Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam ngày càng xuất hiện
nhiều các đô thị với quy mô và mức độ khác nhau. Đặc điểm của các đô thị nói
chung là nền kinh tế phát triển và dân cư tập trung đông. Chính vì vậy, đi kèm
với sự phát triển kinh tế- xã hội cũng nảy sinh nhiều vấn đề môi trường, trong đó
chất thải rắn luôn là vấn đề bức xúc ở mọi đô thị.
Trong một thời gian dài, việc quản lý rác thải sinh hoạt đô thị ở nước ta là
do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm. Người dân không hề có ý thức và trách
nhiệm đối với vấn đề thu gom và sử lý rác thải. Cố gắng của các cơ quan nhà
nước, đặc biệt là các Công ty MTĐT, trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở
đô thị đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo vệ sinh môi trường của các
thành phố, đô thị. Tuy nhiên, trong tương lai các biện pháp này sẽ không bền
vững và nảy sinh nhiều vấn đề. Nguyên nhân là do mức sống của người dân
ngày càng cao làm cho lượng rác sinh hoạt luôn tăng, vượt quá khả năng thu
gom của các Công ty MTĐT. Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Việt Nam đang
cố gắng tập trung mọi nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề bằng cách phối hợp các
biện pháp chính sách tài chính và các hoạt động nâng cao nhận thức và thu hút
sự tham gia của người dân. Ý tưởng và phương pháp phát huy vai trò của cộng
đồng nhằm tăng cường quyền làm chủ và trách nhiệm của người dân trong việc
bảo vệ môi trường được gọi là “ Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường”.
Ngày 12/10/2000, UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 5466/QĐ-
UB về việc tổ chức thực hiện thí điểm xã hội hoá công tác thu gom và vận
chuyển một phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố. Cho đến nay, mô
hình này đã đem lại lợi ích nhiều mặt, giải quyết vấn đề rác thải của thành phố,
góp phần làm môi trường sạch đẹp, tạo điều kiện cho người dân làm chủ và có
trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường
của người dân thủ đô, giảm chi phí ngân sách nhà nước, tăng đóng góp của
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 2: Mô hình HTX Vệ sinh môi trường Thành Công và hiệu quả
thực tế của mô hình tại phường Văn Chương, quận Đống Đa thành phố Hà Nội.
Chương 3: Xây dựng mô hình xã hội hoá công tác thu gom và vận chuyển
rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng cho phường Khương Trung, quận Thanh
Xuân thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ của luận văn chỉ nghiên cứu mô hình xã hội hoá công
tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng của HTX Thành
Công, đánh giá hiệu quả của mô hình khi áp dụng thực tế vào phường Văn
Chương, từ đó xây dựng một mô hình xã hội hoá công tác thu gom và vận
chuyển rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng cho phường Khương Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài
sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo khoa Môi trường và các cán bộ của HTX Thành Công.
Tôi xin chân thành cảm ơn T.S Lê Hà Thanh đã tận tình hướng dẫn trong
quá trình nghiên cứu , hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Th.S Huỳnh Thị Mai Nhung đã hướng dẫn và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn CB Nguyễn Quốc Hưng cùng các cán bộ nhân
viên của HTX Thành Công đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn tới toàn thể thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên
Như vậy theo quan niệm này, chất thải rắn đô thị có các đặc trưng là:
- Bị vứt bỏ trong khu vực đô thị;
- Thành phố có trách nhiệm thu dọn.
II. Khái niệm về chất thải rắn đô thị.
2.1. Định nghĩa và đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt đô thị.
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động
của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường
học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần
bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo,
thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…Theo phương diện khoa
học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:
Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa. rau, quả…loại chất thải
này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi
khó chịu, đặc bịêt trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư
thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng,
khách sạn, ký túc xá, chợ…
Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác.
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.
Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác
trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi,
nilon, vỏ bao gói…
Như vậy, chất thải rắn sinh hoạt chiếm phần lớn trong tổng lượng rác thải
phát sinh tại các đô thị.Chúng ta cần biết được đặc điểm của từng loại để có biện
sống của dân cư cũng như sự phát triển của Hà Nội đã được nâng cao.
