Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế - xã hội gắn kết với bảo vệ môi trường là mục tiêu và cũng là
đường hướng cơ bản để đạt tới sự phát triển bền vững. Thật khó có thể dùng một
thước đo hay một công cụ nào khác để đo đếm sự hơn kém về tầm quan trọng giữa
môi trường và phát triển. Do đó không thể có sự đánh đổi của môi trường cho phát
triển hay ngược lại. Bảo vệ môi trường theo đó trở thành một vấn đề mang tính tất yếu
khách quan trong thời đại phát triển ngày nay.
Việt Nam đang trên con đường phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh
sự cần thiết của công tác bảo vệ môi trường, coi đó là công việc mang tính thường
xuyên, cấp bách của toàn xã hội. Quan điểm, chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ
môi trường được Đảng, Nhà nước xác định rõ và bước đầu được cụ thể hóa triển khai
vào thực tế đời sống.
Vấn đề xây dựng mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường mà nhóm
chúng em trình bày dưới đây là một nội dung quan trọng, góp phần thực hiện chủ
trương xã hội hóa mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu,
trên cơ sở nền tảng lý luận được xây dựng, chúng em sẽ đi sâu vào phân tích, đánh giá
về một số mô hình và đưa ra những giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện các mô hình
này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể
tránh khỏi thiếu xót và hạn chế. Vì vậy, chúng em rất mong nhận được ý kiến nhận
xét đóng góp của cô.
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN
1. Môi trường
Nhiều học giả đưa ra định nghĩa khác nhau về môi trường. Sau đây là một số
Theo quan niệm của Unesco thì cộng đồng được coi là: “ Là một tập hợp người
cùng sống trong một khu vực địa lý hoặc trong cùng một đơn vị hành chính, có chung
các lợi ích, các điều kiện tồn tại và họat động” (Cứu lấy trái đất, 1983). Khái niệm
cộng đồng ở đây được dùng với ý nghĩa là cộng đồng người cùng chung sống trên
một đơn vị hành chính, như kiểu một đô thị; có chung một nền văn hóa, như kiểu một
bộ tộc; hoặc một vùng địa phương thuộc thành thị hay nông thôn, như kiểu một nhóm
người cùng sống tại một vùng thung lũng hoặc một nơi cùng có tính đặc thù.
Ngoài ra, cộng đồng còn được hiểu là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được
quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các
điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm
các hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư
tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện
sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và các phương tiện
hoạt động (Tô Duy Hợp& Lương Hồng Quang.2000).
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng nhưng nhìn chung chúng ta
có hai cách hiểu về cộng đồng: cộng đồng tính và cộng đồng thể, đó là hai cách hiểu
khác nhau nhưng không phải là đối lập nhau.
- Cộng đồng tính: là thuộc tính hay quan hệ xã hội có đặc trưng cho một cộng
đồng như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng …
- Cộng đồng thể: là những tập hợp người (nhóm người, nhóm xã hội) có tính
cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn,
thể cực lớn, từ gia đình đến quốc gia và rộng ra nhân loại.
4. Xã hội hóa về bảo về môi trường
Trong những năm 90 đến nay Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều văn bản để thực
hiện chủ trương XHH các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và tiến bộ xã hội. Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41 về bảo về
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó
nhấn mạnh XHH là một trong những giải pháp chính để giải quyết vấn đề bảo vệ môi
trường hiện nay. Qua đó XHH BVMT được nhìn nhận với các nội dung sau:
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực.
Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau thì có các xu hướng gây ô
nhiễm môi trường khác nhau. Ví dụ:
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
- Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài
nguyên và năng lượng của loài người.
- Ô nhiễm do nghèo đói: những người nghèo khổ ở những nước nghèo chỉ có con
đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, nông
nghiệp…). Do đó, ngoài 20% số người giàu thì 80% số dân còn lại chỉ sử dụng 20%
phần tài nguyên và năng lượng của loài người.
Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển dẫn đến sự xuất hiện các quan niệm
hoặc các lý thuyết khác nhau về phát triển: lý thuyết đình chỉ phát triển là làm cho sự
phát triển kinh tế bằng 0 hoặc mang giá trị âm để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của
trái đất. Một số nhà khoa học lại đề xuất lấy bảo vệ để ngăn chặn sự khai thác tài
nguyên thiên nhiên. Năm 1992, các nhà môi trường đã đưa ra qua niệm phát triển bền
vững, đó là phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa
môi trường với phát triển. Môi trường đã trở thành một trong những yếu tố đầu vào
của quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo cho một quốc gia phát triển mà không ảnh
hưởng đến thế hệ tương lai.
