LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, trước hết tôi
xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy cô giáo Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo
trong Khoa Xã hội học – những người trực tiếp dạy dỗ, dìu dắt tận tình cho tôi
trong suốt quá trình tôi học tập và rèn luyện tại trường.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Vũ Hào Quang –
người thầy đã dành nhiều tâm huyết và thời gian hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp –
những người đã luôn sát cánh bên tôi, động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện
để tôi có thể hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Hội đồng nhân dân - Ủy
ban nhân dân và nhân dân phường Dương Nội và phường Phú Lương, quận
Hà Đông, Thành phố Hà Nội, đặc biệt là những người trực tiếp tạo điều kiện
và tham gia trả lời phỏng vấn đã cung cấp cho tôi những số liệu cụ thể nhất.
Mặc dù, tôi đã cố gắng bằng tất cả sự nhiệt huyết và năng lực của
mình. Tuy nhiên, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong
nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn! Học viên Triệu Bình Minh
1
2
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 22
8.1. Phương pháp luận nghiên cứu 22
8.2. Phương pháp thu thập thông tin 23
8.2.1. Phương pháp quan sát 23
8.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu 24
8.2.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến 25
9. Cấu trúc luận văn 26
NỘI DUNG CHÍNH 27
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 27
1.1. Các khái niệm 27
1.1.1. Dư luận xã hội 27
1.1.2. Thu hồi đất nông nghiệp 28
1.1.3. Bồi thường 29
1.1.4. Hỗ trợ 30
1.1.5. Tái định cư 32
1.2. Các lý thuyết áp dụng 33
1.2.1. Thuyết dòng xoáy im lặng 33
1.2.2. Thuyết xung đột 34
1.3. Quan điểm của Đảng và NN về việc nghiên cứu DLXH 36
1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 38
1.4.1. Tổng quan về phường Dương Nội 38
1.4.2 Tổng quan về phường Phú Lương 40
Chƣơng 2: DƢ LUẬN XÃ HỘI VỀ VIỆC ĐỀN BÙ VÀ HỖ TRỢ TÁI
ĐỊNH CƢ TRÊN ĐỊA BÀN PHƢỜNG DƢƠNG NỘI VÀ PHƢỜNG
PHÚ LƢƠNG 42
2.1. Sự hình thành dƣ luận xã hội về việc bồi thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ
tại phƣờng Dƣơng Nội và phƣờng Phú Lƣơng. 42
2.2. Dƣ luận xã hội về việc bồi thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ sau khi thu
Khu đô thị
: KĐT
Giải phóng mặt bằng
Nhà nước
Thành phố
Ủy ban nhân dân
Quyền sở hữu
Quyền sử dụng
Số lượng
Tỷ lệ
: GPMB
: NN
: TP
: UBND
: QSH
: QSD
: SL
: TL
6
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Kênh thông tin mà người dân biết về việc bồi thường, hỗ trợ tái
định cư 42
Biểu đồ 2.2: Đối tượng người dân trao đổi về vấn đề bồi thường, 45
Biểu đồ 2.3. Tâm lý của người dân khi bị thu hồi đất 49
Biểu đồ 2.4. Mức độ quan tâm của người dân về việc bồi thường, hỗ trợ tái
định cư 52
Biểu đồ 2.5: Mức độ quan tâm cụ thể đối với một số lĩnh vực trong việc bồi
thường, hỗ trợ tái định cư 54
Biểu đồ 2.6: Thái độ của người dân về việc bồi thường hiện nay 58
Biểu đồ 2.7: Thái độ của người dân về việc bồi thường theo nơi cư trú người
trả lời 59
Biểu đồ 2.8 : Mức độ hài lòng của người dân về mức bồi thường 61
Biểu đồ 2.9: Đánh giá của người dân về mức bồi thường 62
Biểu đồ 2.10: Đánh giá của người dân về mức bồi thường theo nơi cư trú 63
Biểu đồ 2.11: Đánh giá của người dân về khu tái định cư mới 67
Biểu đồ 3.1: Mức độ đồng tình với việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư 72
Biểu đồ 3.2: Quan điểm của người dân về lý do đồng tình với việc thu hồi đất 73
Biểu đồ 3.3: Mức độ bức xúc về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư hiện nay 79
hiện chức năng phán xét, đánh giá, lên án, vạch trần bản chất xấu xa của lối
sống tiêu cực, truyền bá rộng rãi những giá trị và đạo đức mới cho công dân.