Bảng 2: Lượng chất thải rắn sinh hoạt ở Hà Nội qua các năm:
Năm Lượng chất thải rắn sinh hoạt
2000 1.300 tấn / ngày
2001 1.500 tấn / ngày
2002 1.800 tấn / ngày
2003 2.100 tấn / ngày
2004 2.300 tấn / ngày
(Theo nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam 2005.Bộ Tài nguyên và môi
trường. Hà Nội, 2005)
Theo các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bình quân lượng chất thải
rắn sinh hoạt ở các đô thị nước ta khoảng từ 0,5-1,2 kg/người/ngày.Trọng lượng
chất thải rắn đô thị ở dao động từ 400-420 kg/m
3
. Hiện Công ty MTĐT sử dụng
hệ số chuyển đổi đơn vị từ trọng lượng sang thể tích rác bằng 0,42 ÷ 0,45 (Theo
đề án thực hiện xã hội hoá công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phế thải xây dựng tại phường Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội,
UBND quận Đống Đa, HTX Thành Công. Hà Nội, 2002), nghĩa là:
M = (0,42÷0,45) × V
Trong đó: M là khối lượng rác tính theo đơn vị tấn
V là thể tích rác tính theo đơn vị khối
2.2. Thành phần chất thải rắn đô thị.
Chất thải rắn đô thị bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Tuy nhiên có
thể phân loại thành các thành phần chính như trình bày trong bảng sau:
Bảng 3: Thành phần phân loại của chất thải rắn đô thị.
Hợp phần
0-20
1-4
4-16
2-8
0-1
1-4
0-10
15
40
4
3
2
0,5
0,5
12
2
8
6
1
2
4
50-80
4-10
4-8
1-4
6-15
1-4
8-12
30-80
15-40
64-240
128-1120
320-960
228
81,6
49,6
64
64
128
160
104
240
193,6
88
160
320
480
Tổng hợp 100 15-40 20 180-420 300
(Theo nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005-chất thải rắn, bộ
Tài nguyên và môi trường 2005)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3. Các nguồn tạo thành chất thải rắn đô thị.
Chất thải rắn đô thị được tạo thành từ nhiều nguồn khác nhau. Thông
thường có các nguồn phát sinh chính sau:
- Hộ dân: phát sinh từ các hộ gia đình. Thành phần rác thải này bao gồm
rau quả, củ thừa và hư hỏng, thực phẩm, giấy, nhựa, gỗ, thủy tinh…Ngoài ra rác
hộ dân có thể chứa các chất thải độc hại như các loại sơn, pin, bóng đèn có chứa
thủy ngân…
- Quét đường: phát sinh từ các hoạt động vệ sinh đường phố, khu vui chơi
ngày của công nhân tại khu công nghiệp.
Như vậy tất cả các hoạt động của con người đều trực tiếp hay gián tiếp
làm phát sinh ra chất thải rắn đô thị. Mức độ nhiều hay ít phụ thuộc vào cuộc
sống sinh hoạt của mỗi người. Từ đó, con người cần có ý thức thu gom chất thải
rắn sinh hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường.
2.4. Phân loại chất thải rắn đô thị.
Dựa vào đặc điểm và nguồn phát sinh các loại chất thải rắn ở đô thị, có thể
phân loại như sau:
- Rác thải hữu cơ dễ phân hủy: rau, củ, quả, thực phẩm…
- Chất hữu cơ khó phân hủy: giấy, thủy tinh, nhựa, vải, gỗ...
- Chất vô cơ: kim loại, bê tông, thạch cao…
- Chất thải nguy hại:sơn, hóa chất…
- Rác y tế: bệnh phẩm, thuốc, bông băng…
Người ta dựa vào đặc điểm của mỗi loại chất thải để có cách thu gom và
xử lý riêng. Phế thải xây dựng có khối lượng lớn được vận chuyển đến bãi đổ và
tận dụng để san lấp. Chất thải y tế và chất thải công nghịêp do có khả năng lây
nhiễm và mức độ độc hại cao nên được phân loại và tổ chức thu gom, vận
chuyển, xử lý riêng.