2. Con người và môi trường là thể thống nhất với nhau
Con người là một bộ phận của xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với
môi trường. Lịch sử phát triển của tự nhiên cũng như của loài người đã chứng minh
một luận điểm quan trọng rằng: môi trường chứa đựng và cung cấp nguồn sống cho
con người, ngược lại con người là tác nhân là chủ thể cải tạo môi trường tự nhiên, gây
ra những biến đổi quan trọng của môi trường sống. Chúng ta đều biết rằng năm cuộc
khủng hoảng lớn hiện nay mà thế giới đang đối mặt là: dân số, lương thực, năng
lượng, tài nguyên và sinh thái đều liên quan rất chặt chẽ với môi trường và rằng tất cả
các cuộc khủng hoảng đó đều do con người chúng ta gây ra. Chính vì vậy, không ai
ngoài con người phải nhận lấy trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của
trường sống của quốc gia mình.
III. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC XHH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1. Mục tiêu của xã hội hóa
Đảng và nhà nước ta luôn nhấn mạnh bảo vệ môi trường là một trong những vấn
đề sống còn, là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bảo đảm sức khỏe, chất lượng cuộc
sống nhân dân; bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một trong những nội dung
cơ bản để đạt được sự phát triển bền vững ở nước ta. BVMT được xác định là một
nhiệm vụ vừa phức tạp vừa cấp bách, do đó cần có sự tham gia của toàn xã hội. Nói
cách khác, công tác XHH bảo vệ môi trường là cần thiết và cần được đẩy mạnh thực
hiện.
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Trong chỉ thị số 36/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 xác định: “Bảo vệ
môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”. Nghị quyết số
41/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa và Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường giai
đoạn 2001-2010, định hướng đến năm 2020 tiếp tục nhấn mạnh: “BVMT là nhiệm vụ
của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi ngừời
dân”. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng về
bảo vệ môi trường trong thời kỳ mới trong đó cũng xác định rõ trách nhiệm của toàn
xã hội đối với công tác bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững.
Công tác XHH bảo vệ môi trường được xác định hướng vào các mục tiêu cơ bản
như sau:
Trước hết, XHH bảo vệ môi trường nhằm tạo ra sự chuyển biến căn bản trong
nhận thức của toàn xã hội về BVMT, BVMT liên quan đến lợi ích thiết thân, là quyền
và nghĩa vụ của từng cá nhân, tổ chức trong xã hội. Trên cơ sở đó xây dựng cộng
đồng trách nhiệm trong BVMT.
Xã hội hóa bảo vệ môi trường nhằm huy động, vận động và tổ chức sự tham gia
rộng rãi của toàn xã hội, bao gồm sự huy động về vật lực, nhân lực, sự tham gia bằng
Thứ năm, huy động cộng đồng đóng góp nguồn lực cho công tác BVMT. Nguồn
lực bao gồm sự đầu tư về vốn, nguồn lực con người, nguồn lực khoa học công nghệ…
Trên cơ sở đó góp phần thực hiện thành công các chương trình, mô hình cũng như các
phong trào BVMT.
3. Vai trò của các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường
Cộng đồng tham gia vào giải quyết các vấn đề môi trường trước hết là nội dung
thể hiện tính dân chủ, tức là mọi người dân có quyền và được khuyến khích tham gia
vào công việc quản lý của nhà nước, góp phần cùng với nhà nước thực hiện việc
BVMT. Tuy nhiên, vấn đề cần được nhấn mạnh ở đây là ý thức của cộng đồng về môi
trường. Đó là cơ sở, là nền tảng cho các yếu tố nhận thức, thái độ và hành động cụ thể
của các thành viên trong cộng đồng.
Xã hội hóa công tác BVMT được đặt ra song phải có hướng đi và các giải pháp
đúng đắn. Trong đó việc xây dựng các mô hình cộng đồng tham gia BVMT hay mô
hình XHH bảo vệ môi trường là một nội dung quan trọng.
