ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LƢƠNG MẠNH TUÂN
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU HẤP THU
XỬ LÝ DẦU TRÊN CƠ SỞ VẬT LIỆU TỔ HỢP
NỀN POLYOLEFIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Tôi xin cảm ơn NCS. Trần Vũ Thắng cùng tập thể các anh (chị) và các
bạn phòng Vật Liệu Polyme - Viện Hoá Học đã giúp đỡ, động viên và tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành khoá học và thực hiện thành công luận văn tốt nghiệp
này.
Trân trọng cảm ơn đề tài B2014- 17- 44, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giúp
đỡ kinh phí để thực hiện nghiên cứu luận văn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô trong Khoa Hóa học-
Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên- ĐHQGHN đã truyền đạt cho em những
kiến thức bổ ích và tạo mọi điều kiện để tôi có khả năng hoàn thành luận văn
này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Học viên
Lƣơng Mạnh Tuân
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
3.1.4. Ảnh hƣởng của nồng độ chất tạo lƣới AIBN 41
3.1.5. Ảnh hƣởng của tỉ lệ thể tích MMA/1g PP đến quá trình ghép 42
3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phản ứng trùng hợp ghép của EA với PP và
đến hiệu suất hấp thu dung môi cloroform, benzen và toluen 43
3.2.1. Ảnh hƣởng của tỉ lệ thể tích dung môi DMF/1g PP 43
3.2.2. Ảnh hƣởng của thời gian 44
3.2.3. Ảnh hƣởng của nhiệt độ 45
3.2.4. Ảnh hƣởng của nồng độ chất tạo lƣới AIBN 46
3.2.5. Ảnh hƣởng của tỉ lệ thể tích EA/1g PP 47
3.3. Tính chất cơ lý của vật liệu đƣợc tổng hợp từ PP 48
3.3.1. Phổ hồng ngoại FTIR của PP và sản phẩm ghép 48
3.3.2. Phân tích nhiệt TGA và DSC 50
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
AIBN
Azobisisobutyronitrile
DMF
Dimethylformamide
DSC
Nhiệt vi sai quét
EA
Hình 3.4: Phân tích nhiệt DSC và TGA của PP 51
Hình 3.5: Phân tích nhiệt DSC và TGA của sản phẩm ghép PP-MMA 51
Hình 3.6: Phân tích nhiệt DSC và TGA của sản phẩm ghép PP- MMA 52
Hình 3.7: Hình ảnh SEM của sản phẩm ghép 53
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê số vụ và tổng lƣợng dầu tràn từ năm 1980 tới năm 2007
của ITOPF. 5
Bảng 1.2: Một số chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy dầu mỏ và khí thiên
nhiên (Hydrocacbon) 15
Bảng 3.1: Ảnh hƣởng của của tỉ lệ thể tích dung dung môi DMF/1g PP 39
Bảng 3.2: Ảnh hƣởng của thời gian đến hiệu suất ghép và hấp thu dung môi
chloroform, benzen và toluen 40
Bảng 3.3: Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến hiệu suất ghép và hấp thu dung môi
cloroform, benzen và toluen 41
Bảng 3.4: Ảnh hƣởng của nồng độ AIBN đến hiệu suất ghép và hấp thu dung
môi cloroform, benzen và toluen 41
Bảng 3.5: Ảnh hƣởng của tỉ lệ thể tích MMA/1g PP đến hiệu suất ghép và hấp
thu dung môi cloroform, benzen và toluen 42
Bảng 3.6: Ảnh hƣởng của của tỉ lệ thể tích dung dung môi DMF/1g 43
Bảng 3.7: Ảnh hƣởng của thời gian đến hiệu suất ghép và độ hấp thu dung môi
cloroform, benzen và toluen 44
giải quyết các yêu cầu thực tế đặt ra và làm giảm ô nhiễm môi trƣờng, nhằm chế
tạo ra vật liệu hấp thu dầu có nhiều ƣu việt hơn các vật liệu truyền thống.
Với mục tiêu đó, những nhiệm vụ nghiên cứu luận văn phải thực hiện là:
+ Nghiên cứu ảnh hƣởng quá trình ngâm sợi polypropylene (PP) đến hiệu
suất trùng hợp ghép, độ hấp thụ dung môi cloroform, benzen và toluen của sợi
PP với các monome metyl metacrylat (MMA), etyl etacrylat (EA)
2
+ Khảo sát các yếu tố nhƣ nhiệt độ, thời gian, nồng độ chất tạo lƣới
azobisisobutyronitrile (AIBN), tỉ lệ thể tích monome/1g PP của phản ứng trùng
hợp MMA với PP đến hiệu suất ghép và khả năng hấp thụ dung môi cloroform,
benzen và toluen.