Những loại chất thải khác phát sinh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
được gọi là chất thải sinh hoạt. Chất thải sinh hoạt chiếm số lượng lớn tại các đô
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thị và đang là vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Do đó, trong giới hạn của
chuyên đề này, tác giả tập trung chủ yếu vào chất thải rắn sinh hoạt. Đây là loại
chất thải chiếm khối lượng chủ yếu và là đối tượng chính của công tác thu gom
chất thải rắn ở đô thị.
III.Tổ chức quản lý chất thải rắn đô thị Hà Nội.
3.1. Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn đô thị Hà Nội.
Trong những năm qua tốc độ đô thị hóa ở Hà Nội tăng mạnh dẫn đến dân
số tăng liên tục từ 2,3 triệu người năm 1995 đến năm 2003 dân số đã xấp xỉ gần
phủ Thành phố Hà Nội đã và đang đầu tư xây dựng các khu xử lý chất thải sinh
hoạt tại các huyện Gia Lâm, Đông Anh và Thanh Trì nhắm nâng cao năng lực
xử lý chất thải trên địa bàn thành phố.
Về chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại đang là thách thức
lớn đối với công tác quản lý môi trường của Thành phố, năm 2002 lực lượng
quản lý thị trường, chi Cục bảo vệ thực vật và các Sở khoa học Công nghệ và
Môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công an, Tài chính, Y tế đã
phối hợp với Bộ Tư lệnh Hóa học- Bộ quốc phòng, Sở Khoa học Công nghệ và
Môi trường tỉnh Hà Tây tổ chức tiêu hủy hơn 10 tấn thuốc Bảo vệ thực vật cấm
sử dụng tồn đọng và một số hóa chất y tế theo đúng Qui chế quản lý chất thải
nguy hại ban hành theo Quyết định số 155/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999
của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện nay Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà Đất Hà Nội đang khẩn trương
soạn thảo Qui định tạm thời về Quản lý chất thải công nghiệp(bao gồm cả chất
thải nguy hại) để tháng 7 năm 2004 trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét
ban hành tạo cơ sở pháp lý tăng cường các hoạt động Quản lý chất thải công
nghiệp nói chung, chất thải nguy hại nói riêng trên địa bàn thành phố.
*Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn đô thị
ở Hà Nội.
Giải pháp công nghệ:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tăng khả năng thu gom chất thải bằng cách tăng cường và đổi mới trang
thiết bị để theo kịp lượng chất thải ngày càng tăng, đồng thời cải thiện mức độ
phục vụ và mở rộng phạm vi thu gom như trang bị các xe tải nhỏ để phục vụ cho
các đường phố hẹp, các thiết bị cân rác, nén ép rác…
- Phương pháp xử lý rác sinh hoạt cho các đô thị sẽ là ủ rác hữu cơ làm
phân compost và chôn lấp rác có tổ chức, quản lý hợp vệ sinh. Sử dụng công
nghệ đốt chất thải rắn nguy hại, sau đó chôn lấp tro xỉ tại các bãi chôn lấp hợp
vệ sinh. Tiến tới xây dựng bãi chôn lấp phế thải hợp vệ sinh có kiểm soát và có
đội ngũ cán bộ chuyên môn về chất thải rắn nói chung và kinh tế chất thải nói
riêng.
Giải pháp tuyên truyền, giáo dục:
- Nâng cao nhận thức về môi trường cho nhân dân từ người già đến trẻ
nhỏ. Thông qua giáo dục và động viên, nhân dân và các tổ chức, cơ quan, xí
nghiệp, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng sẽ nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng và tính cấp bách của bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững.
- Đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, đặc biệt là phương tiện truyền
thông đại chúng. Nội dung thông tin tuyên truyền ngoài vấn đề môi trường
chung, còn bao gồm kiến thức chung về chất thải rắn, chất thải rắn với việc ô
nhiễm môi trường, các phương pháp hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải
rắn. Luật bảo vệ môi trường, các quy định dưới luật.
- Coi vấn đề quản lý chất thải rắn là một phần trong chương trình giảng
dạy môi trường cần đưa vào khuôn khổ giáo dục hiện hành.