Các mô hình được xây dựng có sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, đó là một
quá trình có sự đầu tư về trí tuệ, tâm huyết và cả những yếu tố vật chất khác. Mô hình
XHH bảo vệ môi trường được triển khai trên nhiều lĩnh vực khác nhau và thông
thường sẽ theo hai phương thức thứ nhất là người dân chủ động thiết lập các mô hình
theo kiểu tự quản, thứ hai là người dân sẽ cùng với các cơ quan nhà nước mà cụ thể ở
đây là các Trung tâm, các Viện nghiên cứu khoa học áp dụng và triển khai trên thực tế
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
các mô hình. Mô hình XHH bảo vệ môi trường hiện nay được tập trung vào 4 loại cơ
bản là mô hình trong đời sống sinh hoạt; mô hình trong công nghiệp; trong nông
nghiệp; và các phong trào BVMT. Qua việc thực hiện các mô hình đã mang lại những
chuyến biến tích cực trên mọi phương diện của đời sống kinh tế - xã hội, như gắn kết
giữa mục tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu BVMT, nâng cao ý thức cộng đồng về
vấn đề BVMT, giúp khắc phục và cải thiện những vấn đề môi trường bức xúc hiện
nay.
CHƯƠNG II
Những nội dung cơ bản của XHH hoạt động BVMT đang được thực hiện như
xác định trách nhiệm các bên, tạo cơ sở pháp lý cho cộng đồng; xây dựng và thực
hiện hương ước, quy ước bảo vệ môi trường; phát triển phong trào quần chúng; xây
dựng mô hình BVMT lồng ghép các mô hình kinh tế - xã hội; huy động cộng đồng
đóng góp nguồn lực…kết quả mang lại từ những họat động này là việc nâng cao nhận
thức và hiểu biết của toàn xã hội về BVMT, thu hút sự chung tay, đóng góp và hành
động vì một môi trường bền vững.
2. Những yếu kém, hạn chế
Môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp mạnh, có nơi đã đến mức báo
động. Cụ thể là:
Tình trạng suy thoái môi trường đất: diện tích đất tự nhiên bình quân trên đầu
người và diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp và ngày càng giảm. Các hiện
tượng thoái hóa đất như xói mòn, rửa trôi, nhiềm mặn,…ở cả vùng đồng bằng và miền
núi đều gia tăng. Diện tích đất sử dụng cho mục đích nông nghỉệp ở nước ta là rất lớn
song trong quá trình sản xuất đất đai bị sử dụng quá tải, việc sử dụng không đi đôi với
bảo vệ, khiến cho chất lượng đất ngày càng suy giảm.
Chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh: nguồn nước ở nước ta phong phú,
dồi dào song việc xây dựng chiến lược sử dụng lâu dài cũng như quản lý đối với tài
nguyên này còn nhiều yếu kém. Mặt khác, những tác động xuất phát từ chính đời
sống sinh hoạt của người dân, đã trở thành những nguyên nhân làm cho môi trường
nước ở nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân
dân, vấn đề nước sạch đối với cả hai khu vực thành thị và nông thôn đều trở nên bức
thiết và gặp nhiều khó khăn trong giải quyết .
Tình trạng ô nhiễm nặng về không khí ở nhiều đô thị và khu dân cư. Sự phát
triển mạnh của các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp…làm cho các
hiện tượng khí độc, khói bụi, chất thải, hiện nay đang ở mức báo động, đặc biệt ở các
khu công nghiệp lớn như Việt Trì, Thái Nguyên, Biên Hòa, Đồng Nai….
Khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng đặc biệt là
chất thải rắn. Thống kê cho thấy lượng chất thải rắn ở đô thị, khu công nghiệp được
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
nhiều điểm bất cập chưa được tháo gỡ như sự phân công, phân cấp trách nhiệm chưa
rõ ràng; việc tổ chức và triển khai pháp luật, chương trình, kế hoạch về BVMT chưa
nghiêm, chưa hiệu quả; năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu.
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
II. THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
1. Mô hình XHH trong sinh hoạt
Đối với mỗi người dân nhu cầu sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu, liên quan đến đời
đống thường ngày của họ. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường
trong sinh hoạt của người dân đã và đang là thực trạng bức xúc ở cả nông thôn và
thành thị. Để giải quyết vấn đề này, việc xây dựng các mô hình XHH bảo vệ môi
trường trong sinh họat trở thành một trong những giải pháp được chú trọng và mang
lại những hiệu quả thiết thực trong việc BVMT sinh hoạt.
