Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu gom và xử lý rác thải ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Xuân Vương
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn tới
Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông
thôn, các thầy cô giáo đã dạy dỗ, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập và rèn luyện tại truờng.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo
ThS.Nguyễn Thị Ngọc Thương, giảng viên của bộ môn Kinh tế - khoa Kinh
tế & Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, UBND xã Hòa Bình
và bạn bè đã giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu
đề tài.
Tuy nhiên, do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn còn nhiều thiếu
sót. Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo và các
bạn sinh viên để luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Xuân Vương
ii

xây dựng một hệ thống đồng bộ các văn bản, chính sách liên quan.
+ Giải pháp lâu dài: Tiến hành tuyên truyền, giáo dục cho người dân
đẩy mạnh việc phân loại rác thải tại nguồn từ các hộ gia đình.
iv
MỤC LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
BQ
CC
SL
RTSH
VSMT
UBND
TNMT
Diễn giải nội dung
Bình quân
Cơ cấu
Số lượng
Rác thải sinh hoạt
Vệ sinh môi trường
Ủy ban nhân dân
Tài nguyên môi trường
vi
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ .
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương , bộ
mặt xã hội đang có những bước chuyển biến hết sức tích cực. Cho đến nay nó
không chỉ phát triển ở các thành phố, các khu đô thị lớn ở nước ta mà đang

và là nơi nối liền các xã trong huyện vì thế các hoạt động kinh tế, dịch vụ của
xã tương đối phát triển. Đồng thời dân số của xã tăng nên nhu cầu của người
dân cũng tăng theo. Các chợ, quán ăn, dịch vụ phục vụ người dân ngày một
phong phú đa dạng dẫn đến lượng rác thải cũng tăng nên nhiều .
Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là chưa có giải pháp cụ thể nào về
việc xử lý nguồn rác thải phát sinh này. Mà rác thải chỉ được thu gom ở một
số bãi rác lộ thiên, không tiến hành xử lý, chôn lấp, làm mất vệ sinh công
cộng, mất mỹ quan môi trường, đất, nươc, không khí. Đặc biệt những đống
rác thải này còn là nguy cơ bệnh dịch, gây nguy hại cho sức khỏe con người.
Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm tìm ra biện pháp xử lý, xử lý phù hợp góp
phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt vì thế chung tôi
thực hiện đề tài: ”Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu
gom và xử lý rác thải ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và hiệu quả của công tác thu gom và xử lý rác thải
ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu gom và xử lý rác thải, nhằm bảo
vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân tại địa phương.
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả và công tác thu
gom, xử lý rác thải.
- Đánh giá hiệu quả của công tác thu gom và xử lý rác thải ở xã Hòa
Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu gom vận
chuyển và xử lý rác thải tại địa phương.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu hiệu quả của công tác thu gom và xử lý rác thải ở xã Hòa

Theo giáo trình sinh thái môi trường, Phạm Văn Phê, đại học Nông
Nghiệp Hà Nội, 2006: “Môi trường hiểu một cách đơn giản nhất là tổng hợp
các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Như vậy,
bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi
trường cụ thể”.
Như vậy, môi trường quan trọng cho cuộc sống của con người, nếu con
người tác động làm ô nhiễm môi trường thì điều đó cũng ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sống con người và điều kiện tự nhiên. Cuộc sống của con người
ngày càng hiện đại, mức sống càng được nâng cao thì lượng rác thải con
người thải ra môi trường ngày càng nhiều, mức độ ô nhiễm ngày càng lớn.
4
2.1.1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường (ONMT)
Định nghĩa ô nhiễm môi trường
ONMT là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá một giới hạn
cho phép, đi ngược lại mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe
con người và sinh vật.
ONMT là một khái niệm được xét dưới nhiều góc độ : sinh học, kinh tế
học, pháp lý, y tế…
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đó
những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
Dưới góc độ kinh tế học, ONMT là sự thay đổi không có lợi cho môi
trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây
tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người, các loài động vật, thực
vật và các điều kiện sống khác.
Dưới góc độ pháp lý, ONMT là sự biến đổi các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người
sinh vật ( theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005). Dưới góc
độ y tế, ONMT là việc chuyển các chất thải hoặc nguyên liệu vào môi trường
đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe con người và sự phát triển sinh vật
hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống. (theo tổ chức y tế thế giới WHO)

hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật. Nguồn rác thải thì đến từ
nhiều nguồn khác nhau được thông qua sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải
( Theo: Nguyễn Thị Trìu, 2009)
Các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:
- Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư,…): Thực phẩm
thừa, carton, plastics, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, lon, các loại khác, tro, lá cây,
các rác thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, pin, bình điện, dầu, lốp xe,…) và
các chất độc hại sử dụng trong gia đình.
- Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm
xăng dầu, gara,…): Giấy, carton, plastics, gỗ, thức ăn thừa, thủy tinh, kim
loại, các loại rác đặc biệt (đầu mỡ, lốp xe…), rác thải độc hại.
- Cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính,…): Rác thải
giống như rác thải thương mại.
- Xây dựng, di dời (các địa điểm xây dựng mới, sữa chữa đường xá, di
dời nhà cửa…): Gỗ, thép, gạch, bê tông, vữa, bụi,…
Nông nghiệp
Chất thải
C
Nơi vui chơi,
giải trí
Bệnh viện, cơ
sở yật tư y tế
Khu công
nghiệp, nhà
máy, xí
nghiệp
Nhà dân, khu
dân cư
Chợ, bến xe,