Giải pháp liên quan đến kinh tế chất thải:
- Phân loại chất thải rắn từ nguồn phát sinh. Chất thải sinh hoạt cần phân
thành hai loại: Các phế thải có thể tái sử dụng hoặc tái sinh như giấy, nilon,
nhựa, kim loại, chai lọ, vỏ đồ hộp và các loại chất thải còn lại. Đối với chất thải
công nghiệp và bệnh viện cần tách riêng các phế thải nguy hại như kim loại
nặng, các hóa chất độc, bông băng, các loại thuốc quá hạn, kim tiêm, các chất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xét nghiệm…Việc phân loại này sẽ làm tăng tỷ lệ tái sinh chất thải , cũng có
nghĩa giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển và xử lý.
- Khuyến khích các cơ sở sản xuất giảm thiểu lượng chất thải thông qua
việc áp dụng các công cụ kinh tế thường sử dụng dựa trên nguyên tắc người gây
ô nhiễm trả tiền (pollter pays principle). Các công cụ khuyến khích kinh tế
nhằm ngăn ngừa tác động xấu của chất thải rắn đối với môi trường. Một số hình
thức của công cụ khuyến khích kinh tế chủ yếu là:
đây là mô hình tham gia quản lý chất thải rắn của các sở, ban, ngành liên quan.
3.2. Mô hình tham gia quản lý chất thải rắn đô thị Hà Nội.
Việc thu gom chất thải rắn ở đô thị hiện nay vẫn được coi là hoạt động
công ích, chịu sự quản lý của các sở, ban, ngành, UBND địa phương, hoạt động
với mục đích là đạt hiệu quả xã hội trong việc thu gom, vận chuyển chất thải
rắn đô thị. Tham gia vào công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố
Hà Nội có các cơ quan quản lý sau:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN & MT) : chịu trách nhiệm vạch
chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước trong
việc đề xuất luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia.
- Bộ Xây dựng : hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý
chất thải.
- UBND thành phố: quyết định những chủ trương biện pháp để đảm bảo
xây dựng và phát triển thủ đô, ban hành các văn bản pháp luật; chỉ đạo, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật trong giới hạn cho phép; ban
hành các văn bản pháp quy, tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị và cá nhân
tham gia hoạt động vệ sinh môi trường.
- Sở Giao thông Công chính ( Sở GTCC): là cơ quan chuyên môn giúp
UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các vấn đề đô thị
trên địa bàn thành phố. Sở chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND thành phố, đồng
thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng và
các ban ngành liên quan. Đối với công tác quản lý chất thải rắn, Sở có trách
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiệm quản lý công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố, giao trách
nhiệm cho Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội, ký hợp đồng bao thầu với các xí
nghiệp thu gom và vận chuyển chất thải rắn, cấp, thu hồi, gia hạn các loại giấy
phép, chứng chỉ hành nghề cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh
tế của thành phố tham gia hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường.
- Sở Tài nguyên- Môi trường: là cơ quan chuyên môn giúp UBND thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bộ Xây dựng UBND Thành phố
Sở GTCC
Sở TN & MT
Công ty MTĐT Hà Nội UBND Các cấp
Chất thải
rắn
Bộ TN & MT
Website: Email : Tel : 0918.775.368
8. Công ty Cổ phần Xanh;….
Trong chuyên đề này tác giả chọn mô hình Hợp tác xã vệ sinh môi trường
Thành Công làm đối tượng nghiên cứu.
3.3. Phân tích dây truyền thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị.
Hình 2: Dây truyền thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị Hà
Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn phát sinh chất thải
Phân loại, thu gom chất
Vận chuyển chất thải
Xử lý chất thải
Thiêu đốt Ủ sinh học làm phân
bón
Các kỹ thuật
mới khác
Tiêu hủy tại
các bãi chôn lấp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, việc quản lý chất thải rắn ở các đô thị nói chung phải tuân thủ dây
truyền thu gom, vận chuyển và xử lý nhất định từ khi mới bắt đầu hình thành cho
đến lúc tiêu hủy tại các bãi chôn lấp. Về cơ bản phải đảm bảo các yêu cầu:
chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lấp. Giai đoạn thu gom sơ cấp
ảnh hưởng trực tiếp đối với người dân cũng như đối với mỹ quan đô thị và hiệu
quả của các công đoạn sau đó.
Việc thu gom chất thải do Công ty Môi trường Đô thị; các Xí nghiệp môi
trường đô thị; HTX Thành Công và các đơn vị xã hội hóa khác là trực tiếp từ
người dân.