Hiện nay, để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì
nhu cầu sử dụng đất đai tại Việt Nam cho các mục đích mở mang phát triển
đô thị đang ngày càng tăng. Đặc biệt, Hà Nội- với vị trí là trung tâm kinh tế-
chính trị- văn hóa của cả nước thì việc quản lý và sử dụng đất đai nhằm phát
8
triển thủ đô theo hướng hiện đại đóng một vai trò rất quan trọng. Trong đó
Thủ đô cũng đã xác định việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng (GPMB) nhằm
đáp ứng cho những nhu cầu trên một cách khoa học, tạo điều kiện cho sự phát
triển lâu dài và bền vững là một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, thực tế hiện
nay cho thấy việc này đã trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và gây ra
nhiều DLXH tiêu cực trong quần chúng nhân dân. Cụ thể, trong quá trình
tiến hành GPMB đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như các chính sách đền
bù thiệt hại GPMB chưa phù hợp, các văn bản; hướng dẫn thực hiện của
NN chưa đầy đủ; cụ thể, chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị
thu hồi, nhất là đối với nông dân Đây chính là lý do dẫn đến tình trạng
khiếu nại, tố cáo đang ngày càng tăng và có xu hướng phức tạp hơn. Ví dụ
như đầu năm 2012 Hà Nội đã có 178 đoàn đông người đi khiếu kiện, chủ
yếu là khiếu nại về đất đai, GPMB. Nổi cộm như vụ việc của 100 công dân
phường Dương Nội, 70 người phường Kiến Hưng, 40 người phường Yên
Nghĩa (Hà Đông), 150 tiểu thương chợ Nghĩa Tân (Cầu Giấy), đoàn 200
người dân xã Tiên Dương (Đông Anh), bệnh binh 5 xã ở huyện Quốc Oai,
160 người dân phố Tân Mai (thị xã Xuân Mai) [29; tr 2]
Trong thời gian qua, điển hình nhất về việc quản lý và sử dụng đất đai
tại Thủ đô mà gây ra nhiều DLXH trái chiều cũng như những bức xúc trong
quần chúng nhân dân dẫn đến tình khiếu kiện kéo dài, tập trung đông người
đó là các dự án thu hồi đất thuộc địa phận phường Dương Nội và phường Phú
Lương, quận Hà Đông, ví dụ dự án xây dựng các khu đô thị Dương Nội, Lê
sử dụng đất đai là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, trong xã hội hiện nay, tính
dân chủ đang ngày càng được đề cao, các NN, chính phủ đang ngày càng
quan tâm tới ý kiến của đông đảo công chúng tới các vấn đề quan trọng của
xã hội. Nghiên cứu “DLXH về các chính sách sử dụng đất đai” của hai tác
giả Christopher A. Cooper và H. Gibbs Knotts đã khẳng định vai trò của
DLXH trong các chính sách về đất đai. Nghiên cứu tập trung phân tích DLXH
10
của người dân ở phía Tây Nam bang Carolina về hai lĩnh vực chủ yếu là việc
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai. Nghiên cứu gồm hai phần chính đó là
tóm lược các chính sách sử dụng đất đai, thứ hai nghiên cứu tiến hành phân
tích cuộc điều tra DLXH tại vùng Tây Nam bang Carolina năm 2007. Sau khi
tiến hành tóm lược các chính sách sử dụng đất đai cũng như nhận thấy vai trò
quan trọng của DLXH cùng với việc tiến hành cuộc điều tra hơn một nghìn cư
dân tại vùng này, nghiên cứu đã chỉ ra kết luận rằng: DLXH đang ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các chính sách quy hoạch và sử
dụng đất đai và các nhà chức trách nên có những biện pháp nhằm hiểu được
DLXH. Nghiên cứu đã chỉ ra ba bằng chứng để chứng minh cho kết luận trên
(1) trên 60% người được hỏi trả lời họ ủng hộ chính sách quy hoạch và sử
dụng đất đai (2) công chúng tỏ ra hài lòng với các kế hoạch sử dụng đất đai
hơn là quy hoạch đất đai, do đó các nhà chức trách nên tập trung hơn vào
chính sách sử dụng đất đai (3) Những nhóm công chúng dựa trên những đặc
trưng nhân khẩu khác nhau thì có sự ủng hộ khác nhau với các chính sách
này. Cuối cùng nghiên cứu ðýa ra khuyến nghị các nhà lãnh đạo nên điều tra
DLXH trước khi đưa ra các chính sách cụ thể nào đó.