* Rác làm ô nhiễm môi trường nước
Các chất thải rắn nếu là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân
hủy một cách nhanh chóng. Phần nổi lên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa
chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối
8
cùng là chất khoáng và nước. Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải
yếm khí để tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối
cùng như CH4, H2S, H2O, CO2. Tất cả các chất trung gian này đều gây ra
mùi thối và độc chất. Bên cạnh đó còn bao nhiêu vi trùng và siêu vi trùng làm
ô nhiễm nguồn nước. Nếu rác thải là các chất kim loại thì nó gây lên hiện
tượng ăn mòn trong môi trường nước. Sau đó, quá trình oxy hóa có oxy và
không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước và nguồn nước.
Những chất thải độc hại như thủy ngân Hg, chì Pb hoặc các chất thải phóng
xạ còn nguy hiểm hơn.
* Rác làm ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi
làm ô nhiếm không khí. Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát
tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp. Cũng có loại rác, trong điều kiện
nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (350C và độ ẩm 70-80%) sẽ có quá trình biến đổi
nhờ hoạt động của vi sinh vật. Kết quả của quá trình này là gây ô nhiễm
không khí.
* Nước rò rỉ từ bãi rác và tác hại của chúng
Ở những bãi rác hoặc những đống rác lớn mà trong rác có một lượng
nước nhất định hoặc mưa xuống làm nước ngấm vào rác thì tạo ra một loại
nước rò rỉ. Trong nước rò rỉ chứa những chất hòa tan, những chất lơ lửng,
chất hữu cơ và nấm bệnh. Khi nước này ngấm vào đất làm ô nhiễm môi
trường đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm trầm trọng.
2.1.3 Phân loại thành phần chất thải rắn sinh hoạt
- Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành
phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da,

10
con người và sinh vật. Có nguồn phát sinh có thể là từ hoạt động công nghiệp,
nông nghiệp và y-tế.
Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hóa chất thải ra có tính độc
tính cao, tác động xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải có những
giải pháp kỹ thuật để hạn chế tác động độc hại đó.
Các chất thải nguy hại từ các hoạt động công nghiệp chủ yếu là các loại
phân hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật.
+ CTR y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác
gây nguy hại với môi trường và sức khỏe của cộng đồng. Theo quy chế quản
lý CTR y tế, các loại CTR y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động
chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và trạm y tế. Các nguồn phát sinh ra
chất thải bệnh viện bao gồm:
• Các loại bông băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật.
• Các loại kim tiêm, ống tiêm.
• Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ.
• Chất thải sinh hoạt từ các bệ
• Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thủy ngân,
Cadimi, Arsen, Xianua …
• Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện.
+ Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất
và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành
phần. Trong nghiên cứu này, vì lý do hạn hẹp về thời gian và kinh phí, nhóm
nghiên cứu chỉ xét đến CTRSH từ các hộ nông dân (rác thải sinh hoạt). Đây
cũng là cơ sở quan trọng cho những đề tài nghiên cứu về sau liên quan đến
CTR
11
2.1.4 Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.1.4.1 Tác động tới môi trường nước

S, NH
3
, CH
4
,
SO
2
, CO
2
.
2.1.4.4 Tác động tới cảnh quan và sức khỏe con người
Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ
chiếm tỉ lệ lớn. Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên men, bốc mùi hôi thối.
Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh
hưởng đến sức khoẻ con người sống xung quanh. Chẳng hạn, những người
tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các
phế liệu từ bãi rác dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt,
tai, mũi họng, ngoài da, phụ khoa. Hàng năm, theo tổ chức Y tế thế giới, trên
thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên
quan tới rác thải. Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy, những xác
động vật bị thối rữa trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sufua
hyđro hình thành từ sự phân huỷ rác thải kích thích sự hô hấp của con người,
kích thích nhịp tim đập nhanh gây ảnh hưởng xấu đối với những người mắc
bệnh tim mạch.
Các bãi rác công cộng là những nguồn mang dịch bệnh. Các kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng: Trong các bãi rác, vi khuẩn thương hàn có thể tồn
tại trong 15 ngày, vi khuẩn lỵ là 40 ngày, trứng giun đũa là 300 ngày. Các loại
vi trùng gây bệnh thực sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung gian gây
bệnh tồn tại trong các bãi rác như những ổ chứa chuột, ruồi, muỗi, và nhiều
loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do