Dưới đây là việc tìm hiều về một số mô hình:
1.1 Mô hình tự quản bảo vệ môi trường
1.1.1 Thành lập tổ, đội tự quản BVMT
Đây là mô hình được cụ thể hóa với hai hình thức cơ bản:
Hình thức thứ nhất là việc thành lập tổ, đội chuyên môn thu gom rác thải giữ gìn
vệ sinh chung:
Đây là mô hình có sự tác động và khởi xướng của chính quyền xã, phường để
hình thành nên tổ, đội chuyên làm công tác thu gom rác thải. Các tổ, đội này do chính
người dân trên địa bàn tham gia dưới hình thức cử hoặc tự nguyện, họ được trang bị
những phương tiện cần thiết: xe thu gom rác, quần áo bảo hộ…và tiến hành thu phí
thu gom rác từ các hộ gia đình. Việc thu phí và trả tiền công hàng tháng cho những
người thu gom có sự thảo luận, bàn bạc quyết định của người dân và chính quyền. Sau
khi thu gom rác, tổ, đội sẽ làm công tác vận chuyến rác đến các bãi rác đã được quy
hoạch trên địa bàn. Hiện nay mô hình này đã và đang được triển khai thực hiện trên
nhiều địa bàn dân cư ở cả thành thị và nông thôn. Điển hình là:
- Đội chuyên trách vệ sinh môi trường ở xã Thạch Kim – Thạch Hà – Hà Tĩnh.
định, trong đó nhóm các hộ này sẽ tự tổ chức bảo nhau giữ gìn vệ sinh trong phạm vi
gia đình mình cũng như tổ của mình. Mô hình này tập trung vào việc thực hiện khẩu
hiệu “sạch từ nhà ra ngõ”, nâng cao tính tự giác của bản thân mỗi gia đình cũng như
tăng cường sự đoàn kết giữa các gia đình trong nhóm vì môi trường chung. Đặc biệt
mô hình này sẽ đạt hiệu quả rất cao khi được lồng ghép vào cuộc vận động toàn dân
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua đó góp phần nâng cao từng bước nhận
thức của người dân, giúp họ có thói quen tự giác thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi
trường, các họat động tự quản được đi vào nền nếp.
Trên thực tế mô hình này đã được áp dụng thành công ở nhiều vùng dân cư, ví
dụ như các phường trên địa bàn Hà Nội (Ngọc Khánh, Thành Công…), từ đó nhiều
cụm, khu dân cư văn hóa được thành lập, trong đó người dân tích cực tham gia hoạt
động BVMT góp phần tạo dựng nếp sống văn minh, lành mạnh.
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
1.1.2 Mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường
Hợp tác xã (HTX) được thành lập trong đó tập hợp các xã viên chuyên thực hiện
các công việc liên quan đến môi trường như: thu gom và xử lý rác thải. Các xã viên sẽ
đóng góp cổ phần và có trách nhiệm thu phí vệ sinh của các hộ dân, các cơ quan đóng
trên địa bàn để trả lương và duy trì hoạt động.
Trên thực tế mô hình này đã thực hiện thành công ở một số địa phương sau:
- Ở thị trấn Chờ - Yên Phong – Bắc Ninh, trước tình hình ô nhiễm môi trường
lãnh đạo huyện Yên Phong và UBND thị trấn đã cùng nghiên cứu, tổ chức HTX dịch
vụ vệ sinh môi trường, trồng, chăm sóc cây xanh, chế biến phân vi sinh từ rác thải
phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thời gian đầu, trang thiết bị, phương tiện làm việc, bãi
đổ rác thải được ngân sách huyện bao cấp còn UBND thị trấn bố trí nhà và nơi làm
việc cho xã viên. Chín xã viên trong HTX phải đóng cổ phần và có trách nhiệm thu
phí vệ sinh để trả lương và duy trì hoạt động. Sau một tháng hoạt động, HTX đã thành
lập các tổ: vệ sinh môi trường, tổ trồng, chăm sóc cây và tổ sản xuất phân vi sinh. Tổ
vệ sinh môi trường hàng ngày quét dọn đường phố, thu gom rác thải đổ ở bãi rồi phun
chế phẩm EM để khử mùi hôi thối.