Tuy nhiên do nhu cầu sử dụng đất của các chính phủ, NN ngày càng
tăng cao nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội nên việc thu hồi đất để sử
dụng cho các mục đích công trở thành một trong những biện pháp hữu hiệu
khi mà vốn đất bị hạn chế. Kết quả là việc thu hồi đất để phục vụ các dự án
đầu tư ngày càng diễn ra trên quy mô lớn và kèm với đó là rất nhiều các hệ
tới sinh kế, an ninh lương thực, sự quản lý các tài nguyên thiên nhiên một cách
bền vững. Sau quá trình triển khai nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng: để tạo ra
được một tình huống mà cả hai bên cùng có lợi thì phải đảm bảo các điều kiện
có sự tham gia của các bên liên quan, có sự đánh giá tác động đến môi trường
cũng như có các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm…
12
Nói tóm lại, có thể thấy rằng trên thế giới vấn đề quy hoạch, sử dụng
đất đai đều được hầu hết các chính phủ, NN, các nhà nghiên cứu cũng như
toàn xã hội quan tâm. Mỗi cá nhân lại nhìn nhận và phân tích vấn đề theo
những chiều cạnh khác nhau, đó có thể là vai trò của DLXH trong các chính
sách về đất đai, có thể là các vấn đề về thu hồi đất và bồi thường hay các vấn
đề về hệ lụy xã hội của quá trình thu hồi đất…tất cả đều giúp chúng ta có cái
nhìn tổng quan nhất và đa chiều về các vấn đề liên quan đến đất đai.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, đồng thời còn là tư liệu sản xuất
đặc biệt. Đất đai cũng là cơ sở nền tảng để xây dựng nên các cơ sở kinh tế,
văn hóa, xã hội và là nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành nên
môi trường sinh thái. Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, nên tất yếu phải chuyển đổi một bộ phận lớn đất
nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất đô thị. Quá trình chuyển đổi này
đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của
đất nước. Do vậy vấn đề chuyển đổi và sử dụng đất đai được Đảng, NN và cả
xã hội quan tâm, minh chứng điển hình nhất là sự ra đời của Luật Đất Đai năm
2003. Phân tích về những ưu điểm và nhược điểm của Luật Đất Đai 2003 về
chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tác giả Nguyễn Thị Phượng đã có
những bình luận sâu sắc về vấn đề này trong bài viết “Về chính sách bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi NN thu hồi đất”. Trước hết bài viết khẳng định
Luật Đất Đai năm 2003 đã có những bước tiến vượt bậc so với bộ Luật trước đó
trong việc ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của
cá nhân hộ gia đình được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê…đã được NN đảm bảo quyền trong thực tế đã từng bước phát huy được
nguồn lực đất đai từ đó biến nguồn tài nguyên đất đâi thành nguồn tài chính
cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt là việc đổi mới
phương pháp và triển khai thực hiện một cách đồng bộ quy hoạch sử dụng đất
14
ở cả 4 cấp góp phần chuyển dịch cơ cấu đất phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tác giả cho
rằng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và các chính sách cần tiếp tục được hoàn
thiện theo các hướng: thực hiện đúng quan điểm phát triển kinh tế xã hội, nghiên
cứu xây dựng cơ chế để đảm bảo giữa QLNN và thị trường, tạo lập môi trường
cạnh tranh bình đẳng, đề cao vai trò của NN, xây dựng quản lý thị trường bất
động sản và chính sách tài chính đất đai, gắn quản lý sử dụng đất đai với bảo vệ
môi trường, đảm bảo phát triển bền vững. Cũng đề cập đến vấn đề hoàn thiện
chính sách đất đai, trong bài viết “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử
dụng đất đai ở nước ta” tác giả Hoàng Ngọc Hòa lại đưa ra 4 nhóm giải pháp
chính nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về các chính sách đất đai đó là cụ thể
hóa hơn nữa quyền và trách nhiệm của NN với tư cách là chủ sở hữu, cụ thể hóa
quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất trong thời hạn được giao sử dụng
kịp thời bổ sung và chỉnh sửa hoàn thiện Nghị định 69/2009/NĐ-CP của chính
phủ, điều chỉnh; bổ sung; hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý đất đai giữa chính
quyền trung ương và chính quyền địa phương.