nhiệt độ khoảng 1100
0
C.
Sử dụng xúc tác cho vào lò đốt để tăng cường tốc độ oxy hoá chất thải
ở nhiệt độ thấp hơn so với lò đốt thông thường (<537
0
C). Phương pháp này
chỉ áp dụng cho chất thải lỏng.
Sử dụng chất thải nguy hại làm nhiên liệu, đây là phương pháp tiêu hủy
chất thải bằng cách đốt cùng với các nhiên liệu thông thường khác để tận
dụng nhiệt cho các thiết bị tiêu thụ nhiệt: Nồi hơi, lò nung, lò luyện kim, lò
nấu thủy tinh. Lượng chất thải bổ sung vào lò đốt có thể chiếm 12-25% tổng
lượng nhiên liệu.
14
• Phương pháp nhiệt phân
Nhiệt phân là quá trình tiêu hủy hay biến đổi hoá học xảy ra do nung
nóng trong điều kiện không có oxy và tạo ra sản phẩm cuối cùng của quá
trình biến đổi chất thải rắn là các chất dưới dạng rắn, lỏng và khí. Quá trình
nhiệt phân gồm hai giai đoạn. Giai đoạn một là quá trình khí hoá. Chất thải
được gia nhiệt để tách thành phần dễ bay hơi như khí cháy, hơi nước,… ra
khỏi thành phần cháy không hoá hơi và tro. Giai đoạn hai các thành phần bay
hơi được đốt ở điều kiện phù hợp để tiêu hủy hết các cấu tử nguy hại.
Nhiệt phân bằng hồ quang - plasma. Thực hiện quá trình đốt ở nhiệt độ
cao (có thể đến 10.000
0
C) để tiêu hủy chất thải có tính độc cực mạnh. Sản
phẩm là khí H
2
và CO, khí axit và tro.
2.1.5.2 Xử lý sinh học

Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước
ngầm và nguồn nước mặt. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được
phủ các lớp chống thấm bằng màn địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác cần phải
thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường. Việc
thu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rác thải rất
hữu ích.
2.1.6 Hoạt động quản lý rác thải
Hệ thống quản lý rác thải
Quản lý rác thải là vấn đề then chốt của việc đảm bảo môi trường sống
của con người mà chúng ta phải có kế hoạch tổng thể quản lý rác thải thích
hợp mới xử lý kịp thời và hiệu quả được. Sau đây là hệ thống quản lý rác thải
được minh họa ở sơ đồ 2.2.
16
Sơ đồ 2.2 Các hợp phần chức năng của một hệ thống quản lý rác thải
(Theo:Hoàng Xuân Cơ, 2007)
Qua sơ đồ có thể thấy rác thải sau khi được thu gom tới nơi tập kết tại
nguồn thì được gom nhặt và tách ra từng loại riêng . Tại đây thì rác sẽ được
phân ra làm 3 con đường .
- Rác vẫn còn tái chế được và sẽ được vận chuyển tới nơi tái chế để đưa
vào sản xuất , còn lại thì đem đi tiêu hủy.
- Rác hữu cơ như
 Hệ thống quản lý CTR
Hệ thống quản lý rác thải cũng cần phải có các môí liên hệ giữa các cơ
quan nhà nước như bộ xây dựng, bộ KHCN, UBND các tỉnh thành phố kết
hợp với các sở , các cấp chính quyền và các công ty môi trường để đạt hiệu
quả tốt trong việc sử lý rác thải để bảo vệ môi trường sống và đảm bảo sức
khỏe cho người dân.
Nguồn phát sinh
rác thải
Thu gom

GTCC
Công ty môi
trường đô thị
UBND cấp
dưới
CTR
18
 Vận chuyển rác thải
Vận chuyển rác thải là quá trình chuyên chở rác thải từ nơi phát sinh, thu
gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn
lấp cuối cùng.
 Xử lý rác thải và các phương pháp xử lý
Xử lý rác thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm
giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong
rác thải; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải.
Hiện nay có 3 phương pháp xử lý rác thải được nhiều nơi áp dụng, đó là:
+ Phương pháp ủ sinh học làm phân hữu cơ
+ Phương pháp thiêu đốt tại các lò đốt rác
+ Phương pháp chôn lấp, thực chất là phương pháp lưu giữ rác thải
trong các hố bãi có phủ lấp đất lên trên. Đây là phương pháp rẻ tiền và được
áp dụng ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, xử lý rác thải.
 Tái chế và tận dụng
Những thứ phế thải không dùng được cho việc gì nữa nhưng còn có thể
sử dụng để sản xuất ra sản phẩm khác thì cần phải được thu gom bán phế liệu
để tái chế.
d. Chi phí quản lý rác thải
Đối với rác thải sinh hoạt, chi phí xử lý được bù đắp thông qua ngân
sách nhà nước ngoài nguồn thu phí vệ sinh từ chủ nguồn thải. Chủ xử lý thu
chi phí từ chủ thu gom, vận chuyển theo hợp đồng dịch vụ.
Đối với rác thải công nghiệp, chi phí xử lý được thu trực tiếp từ chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status