Hương ước có lịch sử hình thành và phát triển từ nhiều thế kỷ trước đây. Một
nội dung không thể thiếu ở bất kỳ hương ước nào là các quy định về BVMT. Những
quy định về bảo vệ môi trường của các bản hương ước đã góp phần quan trọng vào
công tác BVMT ở các địa phương, tăng cường ý thức BVMT của mỗi người dân trên
địa bàn.
Xin nêu một vài điển hình về mô hình này:
- Làng Chiết Bi – Thủy Tân – Hương Thủy – Thừa Thiên Huế là một trong
những địa phương đầu tiên trong cả nước có hương ước BVMT. Một trong những tác
giả khởi xướng việc xây dựng hương ước BVMT của Chiết Bi là đội Tình nguyện
xanh – tập hợp những đoàn viên tích cực BVMT. Các thành viên của đội tình nguyện
xanh đã truyền đạt những kiến thức về BVMT, những việc làm cụ thể để làm cho nhà
sạch, xóm sạch, cuộc sống văn minh, đẩy lùi bệnh tật. Nội dung xây dựng hương ước
– ý tưởng của đội tình nguyện xanh được chính quyền xã, hội Nông dân, hội Người
cao tuổi ủng hộ. Mười hai trưởng họ trong làng đã họp với nhau và thống nhất trong
việc xây dựng hương ước của làng.
Hương ước của làng Chiết Bi gồm bốn chương: Chương I, quy định chung gồm
2 điều nói lên trách nhiệm của làng và mỗi người dân trong làng đối với việc chấp
hành pháp luật; chương II gồm 5 điều quy định về các hành vi: không được phóng uế,
xả rác bừa bãi, xây dựng nhà tiêu, hố rác, không vất bừa bãi vỏ chai thuốc trừ sâu, hạn
chế sử dụng bao nilon, mọi gia đình có trách nhiệm bảo vệ nguồn nước, …đặc biệt là
hẹn nhau là cứ vào ngày 30 và 14 âm lịch hàng tháng và sau bão lụt làng đều tổ chức
làm vệ sinh môi trường ở đường làng, ngõ xóm, tu sửa đường xá…và các gia đình
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
phải có người tham gia. Chương III gồm 2 điều nêu ra các quy định về thưởng phạt.
Chương IV gồm 3 điều khoản về thi hành. Làng cử ra Ban thường trực để tổ chức
giám sát việc thực hiện hương ước. Các trưởng làng, trưởng họ, trưởng xóm và các tổ
trưởng của các đoàn thể: hội nông dân, hội phụ nữ, thanh niên, hội cựu chiến binh,
người cao tuổi, mặt trận tổ quốc trên đại bàn dân cư, đội tình nguyện xanh, ban y tế
giúp đỡ Ban điều hành trong giám sát, thực hiện hương ước. Điều 11 quy định, hương
1.2. Mô hình doanh nghiệp hoạt động công ích chuyên trách BVMT
Ở loại mô hình này, doanh nghiệp chuyên trách về môi trường (do nhà nước
hoặc tư nhân thành lập) đảm nhận việc huy động sự đóng góp của cộng đồng dân cư.
Nguồn lực hoạt động của mô hình có sự hỗ trợ từ nhiều nguồn như hỗ trợ tài chính từ
ngân sách địa phương, thu phí môi trường từ cộng đồng (dân cư, kinh doanh, sản
xuất ), các dự án môi trường trong nước và các tổ chức quốc tế tài trợ.
Doanh nghiệp công ích do nhà nước thành lập như Công ty môi trường đô thị Đà
Nẵng thực hiện việc thu phí vệ sinh môi trường. Mức thu phí được xác định cụ thể
phù hợp theo từng đối tượng như: đối với hộ gia đình mức thu phí được tính theo
khẩu, đối với khách sạn thhu theo số lượng phòng, đối với khu vực chợ thu theo sạp
hàng…mức thu phí cũng được phân biệt theo loại đường phố, khu vực dân cư theo
nguyên tắc hộ dân cư được hưởng nhiều dịch vụ (thu gom rác, quét đường, tưới nước
chống bụi) có mức thu phí cao hơn; theo mức độ nguy hại của chất thải thực hiện
nguyên tắc chất thải có mức độ nguy hại cao hơn phải trả phí cao hơn. Với các quy
định mức thu hợp lý như vậy cộng với việc tổ chức thu tốt nên Công ty môi trường đô
thị Đà Nẵng đã huy động được một lượng tiền khá lớn, hơn hẳn khoản chi của ngân
sách thành phố cho khoản mục này. Cụ thể năm 1998 tổng chi phí cho thu gom rác
thải của công ty là 5 tỷ đồng trong khi khoản chi cho mục này từ ngân sách thành phố
chỉ là 200 triệu đồng.
Mô hình thành lập các doanh nghiệp thu gom rác thải cũng được nhân rộng và
thực hiện ở nhiều địa phương khác, đặc biệt là các đô thị như Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh…
Doanh nghiệp do tư nhân thành lập như Công ty TNHH Huy Hoàng, doanh
nghiệp này hoạt động từ năm 1993 theo quyết định của UBND tỉnh Lạng Sơn với
chức năng hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường. Mức thu phí vệ sinh môi
trường do công ty này đảm nhận nhưng thực hiên theo quyết định của HĐND tỉnh.
Như vậy, qua mô hình này có thể thấy được vai trò rất lớn của các doanh nghiệp
trong hoạt động BVMT, do có những ưu điểm như thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải được thực hiện nhanh hơn, chuyên nghiệp hơn, có sự đầu tư về trang thiết bị,
công nghệ xử lý… nên tạo dựng được khung cảnh xanh – sạch – đẹp cho các khu vực
Có nghĩa là mô hình làng sinh thái được xác định trên cơ sở sinh thái học và sự kết
hợp kiến thức truyền thống (hay còn gọi là kiến thức bản địa) với kiến thức khoa học
trong tổ chức, xây dựng không gian sống, các hình thức sản xuất, sinh hoạt, hoạt động
văn hóa dân gian, cũng như chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, xây dựng thành công mô hình làng sinh
thái ở các vùng sinh thái nhạy cảm, kém bền vững sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người
dân. Từ việc nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân bằng những ngành nghề
nông – lâm – ngư nghiệp và làm giàu cho xã hội, tạo dựng một cuộc sống ấm no,
hạnh phúc trên cơ sở phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả đến
việc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh, đồng thời cũng bảo tồn và phát
huy truyền thống văn hóa dân tộc. Mô hình làng kinh tế sinh thái thực chất là một
biện pháp tác động đến nhiều hướng đích tập trung ở những vùng nông thôn có điều
kiện tự nhiên đặc thù và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Thực tế cho đến nay, 6 mô hình làng kinh tế sinh thái được Viện kinh tế sinh
thái xây dựng thành công tại các địa phương, áp dụng cho các vùng đất có hệ sinh thái
kém bền vững là đất dốc, bãi cát và vùng ngập nước. Để phân tích tính thực tế và hiệu
quả của mô hình này, chúng ta sẽ tìm hiểu ví dụ sau đây về làng kinh tế sinh thái Hợp
Nhất – Ba Vì – Hà Tây cũ. Đây là làng sinh thái xây dựng cho vùng đất dốc, vùng đất
được đánh giá là có địa hình đa dạng và phức tạp nhất. Đặc điểm địa hình của vùng
vừa là yếu tố tăng thêm tính đa dạng của vùng sinh thái này, nhưng đồng thời là yếu
tố hạn chế sự phát triển. Do địa hình phức tạp nên giao thông đi lại khó khăn, hạn chế
sự buôn bán, trao đổi hàng hóa, thông tin giữa các cộng đồng dân cư trong vùng. Địa
hình bị chia cắt mạnh, phân hóa theo chiều hướng khác nhau tạo nên mạng lưới thủy
văn phức tạp và nhiều tiểu vùng với các đặc trưng về khí hậu, đất đai, tài nguyên nước
khác nhau.
Làng Hợp Nhất là làng người Dao xuống dưới núi định canh, định cư, được hình
thành từ những năm 60. Trước đây, do phong tục tập quán, cách sống của đồng bào
của người Dao ở Ba Vì không biết trồng trọt thâm canh, tăng vụ, vùng đất chuẩn để
tận dụng phân bón cho cây trồng cải tạo đất. Chỗ thích hợp có thể đào ao thả cá, lấy
cá ăn và giữ nước tưới cho vườn. Vận dụng VAC để phát triển kinh tế gia đình ở các
sườn dốc, bà con tận dụng làm máy phát điện, làm đập giữ nước để tưới cây trồng vào
các mùa khô. Đến nay, 95% các gia đình đều có vườn bậc thang trồng rau, quả cung
cấp cho người, chăn nuôi lấy thịt bán ra thị trường, lấy phân cho cá, cho vườn. Vì vậy
bà con vừa có thêm thu nhập vừa bảo vệ môi trường.