+ Khảo sát các yếu tố nhƣ nhiệt độ, thời gian, nồng độ chất tạo lƣới
azobisisobutyronitrile (AIBN), tỉ lệ thể tích monome/1g PP của phản ứng trùng
hợp EA với PP đến hiệu suất ghép và khả năng hấp phụ dung môi cloroform,
benzen và toluen. 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Sự cố tràn dầu và các phƣơng pháp xử lí
1.1.1. Thành phần hóa học của dầu
Dầu mỏ hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục. Dầu
thô tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái đất. Dầu mỏ là một
hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, phần lớn là những hợp chất
hydrocarbon, thuộc nhóm alkan, thành phần rất đa dạng. Hiện nay dầu mỏ chủ
yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen và xăng nhiên liệu. Ngoài ra, dầu thô cũng
là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm của ngành hóa
Các hiện tƣợng rò rỉ, phụt dầu, vỡ đƣờng ống, vỡ bể chứa, tai nạn đâm va
gây thủng tàu, đắm tàu, sự cố tại các dàn khoan dầu khí, cơ sở lọc hoá dầu
làm cho dầu và sản phẩm dầu (mà dƣới đây sẽ đƣợc gọi tắt là dầu) thoát ra ngoài
gây ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng xấu đến sinh thái và thiệt hại đến các hoạt
động kinh tế, đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến khai thác và sử dụng các
dạng tài nguyên thuỷ sản.
Mặt khác, tràn dầu cũng đƣợc xem nhƣ sự giải phóng vào môi trƣờng do
rò rỉ tự nhiên từ các cấu trúc địa chất chứa dầu dƣới đáy biển do các hoạt động
của vỏ trái đất gây nên nhƣ động đất Số lƣợng dầu tràn ra ngoài tự nhiên
khoảng vài trăm lít trở lên có thể coi là sự cố tràn dầu.
Theo thống kê của ITOPF [27] (International Tanker Owners Pollution
Federation Ltd) từ nhiều năm qua, tỷ lệ dầu tràn trên biển với lƣợng lớn (trên
700 tấn) là không nhiều so với những vụ tràn dầu nhỏ (từ dƣới 7 tấn đến dƣới
700 tấn) và theo số liệu phân tích thống kê thì những vụ tràn dầu lớn thƣờng ít
có khả năng xảy ra hơn. Và số vụ tràn dầu qua các năm có xu hƣớng giảm dần,
tuy nhiên các vụ tràn dầu lớn lại xảy ra nhiều hơn, cụ thể trong thập niên 90 có
khoảng 358 vụ tràn dầu với lƣợng dầu tràn trên 7 tấn, và tổng lƣợng dầu tràn là
1 138 000 tấn, nhƣng hết 830 000 tấn (chiếm 73% số lƣợng dầu tràn) chỉ xảy ra
trong 10 vụ (chiếm 3%). Điều đó chứng tỏ rằng, với công nghệ hiện đại, việc
xảy ra các sự cố tràn dầu với lƣợng lớn là điều có thể xảy ra và thực tế đã xảy ra
5
nhƣ: năm 1979 tàu Atlantic Empress để tràn 287 000 tấn dầu, 1983 tàu Castillop
de Bellver để tràn 252 000 tấn, đến 1991 ABT Summer để tràn 260 000 tấn dầu
ra biển, và đỉnh điểm là vụ tràn dầu lớn nhất thế giới xảy ra trong chiến tranh
vùng Vịnh năm 1991, khi Iraq đã đổ khoảng 800 000 tấn dầu thô ra vịnh Ba Tƣ.
Bảng 1.1: Thống kê số vụ và tổng lƣợng dầu tràn từ năm 1997 tới năm 2007
của ITOPF.
STT
2002
12
3
67 000
7
2003
15
4
42 000
8
2004
16
5
15 000
9
2005
21
3
17 000
10
2006
11
4
13 000
11
2007
10
3
16 000
Thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam từ năm 1992- 2004 xảy ra 928 vụ
dƣơng học (dòng chảy, thủy triều đối lƣu nƣớc), địa chất học…
- Điều kiện nƣớc (gió và sóng), điều kiện đất trong thời điểm xảy ra sự cố
tràn dầu
- Bản chất của trầm tích trong hệ sinh thái bị ảnh hƣởng (sẽ xác định khả
năng thấm dầu vào chất nền đât)
7
- Thời điểm mùa tràn dầu liên quan đến mùa sinh sản của các loài.
* Đối với môi trường biển:
- Ô nhiễm nƣớc do dầu mỏ và sản phẩm của chúng (xăng, dầu bôi trơn,
mazut…) thì làm giảm tính chất hóa lý của nƣớc nhƣ thay đổi mùi, màu, vị….