Có thể thấy rằng việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị là quá trình mang tính khách quan và tất yếu trước xu thế
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ có quá trình này mà hệ thống kết cấu hạ tầng
ngày càng được nâng cấp và hoàn thiện. Tuy nhiên, quá trình này cũng có những
mặt trái của nó, đó chính là các hệ quả xã hội của quá trình này.
Một trong những hệ quả xã hội quan trọng nhất đã được tác giả Lê Hiếu
đề cập đến trong bài viết “Về vấn đề chuyển đỏi mục đích sử dụng đất nông
hồi đất đến đời sống nông dân qua “thực tiễn ở huyện Mê Linh – Hà Nội”.
Nghiên cứu phân tích tính cấp thiết và tác động của quá trình thu hồi đất nông
nghiệp đối với đời sống của nông dân bị thu hồi đất. Khảo sát thực trạng về
ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống của người nông dân vùng thu hồi
đất ở huyện Mê Linh - Hà Nội, để minh họa. Đề xuất giải pháp chủ yếu để
16
phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của việc thu hồi
đất đối với đời sống nông dân Mê Linh.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh với đề tài “Ảnh hưởng của thu hồi
đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên”. Nghiên cứu tập trung phân tích tình hinh thu hồi đất để xây dựng
các khu, cụm công nghiệp và ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến tăng
trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, việc làm và thu
nhập của các hộ bị thu hồi đất, những thách thức của việc thu hồi đất trong
quá trình phát triển
Tác giả Nguyễn Văn Sửu với nghiên cứu “Tác động của công nghiệp
hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam-trường hợp một làng ven
đô Hà Nội.” Trong nghiên cứu này, tác giả đi sâu nghiên cứu về thu hồi đất
nông nghiệp và phân tích các tác động của nó đối với cuộc sống của người
nông dân, đặc biệt là với sinh kế của họ ở một làng ven đô Hà Nội từ cuối
những năm 1990.
Như vậy có thể thấy các vấn đề liên quan đến đất đai được cả xã hội
quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều các công trình nghiên cứu khoa học
nghiên cứu về vấn đề này đặc biệt là các công trình nghiên cứu xã hội học.
Đáng chú ý là bài viết “Tái định cư trong phát triển đô thị và một số vấn đề
xã hội” của tác giả Trịnh Duy Luân đã có cách nhìn sâu sắc vấn đề dưới cách
nhìn của khoa học xã hội học. Trước tiên tác giả đã đưa ra những nguyên tắc
đối với sự cơ động, chuyển đổi nơi ở trong điều kiện tái định cư. Theo tác giả
thì tái định cư chính là một dạng của cơ động xã hội về nhà ở dưới hình thức
đình và Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Vụ án thu
hút dư luận Việt Nam vì đây được coi là đỉnh điểm về xung đột về đất đai,
của những bất cập về cả pháp luật đất đai, việc thực thi pháp luật ở các cấp
địa phương và là một tổn thất chính trị to lớn. Kết quả là 4 công an và 2 người
thuộc ngành quân đội bị thương, 6 người dân bị bắt và bị khởi tố, việc thu hồi
18
đất bị hủy bỏ một số cán bộ địa phương bị đình chỉ việc và bị cách chức. Bên
cạnh đó là vụ cưỡng chế đất đai dẫn đến tụ tập đông người khiếu kiện ở Văn
Giang, Hưng Yên. Cụ thể, với dự án Ecopark, Văn Giang đã trở thành điểm
nóng về khiếu kiện của tỉnh Hưng Yên. Với mức giá đền bù chênh lệch đáng
kể so với các dự án gần đấy nhưng thuộc “đất Hà Nội”, người dân Văn Giang
đã liên tục tiến hành khiếu kiện đông người tại trụ sở tiếp dân của các cơ quan
Trung ương và địa phương. Quá trình khiếu kiện được tập trung vào 10 nhóm
vấn đề, như cho rằng có sự sai lệch giấy tờ; đề nghị giảm diện tích dự án; tố
cáo cưỡng chế trái pháp luật; thậm chí tố cáo hành vi trả thù người tố
cáo…Trong khi vụ cưỡng chế đất tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên vẫn
còn chưa nguôi, thì dư luận những ngày gần đây lại xôn xao về khả năng
những người dân ở huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định sẽ phải đối mặt với một vụ
cưỡng chế đất cũng không kém phần nghiêm trọng như ở Văn Giang. Hơn
100 nông dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định đang chuẩn bị tinh thần giữ đất
ruộng của mình trước khả năng chính quyền địa phương sẽ thực hiện cưỡng
chế đất đai. Vào tháng 12 năm 2010, chính quyền địa phương đã huy động
hàng ngàn bộ đội và công an đến cưỡng chế khu đất hơn 165 ha của người
dân ba xã trước sự phản đối của người dân. Ngoài ra người dân huyện Vụ Bản
cũng đã gửi nhiều đơn khiếu nại lên các cấp chính quyền từ quốc hội đến
thanh tra chính phủ.