Ngoài mô hình chúng ta phân tích ở trên thì ở một số địa phương cũng đã triển
khai thực hiện có hiệu quả mô hình này như mô hình Làng sinh thái ở Hải Thủy-
Quảng Bình, là một trong 6 mô hình do Viện kinh tế sinh thái xây dựng và áp dụng
trong thực tế.
Như vậy, cái lớn nhất mà mô hình mang lại là việc tác động thay đổi những tập
quán sản xuất lâu đời, sống thân thiện với môi trường hơn. Bên cạnh việc tạo cho
người dân có cuộc sống ổn định thì lợi ích về môi trường mà làng kinh tế sinh thái
đem lại là rất lớn. Từ một hệ sinh thái đang bị suy thoái trầm trọng, đất bị rửa trôi bạc
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
màu, cây cối thưa thớt thành một hệ sinh thái cây cối đan xen phát triển, độ phì nhiêu
của đất tăng lên, lượng nước giữ được trong đất cao, tạo điều kiện phát triển cây
trồng, diện tích phủ xanh không ngừng được tăng lên. Chính vì vậy đây là mô hình
cần tiếp tục nghiên cứu và nhân rộng trên nhiều địa bàn có điều kiện về tự nhiên
tương đồng.
2.2. Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày nay khi chúng ta đã gia nhập WTO, hàng hóa nông sản của chúng ta đã có
mặt ở nhiều thị trường trong khu vực và thế giới. Để đáp ứng được nhu cầu cao về
chất lượng sản phẩm từ các thị trường “khó tính” này, đồng thời nhằm nâng cao giá trị
xuất khẩu của các mặt hàng trong nước, chúng ta cần nghiên cứu, thí điểm và nhân
rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ môi
trường sinh thái tại các vùng nông thôn ở nước ta. Một trong nhiều mô hình được
thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp là mô hình sản xuất “nông nghiệp hữu cơ”.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ được đánh giá là một trong những phương pháp
với cây vải thiều trên quy mô diện tích khoảng 10 ha. Các hộ nông dân đã áp dụng
nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật canh tác như sản xuất phân bón (phân ủ) tại chỗ;
nuôi các côn trùng có ích và giữ gìn đa dạng sinh học; chỉ sử dụng các loại thuốc
phòng trừ sâu bệnh sinh học để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại; thiết kế khu vườn trồng
bằng cắt tỉa, tạo tán; áp dụng hệ thống luân canh và trồng xen canh các loại cây trồng
ngắn ngày khác…
Đến nay, mô hình này đang được duy trì, nhân rộng và phát huy hiệu quả, ngày
càng có nhiều hộ nông dân địa phương tự nguyện áp dụng vào sản xuất do có nhiều
lợi ích như chất lượng quả vải thiều cao hơn, bán được giá cao hơn (vụ vải thiều năm
2008 bản được khoảng 7 nghìn đồng/kg, gấp 1,5 đến 2 lần so với canh tác truyền
thống) và được tiêu thụ tốt hơn, tăng độ phì nhiêu cho đất và bảo vệ môi trường. Bên
cạnh đó, một ưu điểm đáng chú ý khác của sản xuất nông nghiệp hữu cơ là đảm bảo
có sự tham gia của các thành viên, nghĩa là nếu các đơn vị, doanh nghiệp thu mua
nông sản theo dự án còn băn khoăn về ưu điểm và lợi ích của sản xuất nông nghiệp
hữu cơ thì có thể trực tiếp tham gia dự án và tự áp dụng quy trình sản xuất cũng như
giám sát chất lượng sản phẩm của chính mình.
Trong năm 2009 Hội Nông dân tỉnh BG đã tiếp tục tổ chức 8 lớp tập huấn sản
xuất nông nghiệp hữu cơ cho các hộ dân tự nguyên tham gia và tiếp tục nhân rộng mô
hình này trên cây vải thiều và các loại rau tại một số xã của thành phố BG và huyện
Lạng Giang.