- Tạo lớp váng mỏng phủ đều trên mặt biển, ngăn cách biển và khí quyển,
do đó cản trở sự trao đổi ôxy giữa biển và khí quyển, ngăn cản trao đổi nhiệt
cũng nhƣ tạo ra lớp cặn đó làm ảnh hƣởng nghiêm trọng tới sinh vật biển.
- Làm giảm chất lƣợng thủy hải sản do xuất hiện vết đen và mùi vị khác).
Ở mức nhiễm độc cao sẽ làm sinh vật phát triển không bình thƣờng, phá hoại tập
quán di cƣ, ảnh hƣởng đến cá con và ấu trùng, làm giảm thức ăn dự trữ, làm thay
đổi vị trí cƣ trú có thể dẫn đến làm tiêu vong một số loài.
- Hủy hoại vi sinh vật do độc tố trong dầu.
- Gây rối loạn sinh lý, làm sinh vật chết dần, tẩm ƣớt dầu lên da hay lông
của các vi sinh vật biển sẽ làm giảm khả năng chịu lạnh, hô hấp…hay nhiễm
bệnh do hydrocarbon xâm nhập vào cơ thể.
- Thay đổi môi trƣờng sống của sinh vật biển do dầu che phủ phản ứng
không cho ôxy và ánh sáng hòa tan, vận chuyển trong nƣớc.
- Sự thấm ƣớt dầu gây nguy hiểm cho các loài chim vì lông của chúng sẽ
không còn khả năng giữ nhiệt làm cho chim chết vì rét.
- Các hydrocarbon thơm là tác nhân gây ung thƣ.
* Đối với môi trường đất
- Khi trên bề mặt có một lớp màng mỏng dù chỉ từ 0,2 – 0,5mm cũng cản
có thể gây ra thiệt hại trên diện rộng. các loại dầu trung bình thƣờng chứa một tỉ
lệ lớn các hợp chất tan trong nƣớc và tƣơng đối dễ phân tán trong nƣớc. các loại
này có thể gây ảnh hƣởng lớn đến các hệ sinh thái biển.
Ảnh hƣởng của một sự cố tràn dầu lên động vật và thực vật phụ thuộc vào
mùa, kích thƣớc và vị trí của vết dầu tràn. Nếu một sự cố tràn dầu xẩy ra vào
9
đỉnh điểm của mùa sinh sản, nó có thể ảnh hƣởng đến toàn bộ số lƣợng trứng và
ấu trùng sinh ra, thêm vào đó lá sự tử vong của các con lớn trƣởng thành.
Thứ hai, phần còn lại của dầu có thể tích tụ vào các trầm tích và mô của
sinh vật sống trong khu vực bị ảnh hƣởng. Ảnh hƣởng của các chất cặn bã dầu
tích tụ trong mô các loài có giá trị thƣơng mại nhƣ trai, sò, loài giáp xác và cá đã
đƣợc biết từ lâu. Việc tích tụ dầu bên trong các mô sinh vật khiến chúng có mùi
và không thể tiêu thụ đƣợc trên thị trƣờng
* Một số hệ sinh thái và sự tổn thương do ô nhiễm dầu tràn:
Các rặng san hô: Sự ô nhiễm dầu có thể dẫn đến tử vong trên diện rộng
của san hô và các động vật đáy không xƣơng sống khác nhƣ trai, sò, động vật da
gai và loài giáp xác. Các cặn dầu và các phần dầu nhẹ dễ tan trong nƣớc hơn sẽ
làm các loài cá và động vật không xƣơng sống bị nhiễm bẩn (có mùi), đặc biệt là
các loài sống bằng cách ăn lọc.
Hơn nữa, một vỉa đá ngầm bị thoái hóa do dầu không phải là nơi hấp dẫn
cho ngành du lịch. Về lâu dài, một rặng san hô lớn bị tiêu diệt sẽ dẫn đến việc
xói mòn lớp nền của vỉa đá ngầm do sóng và các sinh vật gây xói mòn sinh học.
Đến một mức độ nào đó sự xói mòn bờ biển trên diện rộng sẽ xảy ra. Sự mất bờ
biển và vùng đất ven biển sẽ ảnh hƣởng nặng nề đến khả năng phát triển kinh tế
xã hội của khu vực.