Nói tóm lại, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các vấn đề liên quan
đến đất đai đều được cả xã hội quan tâm đặc biệt là vấn đề thu hồi đất và việc
hỗ trợ, đền bù, tái định cư cho người bị thu hồi đất. Tuy nhiên, trên thế giới đã
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng DLXH về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên
địa bàn phường Dương Nội và phường Phú Lương, quận Hà Đông, Thành
phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị nhằm khắc phục những
hệ quả chưa tích cực của việc này.
20
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tìm hiểu DLXH về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại phường
Dương Nội và phường Phú Lương, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
(2) Tìm hiểu DLXH về hệ quả và nguyên nhân gây bức xúc trong nhân
dân về việc việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư sau khi thu hồi đất.
(3) Đưa ra những khuyến nghị nhằm khắc phục những khó khăn trong
việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
DLXH về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn Thành phố
Hà Nội hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Nhân dân bị thu hồi đất tại hai phường Dương Nội và phú Lương,
quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
- Các cấp lãnh đạo phường Dương Nội, phú Lương và quận Hà Đông.
- Chủ đầu tư các dự án tại hai phường Dương Nội và Phú Lương.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
5.3.1. Phạm vi thời gian
Đề tài được khảo sát từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014
5.3.2. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành tại phường Dương Nội và phú Lương, quận Hà
Đông, Thành phố Hà Nội.
Chính sách xã hội về đất đai
tại địa phương
Các yếu tố:
-Giới tính
- Nghề nghiệp
- Trình độ học
vấn
- Diện tích/ vị
trí đất bị thu
hồi
thì khuôn mẫu tư duy xã hội là những quan niệm, phán xét khái quát, giản đơn
nhưng có tính phổ biến và tương đối bền vững trong một cộng đồng xã hội.
Sự tồn tại của các khuôn mẫu tư duy là rất cần thiết, nó giúp hình thành nên
hành động xã hội. Và chính DLXH là phương thức tồn tại của khuôn mẫu tư
duy xã hội. Nói đến cơ sở xã hội của DLXH trước hết phải đề cập đến các yếu
tố xã hội, trong đó yếu tố lợi ích được cho là yếu tố quan trọng tác động đến
nội dung và sắc thái của DLXH. Tồn tại cùng với các lợi ích chung, lợi ích
của nhóm, cộng đồng là những lợi ích cá nhân. Có khi các lợi ích này thống
nhất với nhau nhưng cũng có lúc chúng mâu thuẫn với nhau, chính điều này
đã tác động đến nội dung và sắc thái của DLXH.
8.2. Phương pháp thu thập thông tin
8.2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được dùng để thu thập các thông tin sơ cấp
thông qua việc quan sát và ghi chép mọi biểu hiện của đối tượng nghiên cứu.
Trong nghiên cứu DLXH, thông qua quan sát người nghiên cứu có thể thấy
được những biểu hiện, thái độ, hành vi của chủ thể DLXH, từ đó định hình
được xu hướng cũng như cường độ của DLXH về vấn đề nghiên cứu. Nghiên
cứu tập trung quan sát các khu tái định cư (môi trường sống, giao thông, dịch
vụ ), đời sống của người dân, quan hệ giao tiếp của người dân chủ yếu xoanh
quay vấn đề gì Từ những quan sát này có thể làm cơ sở đánh giá những ý
kiến, mức độ hài lòng của người dân đối với chính sách bồi thường, hỗ trợ tái
định cư cho người dân bị thu hồi đất.
24
8.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu có thể giúp người nghiên cứu có những
kiến thức nền và có được những đánh giá chung nhất về vấn đề nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, tôi tập trung sử dụng các tài liệu như: các văn bản,
nghị quyết về đất đai nói chung cũng như việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư