hay không, các nhà hoạch định chính sách
cần cân nhắc thận trọng các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của phá giá tiền tê, bao
gồm các điều kiện sau:
ngân hàng nhà nước có lẽ sẽ chọn phương án an toàn, điều này ẩn ý trong thời gian tới,
lạm phát duy trì thấp và cán cân tính số ổn định, ngân hàng nhà nước sẽ có thời cơ
điều chỉnh phá giá thêm một ít, nhưng khó có cú sốc tỷ giá.
Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu hàng hóa ít phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu. Một
số lĩnh vực sản xuất tại một quốc gia, cần thiết phải nhập nguyên liệu thô hoặc sản
phẩm sơ chế làm đầu vào cho sản xuất xuất khẩu, Trong trường hợp này, phá giá tiền
tệ làm tăng giá thành sản xuất hàng xuất khẩu và làm hạn chế cơ hội có giá cả cạnh
tranh hơn so với những hàng xuất khẩu mà đầu vào chỉ bao gồm hàng hóa trong nước.
Do đó, phá giá tiền tệ đặc biệt thuận lợi cho các ngành sản xuất mà nguyên liệu đầu
vào là các hàng hóa nội địa. Ví dụ như khoảng sản và nông nghiệp.
Thứ ba, chi phí sản phẩm thiết yếu không được quá cao. Các nước đang phát
triển đặc biệt phụ thuộc vào một số sản phẩm nhập khẩu, đầu tư, năng lượng và sản
phẩm y tế. Phá giá tiền tệ làm giá thành các sản phẩm này tương đối đắt đỏ và có thể
có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đời sống nhân dân.
Thứ tư, nợ nước ngoài/GDP phải ở mức tương đối thấp. Một số nước nghèo
luôn trong tình trạng vay nợ nước ngoài nhiều. Việc phá giá sanh nghĩa đồng tiền nội
địa làm tăng nợ nước ngoài tính bằng đồng nội địa. Điều này đặt ra nhiều vấn đề cho
ngân sách nhà nước, do phải trả lãi và các khoản trả góp nước ngoài cao do đồng ngoại
tệ tăng giá. Trong trường hợp này cần thay đổi thuế và chi tiêu chính phủ. Các công ty
tư nhân có nợ nước ngoài cũng có thể bị ảnh hưởng lớn đặc biệt nếu sản phẩm của các
công ty này hướng vào thị trường nội địa.
Cuối cùng là vấn đề về cơ cấu chính sách. Khi tác động của những chính sách
như trợ giá, kiểm soát giá hoặc hạn ngạch xuất khẩu, sẽ làm cản trở sự cân bằng các
yếu tố bên ngoài theo quy luật kinh tế, Những vấn đề này cần được xử lý ngay nếu
không việc phá giá tiền tệ sẽ không còn ý nghĩa.
Tóm lai, phá giá tiền tệ không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế mà còn
ảnh hưởng đến những vấn đề mang tính chính trị-xã hội. Vì thế, để thực hiện chính
sách phá giá đồng nội tệ, các nước đều phải xem xét và cân nhắc một cách kỹ lưỡng
các mặt lợi và hại của biện pháp này dựa trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế.
2.2. Tác động của phá giá nội tệ đến xuất khẩu:
Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại
sau khi phá giá bao gồm:
- Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu: Đối với các nền kinh tế
đang phát triển (Việt Nam thuộc nhóm nước này), có một số hàng hóa các nền kinh
tế này không thể sản xuất được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không
tốt bằng hoặc giá cả có thể cao hơn. Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu có đắt hơn,
người tiêu dùng cũng không thể lựa chọn hàng trong nước. Điều này làm kéo dài
thời gian của hiệu ứng giá cả.
- Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu: Đối với các nước đang phát
triển, yêu cầu về chuẩn hàng hóa tham gia thương mại quốc tế cao, cho nên một sự
phá giá tiền tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng chậm hơn. Điều này làm cho hiệu
ứng khối lượng ít có tác động đến cán cân thương mại hơn ở các nước đang phát
triển. Vì vậy, tác động cải thiện cán cân thương mại của phá giá ở các nước phát
triển thường mạnh hơn ở các nước đang phát triển.
8
- Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước: Nếu tỷ
trọng này cao, giá thành sản xuất của hàng hóa trong nước sẽ tăng lên khi hàng
nhập khẩu tăng giá. Điều này làm triệt tiêu lợi thế giá rẻ của hàng xuất khẩu khi
phá giá. Cho nên, phá giá tiền tệ chưa hẳn đã làm tăng khối lượng hàng xuất khẩu.
- Mức độ linh hoạt của tiền lương: Động thái phá giá tiền tệ thường làm chỉ
số giá hàng tiêu dùng tăng lên. Nếu tiền lương linh hoạt, nó sẽ tăng theo chỉ số giá.
Điều này làm tăng chi phí sản xuất, từ đó làm cho giá hàng trong nước giảm bớt lợi
thế có được từ phá giá tiền tệ.
- Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước:
Nếu người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sự đắt lên của
hàng nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vi tiêu dùng của
họ, họ sẽ tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn. Tiếp theo, mức độ gia
tăng số lượng hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tin tưởng và ưa chuộng hàng hóa
xuất khẩu của người tiêu dùng nước ngoài.
Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với lạm phát
thương mại nước ngoài. Mức độ ảnh hưởng của chính sách này phụ thuộc vào
tương quan so sánh giữa thuế thu từ xuất nhập khẩu và tổng thuế thu được, độ co
giãn về thuế, độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu. Nếu đất nước nhận được một
lượng lớn viện trợ nước ngoài, thì khoản thu này cũng sẽ tăng theo tỉ lệ của phá giá
tiền tệ.
- Xét về nguồn chi ngân sách gồm những khoản bù trừ nguồn thu. Trước hết,
nếu đất nước đang có một khoản nợ nước ngoài lớn, thì việc phá giá tiền tệ sẽ làm
cho họ phải trả khoản lãi suất lớn. Thứ hai, khoản chi của chính phủ cho mua xăng
dầu, máy tính, thiết bị quân sự từ nước ngoài sẽ tăng lên.
Phần II. Phá giá tiền tệ trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay
1. Ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai
Mục tiêu của phá giá là để cải thiện cán cân vãng lai, có nghĩa là góp phần
vào làm giảm sự mất cân bằng giữa tiết kiệm vào đầu tư. Nhưng đối với Việt Nam,
liệu biện pháp phá giá có cải thiện được cán cân thương mại hay không khi hầu hết
các mặt hàng sản xuất trong nước đều phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu
(90% tổng giá trị hàng nhập là nhập nguyên vật liệu sản xuất), ngay cả hàng xuất
khẩu cũng đến 70% là giá trị hàng nhập. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất hàng hóa
thay thế nhập khẩu và hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ở Việt Nam đều còn hạn
chế.
Thâm hụt cán cân thương mại đã trở thành một hiện tượng thường nhật trong
cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam trong nhiều năm gần đây. Thực trạng này
bắt nguồn sâu xa từ chính sự mất cân đối trong cơ cấu xuất nhập khẩu.
- Cơ cấu xuất khẩu (Xem bảng 1)
Bảng 1: Tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong xuất
khẩu giai đoạn 2005- 2013
Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng
Triệu đô la Mỹ
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Sơ bộ
2013
(**)
5.3 7.2 16.5 360.9 822.6 36.6 62.8 86.7
CƠ CẤU (%)
TỔNG SỐ 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Phân theo khu
vực kinh tế
Khu vực kinh
tế trong nước 42.8 42.1 42.8 44.9 46.8 45.8 43.1 36.9 33.2
Khu vực có
vốn đầu tư nước
ngoài
(*)
57.2 57.9 57.2 55.1 53.2 54.2 56.9 63.1 66.8
Phân theo
nhóm hàng
Hàng công
nghiệp nặng và
khoáng sản 36.1 36.2 34.4 37.0 30.9 31.0 35.8 42.1 44.3
Hàng CN nhẹ
và TTCN 41.0 41.2 42.6 39.8 44.8 46.1 41.6 37.8 38.1
Hàng nông
sản 13.7 13.4
14.5 14.7 14.6 14.7 14.9 13.5
12.5
Hàng lâm sản 0.8 0.8
0.8 0.7 0.8 1.1
1.3
1.2
Hàng thủy
sản 8.4 8.4 7.7 7.2 7.5 7.0 6.3 5.3 5.1
kinh tế trong
nước 23121.0 28401.7 41052.3 52831.7 43882.1 47870.7 58362.8 53839.2 57597.6
Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài 13640.1 16489.4 21712.4 27882.1 26066.7 36967.9 48387.0 59941.2 74435.0
Phân theo
nhóm hàng
Tư liệu sản
xuất 32949.2 39504.1 56788.6 71715.9 63093.2 75496.0 94551.5 103430.2 121440.1
Máy móc,
thiết bị, dụng
cụ, phụ tùng 9285.3 11040.8 17966.2 22566.7 22081.5 25152.4 31592.9 39911.6 48465.9
Nguyên,
nhiên, vật liệu 23663.9 28463.3 38822.4 49149.1 41011.7 50343.6 62958.6 63518.6 72974.2
Hàng tiêu
dùng 2992.5 3508.4 4660.1 6269.9 6473.3 8378.0 10125.4 10249.8 10592.5
Lương thực 3.8 7.2 2.5 3.8 41.2 7.9 3.5 8.4
Thực phẩm 1100.2 1238.9 1555.2 2190.2 2085.5 2838.4 3711.1 3761.6
Hàng y tế 527.1 598.8 763.8 890.2 1158.6 1312.0 1589.8 1868.6 1878.2
Hàng khác 1361.4 1663.5 2338.6 3185.7 3188.0 4219.7 4821.0 4611.2
Vàng phi tiền
tệ 819.4 1878.6 1316.0 2728.0 382.3 964.6 2073.0 100.4
CƠ CẤU %
TỔNG SỐ 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Phân theo
khu vực kinh
tế
Khu vực
kinh tế trong
nước 62.9 63.3 65.4 65.5 62.7 56.4 54.7 47.3 43.6
tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu, làm hạn chế khả năng gia tăng
xuất khẩu nhanh hơn so với nhập khẩu.
- Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu
Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, mà đối với một nền kinh tế
đang phát triển, có một số hàng hóa mà các nền kinh tế này không thể sản xuất
được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không tốt bằng hoặc giá cả có thể
cao hơn. Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu có đắt hơn, người tiêu dùng cũng không
chắc sẽ lựa chọn hàng trong nước. Như vậy, nếu thực hiện phá giá, nền kinh tế Việt
Nam với năng lực sản xuất hàng thay thế cho hàng nhập khẩu còn hạn chế, có thực
sự hạn chế được nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại hay không?
- Năng lực sản xuất hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Đa phần các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là sản xuất nhỏ lẻ và có năng suất
thấp. Chất lượng hàng hóa, kể cả những mặt hàng chiến lược là gạo, cà phê, hạt
tiêu, thủy, hải sản chế biến là những mặt hàng Việt Nam chiếm vị trí nhất nhì trên
thế giới thì chất lượng sản phẩm của chúng ta còn kém so với các nước có cùng mặt
hàng trong châu lục vì thế tỷ lệ hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ và châu Âu
còn nhỏ. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và xuất
khẩu lớn còn rất manh mún và chưa đủ sức để thúc đẩy sản xuất đại trà. Nếu các
doanh nghiệp trong nước không có năng lực sản xuất hàng xuất khẩu (cung cấp
không đủ lượng, chất theo nhu cầu của đối tác) hoặc không tìm được thị trường
xuất khẩu cho mình thì khi Chính phủ thực hiện phá giá, những cơ hội kinh doanh
tốt mà Chính phủ hướng tới thông qua phá giá sẽ bị bỏ lỡ, hoạt động xuất khẩu và
cán cân thương mại không chắc chắn có thể được cải thiện.
13
2. Luồng vốn vào – ra trong nền kinh tế
Dòng vốn vào là một nguồn quan trọng, bù đắp lại thâm hụt thương mại cho
nước ta trong những năm gần đây. Dòng chu chuyển vốn (qua các kênh FDI, FII và
vay nợ) nhìn chung tăng qua các năm, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2007 sang năm
2008 – đạt mức cao kỷ lục vào năm 2008. (Xem biểu 1)
Biểu 1
khá mạnh trên thị trường tiền tệ Việt Nam, khi hệ quả của dư âm về lạm phát năm
2008 vẫn còn, sẽ khiến người dân và doanh nghiệp tích cực dự trữ ngoại tệ, làm
cho cung ngoại tệ không những không được cải thiện mà còn đẩy cầu ngoại tệ lên
cao; ảnh hưởng không tốt tới nỗ lực hạn chế đô la hóa của các nhà điều hành. Thậm
chí, trong trường hợp các giải pháp không tạo được lòng tin, thì mục đích ngăn
14
chặn những bất ổn trong nền kinh tế trong việc phá giá VND không những không
giải quyết được, mà có thể còn đẩy nền kinh tế tới chỗ bất ổn hơn.
5. Ảnh hưởng của phá giá đến ngân sách
Phá giá tiền tệ có thể cải thiện hoặc làm thâm hụt ngân sách còn phụ thuộc
rất nhiều vào việc các nguồn thu, chi ngân sách có chịu ảnh hướng trực tiếp bởi tỷ
giá hay không.
- Xem xét cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam thì tỷ lệ thu ngân sách từ dầu
thô và xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng khá cao, khoảng gần 40% trong tổng nguồn
thu của ngân sách, hơn nữa, nguồn viện trợ cũng khá lớn. Vì vậy, phá giá sẽ tăng
đáng kể nguồn thu của Chính phủ nếu tính bằng VND. Tuy nhiên, phá giá làm ảnh
hưởng đến hoạt động doanh nghiệp, làm kinh tế suy giảm thì sẽ ảnh hưởng đáng kể
đến nguồn thu của Chính phủ.
- Xét về cơ cấu chi, thì khoản chi lớn nhất mà chịu tác động lớn của tỷ giá là
các khoản vay để bù đắp thâm hụt ngân sách bằng ngoại tệ.
- Xem xét vấn đề nợ nước ngoài (Xem bảng 3)
Bảng 3
Tổng số dư nợ nước ngoài so với GDP (%)
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Dự báo
2014
31.2 31.4 32.5 29.8 39.0 42.2 41.5 37.4 37.3 39.9
Nguồn: Bộ Tài chính
Xem xét tình trạng nợ nước ngoài của Việt Nam, nợ nước ngoài của quốc gia
so với GDP bằng 39%, thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải, nếu xét