Nghiên cứu mô hình xã hội hoá công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội và khả năng ứng dụng tại phường Khương Trung, quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội (2) - Pdf 18

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam ngày càng xuất hiện
nhiều các đô thị với quy mô và mức độ khác nhau. Đặc điểm của các đô thị nói
chung là nền kinh tế phát triển và dân cư tập trung đông. Chính vì vậy, đi kèm
với sự phát triển kinh tế- xã hội cũng nảy sinh nhiều vấn đề môi trường, trong đó
chất thải rắn luôn là vấn đề bức xúc ở mọi đô thị.
Trong một thời gian dài, việc quản lý rác thải sinh hoạt đô thị ở nước ta là
do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm. Người dân không hề có ý thức và trách
nhiệm đối với vấn đề thu gom và sử lý rác thải. Cố gắng của các cơ quan nhà
nước, đặc biệt là các Công ty MTĐT, trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở
đô thị đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo vệ sinh môi trường của các
thành phố, đô thị. Tuy nhiên, trong tương lai các biện pháp này sẽ không bền
vững và nảy sinh nhiều vấn đề. Nguyên nhân là do mức sống của người dân
ngày càng cao làm cho lượng rác sinh hoạt luôn tăng, vượt quá khả năng thu
gom của các Công ty MTĐT. Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Việt Nam đang
cố gắng tập trung mọi nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề bằng cách phối hợp các
biện pháp chính sách tài chính và các hoạt động nâng cao nhận thức và thu hút
sự tham gia của người dân. Ý tưởng và phương pháp phát huy vai trò của cộng
đồng nhằm tăng cường quyền làm chủ và trách nhiệm của người dân trong việc
bảo vệ môi trường được gọi là “ Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường”.
Ngày 12/10/2000, UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 5466/QĐ-
UB về việc tổ chức thực hiện thí điểm xã hội hoá công tác thu gom và vận
chuyển một phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố. Cho đến nay, mô
hình này đã đem lại lợi ích nhiều mặt, giải quyết vấn đề rác thải của thành phố,
góp phần làm môi trường sạch đẹp, tạo điều kiện cho người dân làm chủ và có
trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường
của người dân thủ đô, giảm chi phí ngân sách nhà nước, tăng đóng góp của
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44

* Nội dung nghiên cứu.
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề chất thải rắn đô thị.
Chương 2: Mô hình HTX Vệ sinh môi trường Thành Công và hiệu quả
thực tế của mô hình tại phường Văn Chương, quận Đống Đa thành phố Hà Nội.
Chương 3: Xây dựng mô hình xã hội hoá công tác thu gom và vận chuyển
rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng cho phường Khương Trung, quận Thanh
Xuân thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ của luận văn chỉ nghiên cứu mô hình xã hội hoá công
tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng của HTX Thành
Công, đánh giá hiệu quả của mô hình khi áp dụng thực tế vào phường Văn
Chương, từ đó xây dựng một mô hình xã hội hoá công tác thu gom và vận
chuyển rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng cho phường Khương Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích kinh tế.
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài
sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo khoa Môi trường và các cán bộ của HTX Thành Công.
Tôi xin chân thành cảm ơn T.S Lê Hà Thanh đã tận tình hướng dẫn trong
quá trình nghiên cứu , hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Th.S Huỳnh Thị Mai Nhung đã hướng dẫn và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

và hoạt động sống.
Theo quan niệm mới; Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị )
được định nghĩa là: Vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô
thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó, chất thải
được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ
mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy.
Như vậy theo quan niệm này, chất thải rắn đô thị có các đặc trưng là:
- Bị vứt bỏ trong khu vực đô thị;
- Thành phố có trách nhiệm thu dọn.
II. Khái niệm về chất thải rắn đô thị.
2.1. Định nghĩa và đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt đô thị.
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động
của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường
học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần
bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo,
thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…Theo phương diện khoa
học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:
Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa. rau, quả…loại chất thải
này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi
khó chịu, đặc bịêt trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư
thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng,
khách sạn, ký túc xá, chợ…
Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác.
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.

(Theo nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004- chất thải rắn, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Thế giới(WB), Cơ quan phát triển Quốc tế
Canada(CIDA). Việt Nam, 2004)
Trong quá trình thu gom và vận chuyển lượng chất thải rắn là yếu tố cần
quan tâm hàng đầu. Nhìn chung, lượng chất thải rắn sinh hoạt phụ thuộc vào hai
yếu tố chính là mức độ phát triển kinh tế và việc tăng dân số.
Theo thống kê của Công ty MTĐT Hà Nội, lượng chất thải rắn sinh hoạt ở
Hà Nội tăng lên rõ rệt trong vài năm gần đây (bảng 2), điều đó thể hiện mức
sống của dân cư cũng như sự phát triển của Hà Nội đã được nâng cao.
Bảng 2: Lượng chất thải rắn sinh hoạt ở Hà Nội qua các năm:
Năm Lượng chất thải rắn sinh hoạt
2000 1.300 tấn / ngày
2001 1.500 tấn / ngày
2002 1.800 tấn / ngày
2003 2.100 tấn / ngày
2004 2.300 tấn / ngày
(Theo nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam 2005.Bộ Tài nguyên và môi
trường. Hà Nội, 2005)
Theo các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bình quân lượng chất thải
rắn sinh hoạt ở các đô thị nước ta khoảng từ 0,5-1,2 kg/người/ngày.Trọng lượng
chất thải rắn đô thị ở dao động từ 400-420 kg/m
3
. Hiện Công ty MTĐT sử dụng
hệ số chuyển đổi đơn vị từ trọng lượng sang thể tích rác bằng 0,42 ÷ 0,45 (Theo
đề án thực hiện xã hội hoá công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt,
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
phế thải xây dựng tại phường Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội,
UBND quận Đống Đa, HTX Thành Công. Hà Nội, 2002), nghĩa là:

Kim loại thép
Bụi, tro, gạch
6-25
25-45
3-15
2-8
0-4
0-2
0-2
0-20
1-4
4-16
2-8
0-1
1-4
0-10
15
40
4
3
2
0,5
0,5
12
2
8
6
1
2
4

38-80
32-128
32-96
96-192
96-256
84-224
128-20
160-480
48-160
64-240
128-1120
320-960
228
81,6
49,6
64
64
128
160
104
240
193,6
88
160
320
480
Tổng hợp 100 15-40 20 180-420 300
(Theo nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005-chất thải rắn, bộ
Tài nguyên và môi trường 2005)
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44

Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
dụng…Ngoài ra trong quá trình chăm nuôi bệnh nhân cũng phát sinh các loại
chất thải rắn tương tự như ở các hộ gia đình.
- Hoạt động công nghiệp: bao gồm hai hoạt động chính là hoạt động sản
xuất và hoạt động quản lý. Chất thải phát sinh từ hoạt động quản lý cũng tương
tự như ở các cơ quan, công sở. Các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp có thành phần và tính chất độc
hại tùy thuộc vào đặc điểm ngành công nghiệp. Đối với các khu công nghiệp lớn
còn có các loại chất thải giống như hộ gia đình phát sinh từ việc sinh hoạt hàng
ngày của công nhân tại khu công nghiệp.
Như vậy tất cả các hoạt động của con người đều trực tiếp hay gián tiếp
làm phát sinh ra chất thải rắn đô thị. Mức độ nhiều hay ít phụ thuộc vào cuộc
sống sinh hoạt của mỗi người. Từ đó, con người cần có ý thức thu gom chất thải
rắn sinh hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường.
2.4. Phân loại chất thải rắn đô thị.
Dựa vào đặc điểm và nguồn phát sinh các loại chất thải rắn ở đô thị, có thể
phân loại như sau:
- Rác thải hữu cơ dễ phân hủy: rau, củ, quả, thực phẩm…
- Chất hữu cơ khó phân hủy: giấy, thủy tinh, nhựa, vải, gỗ...
- Chất vô cơ: kim loại, bê tông, thạch cao…
- Chất thải nguy hại:sơn, hóa chất…
- Rác y tế: bệnh phẩm, thuốc, bông băng…
Người ta dựa vào đặc điểm của mỗi loại chất thải để có cách thu gom và
xử lý riêng. Phế thải xây dựng có khối lượng lớn được vận chuyển đến bãi đổ và
tận dụng để san lấp. Chất thải y tế và chất thải công nghịêp do có khả năng lây
nhiễm và mức độ độc hại cao nên được phân loại và tổ chức thu gom, vận
chuyển, xử lý riêng.
Những loại chất thải khác phát sinh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày

Từ năm 1998 Hà Nội là địa phương đầu tiên triển khai công tác quản lý và
xử lý chất thải rắn y tế, đã đầu tư xây dựng lò đốt chất thải rắn nguy hại y tế tập
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
trung tại Cầu Diễn và chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2000 đồng thời tổ
chức triển khai phân loại chất thải rắn y tế ngay từ cơ sở và thu gom, vận chuyển
đến nơi xử lý tập trung.
Từ năm 1998 Hà Nội là địa phương đầu tiên tiến hành việc xử lý chất thải
rắn sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh tại khu liên hợp xử lý chất
thải rắn Nam Sơn-Sóc Sơn với tổng năng lực chôn lấp là 13,8 triệu tấn chất thải
rắn sinh hoạt trên tổng diện tích bãi là 83,3 ha. Song song việc vận hành khai
thác khu liên hợp xử lý tại Nam Sơn-Sóc Sơn, được phép của Thủ tướng Chính
phủ Thành phố Hà Nội đã và đang đầu tư xây dựng các khu xử lý chất thải sinh
hoạt tại các huyện Gia Lâm, Đông Anh và Thanh Trì nhắm nâng cao năng lực
xử lý chất thải trên địa bàn thành phố.
Về chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại đang là thách thức
lớn đối với công tác quản lý môi trường của Thành phố, năm 2002 lực lượng
quản lý thị trường, chi Cục bảo vệ thực vật và các Sở khoa học Công nghệ và
Môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công an, Tài chính, Y tế đã
phối hợp với Bộ Tư lệnh Hóa học- Bộ quốc phòng, Sở Khoa học Công nghệ và
Môi trường tỉnh Hà Tây tổ chức tiêu hủy hơn 10 tấn thuốc Bảo vệ thực vật cấm
sử dụng tồn đọng và một số hóa chất y tế theo đúng Qui chế quản lý chất thải
nguy hại ban hành theo Quyết định số 155/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999
của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện nay Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà Đất Hà Nội đang khẩn trương
soạn thảo Qui định tạm thời về Quản lý chất thải công nghiệp(bao gồm cả chất
thải nguy hại) để tháng 7 năm 2004 trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét
ban hành tạo cơ sở pháp lý tăng cường các hoạt động Quản lý chất thải công
nghiệp nói chung, chất thải nguy hại nói riêng trên địa bàn thành phố.

ở nước ngoài có cấp học bổng.
Giải pháp quản lý:
- Phải xây dựng một kế hoạch tổng thể và chiến lược lâu dài về quản lý
chất thải rắn.
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Từng bước xây dựng và tăng cường hệ thống tổ chức quản lý nhà nước
về môi trường ở các cấp cơ sở.
- Thực hiện nghiêm túc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án và
các cơ sở đang hoạt động. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối
với dự án kinh tế- xã hội, các dự án đầu tư theo luật định.
- Thiết lập mạng lưới quan trắc và dự báo môi trường chung cho các chất
thải, trong đó có chất thải rắn đô thị.
- Quan tâm đầu tư kinh phí cho xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo
đội ngũ cán bộ chuyên môn về chất thải rắn nói chung và kinh tế chất thải nói
riêng.
Giải pháp tuyên truyền, giáo dục:
- Nâng cao nhận thức về môi trường cho nhân dân từ người già đến trẻ
nhỏ. Thông qua giáo dục và động viên, nhân dân và các tổ chức, cơ quan, xí
nghiệp, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng sẽ nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng và tính cấp bách của bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững.
- Đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, đặc biệt là phương tiện truyền
thông đại chúng. Nội dung thông tin tuyên truyền ngoài vấn đề môi trường
chung, còn bao gồm kiến thức chung về chất thải rắn, chất thải rắn với việc ô
nhiễm môi trường, các phương pháp hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải
rắn. Luật bảo vệ môi trường, các quy định dưới luật.
- Coi vấn đề quản lý chất thải rắn là một phần trong chương trình giảng
dạy môi trường cần đưa vào khuôn khổ giáo dục hiện hành.

là các cơ sở tư nhân trong giai đoạn đầu, sau đó có thể thí điểm mô hình doanh
nghiệp nhà nước.
- Hòa nhập phụ nữ vào hệ thống quản lý chất thải rắn. Trong bối cảnh
hiện nay, phụ nữ có mặt rất đông đảo trong lĩnh vực này. Người phụ nữ có một
kỹ năng trong việc trung chuyển chất thải từ nhà bếp ra phố, từ phố tới những
nơi thu gom, trong đó bao gồm cả việc tái sinh lại chất thải. Người phụ nữ cũng
tham gia vào những quyết định liên quan tới việc tiếp nhận công nghệ mới về
thu gom chất thải rắn. Tất cả các khía cạnh xã hội của việc tiếp nhận công nghệ
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
này đều tác động trực tiếp tới phụ nữ của đô thị. Với việc hòa nhập, sẽ nâng cao
mức độ tái sinh rác của phụ nữ nói chung và nhất là của người thu dọn rác cũng
như người buôn đồng nát.
Như vậy, để quản lý hiệu quả chất thải rắn đô thị ở Hà Nội, cần thực hiện
tốt các giả pháp đồng thời kết hợp với sự quản lý của các cơ quan chức năng đạt
hiệu quả về mặt xã hội trong việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn đô thị.Dưới
đây là mô hình tham gia quản lý chất thải rắn của các sở, ban, ngành liên quan.
3.2. Mô hình tham gia quản lý chất thải rắn đô thị Hà Nội.
Việc thu gom chất thải rắn ở đô thị hiện nay vẫn được coi là hoạt động
công ích, chịu sự quản lý của các sở, ban, ngành, UBND địa phương, hoạt động
với mục đích là đạt hiệu quả xã hội trong việc thu gom, vận chuyển chất thải
rắn đô thị. Tham gia vào công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố
Hà Nội có các cơ quan quản lý sau:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN & MT) : chịu trách nhiệm vạch
chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước trong
việc đề xuất luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia.
- Bộ Xây dựng : hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản
lý chất thải.
- UBND thành phố: quyết định những chủ trương biện pháp để đảm bảo

nước hoạt động công ích, trực thuộc Sở GTCC.
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Vận chuyển chất thải
Xử lý chất thải
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp Mối quan hệ một chiều
Mối quan hệ hai chiều
Hình 1: Mô hình tổ chức quản lý nhà nước của công ty MTĐT Hà Nội.
Hiện nay ở Hà Nội có 8 đơn vị tham gia xã hội hóa công tác vệ sinh môi
trường đô thị và một số tổ thu gom dân lập khác:
1.Công ty cổ phần MTĐT Thăng Long;
2.Hợp tác xã Thành Công;
3.Công ty TNHH NN một thành viên Môi trường đô thị ( do Công ty
MTĐT Hà Nội chuyển thành)
4.Công ty Cổ phần Tây Đô tách ra từ xí nghiệp MTĐT số 5
5.Công ty Cổ phần môi trường Thanh Trì;
6.Hợp tác xã Gia Lâm huyện Gia Lâm, quận Long Biên;
7.Công ty Cổ phần môi trường dịch vụ và dạy nghề Thái Dương;
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Bộ Xây dựng UBND Thành phố
Sở GTCC
Sở TN & MT
Công ty MTĐT Hà Nội UBND Các cấp
Vận chuyển chất thải
Xử lý chất thải
Chất thải
rắn

những người lao động trực tiếp tham gia việc xử lý chất thải phù hợp với khả năng
kinh phí của thành phố và Nhà nước.
Thứ ba, đưa được các công nghệ và kỹ thuật, các trang thiết bị xử lý chất
thải tiên tiến của các nước vào sử dụng ở trong nước, đào tạo đội ngũ cán bộ quản
lý và lao động có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề, có trách nhiệm
với vấn đề môi trường của đất nước. Phù hợp với cơ chế quản lý chung của Nhà
nước theo hướng chấp nhận mở cửa và cạnh tranh với nhiều thành phần kinh tế
Phân tích dây truyền thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị bao
gồm các công đoạn:
* Các nguồn phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm các khu dân cư (chất
thải sinh hoạt); các trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn, các cửa hàng ăn;
các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy; các công sở, trường học, công trình công cộng;
các hoạt động công nghiệp, hoạt động xây dựng đô thị…Tuy nhiên, các nguồn
thải này không đồng bộ do ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường là khác nhau giữa
các tầng lớp dân cư làm cho khối lượng rác thải ngày càng tăng lên. Chúng ta cần
tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường cho người dân thông qua
việc đẩy mạnh công tác thu gom rác thải tại các khu dân cư.
* Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, công sở
hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý,
chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp. Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
chia ra thành các dịch vụ sơ cấp và thứ cấp. Sự phân biệt này phản ánh yếu tố là
ở nhiều khu vực, việc thu gom phải đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom
rác từ các nhà ở và thu gom tập trung về chỗ chứa trung gian rồi từ đó lại
chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lấp. Giai đoạn thu gom sơ cấp
ảnh hưởng trực tiếp đối với người dân cũng như đối với mỹ quan đô thị và hiệu
quả của các công đoạn sau đó.
Việc thu gom chất thải do Công ty Môi trường Đô thị; các Xí nghiệp môi

Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát rằng Xã hội hóa công tác bảo vệ
môi trường là đưa công tác bảo vệ môi trường trở thành công việc chung của xã
hội; là huy động ở mức cao nhất sự tham gia của toàn xã hội vào công tác bảo vệ
môi trường, xác lập cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và
thực hiện một cách công bằng, hợp lý đối với tất cả các đối tác thuộc Nhà nước
cũng như tư nhân khi tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; đề cao vai trò của
mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội phụ nữ, đoàn Thanh niên và các đoàn thể nhân
dân, các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường, đưa nội dung hoạt
động bảo vệ môi trường vào các khu dân cư, cộng đồng dân cư và phát huy vai
trò của các tổ chức này trong công tác bảo vệ môi trường.
1.1.2.Mục đích của xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Xã hội hóa bảo vệ môi trường là hướng tới toàn dân thuộc mọi giai cấp,
mọi tầng lớp xã hội.Nhiệm vụ cơ bản của xã hội hóa bảo vệ môi trường là nâng
cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường một cách thực sự đầy đủ và
động viên khuyến khích quần chúng tham gia bảo vệ môi trường với mục đích
cơ bản đó là:
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân; mọi người đều phải
nhận thức được tầm quan trọng của môi trường và có ý thức bảo vệ môi trường
nói chung. Khi người dân trực tiếp tham gia vào bảo vệ môi trường thì mới thực
sự ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác bảo vệ môi
trường. Xã hội hóa bảo vệ môi trường tạo điều kiện cho người dân thực sự làm
chủ, có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của mình và của cộng đồng.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia
vào giải quyết các vấn đề bảo vệ môi trường; mục đích là khuyến khích các tổ
chức, cá nhân, thành phần kinh tế tham gia vào công tác bảo vệ môi trường; thực
hiện cạnh tranh lành mạnh; đưa công tác quản lý, giữ gìn vệ sinh môi trường vào
nề nếp, có hiệu quả thiết thực đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ.

1.2. Nội dung của xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là một khái niệm rất rộng, bao
gồm nhiều nội dung khác nhau.Sau đây là một số nội dung cơ bản:
- Tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường làm cho mọi người dân
nhận thức được việc giữ cho môi trường trong sạch là vấn đề hết sức quan trọng
để bảo vệ xã hội, bảo vệ đất nước và bảo vệ bản thân mình.Mỗi người dân có
trách nhiệm xây dựng cho mình nếp sống sạch, hợp vệ sinh tích cực tham gia
bảo vệ môi trường của địa phương mình.
- Phát động phong trào thi đua bảo vệ môi trường thông qua các chương
trình, kế hoạch cụ thể có đánh giá thi đua và khen thưởng cho các phong trào
đạt thành tích cao trong bảo vệ môi trường.
- Xây dựng mô hình tổ chức quản lý thích hợp tùy vào điều kiện tự nhiên-
kinh tế-xã hội và hiện trạng môi trường từng khu vực, từng địa phương để lựa
chọn mô hình hợp lý nhằm phát huy công tác bảo vệ môi trường một cách hiệu
quả nhất.Việc xây dựng mô hình quản lý môi trường thích hợp sẽ quyết định đến
hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường.
- Xây dựng các cơ chế chính sách quản lý xã hội hóa bảo vệ môi trường
tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh
Sinh viªn: NguyÔn ThÞ HuÕ Líp KTMT44


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status