Với những ưu điểm vượt trội trong sản xuất nông nghiệpvới giá trị kinh tế cao,
nên mô hình này tỉnh thành khác trong cả nước học tập kinh nghiệm và áp dụng vào
sản xuất nông nghiệp tại địa phương mình.
2.3. Mô hình kinh tế trang trại (KTTT)
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Đây cũng là một mô hình được áp dụng phổ biến tại các vùng nông thôn. Hiện
nay mô hình này đang phát huy hiệu quả với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.
Kinh tế trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông – lâm – ngư
nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở
Mô hình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
để làm nương rẫy; sản xuất được một đến hai vụ mùa, họ lại chuyển sang chặt đốt cây
vùng khác. Tài nguyên rừng trù phú đã biến thành đồi trọc hoang hóa, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường sinh thái rừng, đến đời sống nhân dân và sự an toàn của
các vùng dân cư được rừng xưa nay bảo vệ.
Năm 1989, trong khi các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc phất lên nhờ mở cửa
buôn bán với các nước bạn thì Yên Bái vẫn loay hoay với “tiềm năng đất đai” của
mình. Kinh tế trang trại trong thời gian đó đã xuất hiện nhưng chỉ mang tính thử
nghiệm ở một vài địa phương của miền núi phía Bắc. Nhưng là mô hình kinh tế linh
hoạt và phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng nên các cấp lãnh đạo tỉnh Yên Bái đã
quyết định chọn huyện Văn Chấn làm thí điểm mô hình KTTT và nếu thành công sẽ
phổ biến nhân rộng cho toàn tỉnh.
Trong vòng 10 năm từ năm 1989 – 1999, KTTT ở Văn Chấn đã có bước phát
triển nhanh chóng, đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt và môi trường cũng được cải thiện
đáng kể. Năm 1990, toàn huyện chỉ có chưa tới 100 trang trại với quy mô nhỏ từ 0,5-
4,5 ha thì năm 1999 đã phát triển gần 950 trang trại với quy mô từ 10 ha trở lên.
Hướng phát triển KTTT ở Văn Chấn rất phong phú, đa dạng, kết hợp nhiều ngành hỗ
trợ nhau, lấy ngắn nuôi dài. Hiệu quả KTTT của Văn Chấn là rõ ràng, hiện chỉ còn
khoảng 14% các hộ thuộc diện đói nghèo, nhiều hộ từ bàn tay trắng nhờ được giúp đỡ
biết làm trang trại đã vươn lên thoát nghèo làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.
Bên cạnh những kết quả kinh tế đã đạt được thì mô hình này tại Yên Bái cũng đã
góp phần quan trọng vào BVMT nhất là đối với tài nguyên rừng, đất, nước…nâng cao
ý thức trách nhiệm của người dân trong công tác BVMT ngay tại địa bàn mình sinh
sống và sản xuất.
Với những ưu điểm của mình và hình thức triển khai linh hoạt thích hợp với
nhiều vùng miền khác nhau, nên mô hình KTTT được nhiều địa phương nghiên cứu
và áp dụng vào sản xuất. Tuy nhiên, mô hình này cũng đã gặp phải những khó khăn
nhất định trong quá trình thực hiện như: ở một số địa phương mô hình KTTT phát
triển một cách tự phát, chưa theo quy hoạch của nhà nước, đây là sự phát triển kém
bền vững; nhiều địa phương chưa thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của nhà
năng, nhiệm vụ của mình, hơn nữa việc phát hiện cũng như xử lý các vi phạm đối với
các doanh nghiệp còn chậm và chưa nghiêm.
Để giải quyết vấn đề ô nhiêm môi trường trong lĩnh vực sản xuất chúng ta cần
hoàn thiện trên rất nhiều mặt với hệ thống các giải pháp đồng bộ và kiên quyết. Trên
thực tế, sự ra đời và triển khai các mô hình trong lĩnh vực công nghiệp đã mang lại
những chuyển biến về cải thiện tình hình môi trường, đồng thời nâng cao được ý thức,
trách nhiệm của cộng đồng các doanh nghiệp trong BVMT.
Dưới đây là sự phân tích một số mô hình :
Nguyễn Thị Xiêm – Bùi Thị Hằng –Nguyễn Thị Vân (a) – KH7D