* Vận chuyển chất thải bao gồm hai khâu chính là khâu vận chuyển rác
về bãi rác Nam Sơn và khâu thu dọn, vận chuyển đất thải, phế thải xây dựng về Bãi
Trại Gà- Phú Diễn. Trong quá trình vận chuyển, các phương tiện vận chuyển phải
đúng xe chuyên dùng thực hiện theo đúng QĐ 02/QĐ-UB và QĐ 26/QĐ-UB thành
phố Hà Nội. Đồng thời phải đổ rác và đất thải, phế thải xây dựng đúng nơi quy định
của thành phố. Thực hiện vận chuyển hết trong ngày không để ứ đọng sang ngày hôm
sau , không rơi vãi ra đường và đến đúng nơi quy định.
* Xử lý chất thải rắn nhằm mục tiêu làm giảm hoặc loại bỏ các thành phần
không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận
dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải. Để xử lý một cách hiệu quả có thể
sử dụng các công nghệ, kỹ thuật, các trang thiết bị xử lý chất thải tiên tiến với
các phương pháp như cơ học, cơ lý hay sinh học.Trong quá trình xử lý chúng ta
nên tận dụng hết khả năng tái sử dụng lại các chất thải rắn làm nguyên liệu hay ủ
sinh học làm phân hữu cơ phục vụ cho nông nghiệp.Chỉ khi nào không tái chế
sử dụng được mới đem chôn lấp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương II: MÔ HÌNH HTX VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH CÔNG VÀ
HIỆU QUẢ THỰC TẾ CỦA MÔ HÌNH TẠI PHƯỜNG VĂN CHƯƠNG,
QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
I. Tổng quan về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
1.1. Khái niệm và mục đích của xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
1.1.1.Khái niệm chung về xã hội hóa bảo vệ môi trường.
Trong thực tế, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường đã được thực hiện ở
hiện cạnh tranh lành mạnh; đưa công tác quản lý, giữ gìn vệ sinh môi trường vào
nề nếp, có hiệu quả thiết thực đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ.
Từng bước giảm dần sự bao cấp của Nhà nước, tăng nguồn thu phí
dịch vụ vệ sinh môi trường từ người dân,huy động các nguồn lực tự có
trong dân để góp phần làm tốt công tác bảo vệ môi trường; từng bước
chuyển dần cơ chế Nhà nước là người chủ yếu bao tiêu các sản phẩm, dịch vụ
bảo vệ môi trường sang cơ chế người trực tiếp sử dụng, trực tiếp hưởng dịch vụ
phải trả chi phí cho người cung cấp. Người được hưởng dịch vụ phải trả chi phí
cho người cung cấp dịch vụ sẽ làm thay đổi tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước. Khi trả
tiền phí, người sử dụng ngày càng đòi hỏi người cung cấp dịch vụ với chất
lượng tốt hơn, đa dạng hơn, do vậy môi trường sẽ cải thiện hơn.
Tạo công ăn việc làm và thu nhập chính đáng cho một bộ phận dân
cư địa phương, xã hội hóa bảo vệ môi trường khuyến khích các thành phần
kinh tế, các cá nhân tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, hình thành các
công ty, HTX, tổ cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường… vì vậy sẽ thu hút một
lực lượng lao động, giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư, nâng
cao thu nhập và mức sống cho một bộ phận lao động địa phương. Như vậy, xã
hội hóa bảo vệ môi trường không chỉ giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi
trường mà còn giải quyết vấn đề xã hội cũng không kém phần bức xúc là vấn đề
việc làm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tạo sức mạnh tổng hợp cho công tác bảo vệ môi trường; Xã hội hóa
bảo vệ môi trường sẽ huy động được sức mạnh của quần chúng, các tổ chức
chính trị Xã hội và cộng đồng kết hợp với vai trò của nhà nước tạo sức mạnh
tổng hợp để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường. Sức mạnh tổng hợp của
quần chúng nhân dân, của các tổ chức và cộng đồng sẽ làm giảm gánh nặng cho
nhà nước và chính quyền trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách về môi
trường, cho phép các cơ quan tập trung mạnh hơn vào các hoạt động điều hòa, phối
hợp hoạt động để đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường và hướng tới mục tiêu phát