Các bãi cát, bãi bùn (vùng kín gió): Ảnh hƣởng của sự cố tràn dầu lên các
bãi cát và bãi bùn phụ thuộc vào kích thƣớc của trầm tích, năng lƣợng sóng cũng
nhƣ các đặc tính lý hóa của dầu. Trong các khu vực tiếp xúc nhiều nhất với năng
thể hiện một số thay đổi về sinh lý (tăng nhịp tim, thay đổi cân bằng thấm lọc
trong hệ hô hấp và đặc tính của máu…), biểu hiện ở giảm khả năng hoạt động,
ăn uống và khả năng theo bầy, cũng nhƣ xuất hiện các tổn thƣơng ở mang, vây
và mắt. Về lâu dài, sự ô nhiễm do dầu dẫn đến việc làm giảm tốc độ tăng trƣởng,
sự sinh sản chậm, làm tăng tính dễ bị tổn thƣơng do bệnh tật và tăng độ tử vong.
b) Ảnh hưởng của ô nhiễm dầu đến kinh tế- xã hội
Dầu loang trên biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không đƣợc thu gom
sẽ làm suy giảm lƣợng cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai thác và nuôi
11
trồng thủy, hải sản. Các nguồn lợi thủy- hải sản là đối tƣợng chịu tác động tiêu
cực mạnh mẽ của sự cố ô nhiễm dầu. Giá trị sử dụng của thủy-hải sản bị giảm
bởi mùi khó chịu do dầu gây ra. Dầu gây ô nhiễm môi trƣờng làm cá chết hàng
loạt do thiếu oxy hòa tan trong nƣớc.
Dầu bám vào đất đá, kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây mùi khó
chịu đối với du khách khi tham quan du lịch, nghỉ dƣỡng, dẫn đến doanh thu của
ngành du lịch đã bị thiệt hại nặng nề.
Ngoài ra, dầu tràn làm ảnh hƣởng đến sự hoạt động của các cảng cá, cơ sở
đóng mới và sửa chữa tàu biển. Máy móc, thiết bị khai thác tài nguyên và vận
chuyển đƣờng thủy bị hƣ hỏng hoặc bị ăn mòn.
Sự cố môi trƣờng tràn dầu có thể đƣợc xem là một trong những dạng sự
cố gây ra tổn thất kinh tế lớn nhất trong các loại sự cố môi trƣờng do con ngƣời
gây ra. Vì vậy, chúng ta cần phải có biện pháp để xử lí những ô nhiễm do tràn
dầu.
1.1.3. Các biện pháp xử lý ô nhiễm tràn dầu
Ở nhiều nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, các biện pháp thƣờng
đƣợc áp dụng để khắc phục sự cố tràn dầu đó là: cơ học, sinh học và hóa học.
Đối với biện pháp cơ học, thực hiện quây gom, dồn dầu vào một vị trí nhất định
để tránh dầu lan trên diện rộng. Sử dụng phao ngăn dầu để quây khu vực dầu
trƣờng xung quanh và sẽ đƣợc cơ quan chuyên môn hƣớng dẫn xử lý.
Ngoài các biện pháp cần thiết khẩn cấp nêu trên, các nƣớc tiên tiến đã sử
dụng các công cụ hỗ trợ để giúp công tác khắc phục sự cố có hiệu quả hơn nhƣ:
sử dụng vệ tinh để theo dõi các vệt dầu loang theo hƣớng gió hoặc thủy triều để
có biện pháp xử lý kịp thời. Dùng các loại tàu và phao chuyên dụng để rải chất
phân tán hoặc ngăn chặn các vết dầu loang giúp cho việc thu gom đƣợc dễ dàng.
Ngoài các hóa chất phân tán, một biện pháp khác là dùng các vi sinh vật
hoặc các tác nhân sinh học nhằm phân tán hoặc phân hủy dầu.
Tràn dầu ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng và sinh thái dù ở bất cứ
địa điểm nào. Những ảnh hƣớng và thiệt hại của nó tới môi trƣờng khó mà đánh
13
giá đƣợc. Chi phí khắc phục cho những sự cố tràn dầu là rất lớn, có khi lên đến
hàng tỷ đô la tùy theo mức độ nghiêm trọng.
Song song với các công tác phòng tránh tai nạn tràn dầu, chống rò rỉ giàn
khoan, cần có các biện pháp xử lý dầu tràn trên mặt nƣớc. Các nhà khoa học đã
và đang cố gắng để tìm ra các biện pháp làm sạch nguồn nƣớc bị ô nhiễm dầu.
Các phƣơng pháp dùng để xử lý dầu tràn có thể liệt kê thành 3 nhóm
chính. Nhóm thứ nhất bao gồm các phƣơng pháp vật lý nhƣ chất hấp thu dầu,
phao quây dầu và máy hút dầu, nhóm thứ hai là các phƣơng pháp hoá học nhƣ
phân tán, đốt cháy hoặc dùng chất hoá rắn, và nhóm thứ ba là các phƣơng pháp
sinh học. Thông thƣờng, sự kết hợp của tất cả các phƣơng pháp trên sẽ xử lý
hiệu quả hơn. Một số biện pháp đã và đang đƣợc sử dụng hiện nay nhƣ:
1.1.3.1. Phương pháp vật lý
Là biện pháp cơ học quây giữ dầu trong một khu vực nhất định, ngăn chặn
dầu loang trên diện rộng, sau đó kết hợp với các biện pháp khác để khắc phục sự
cố:
+ Dùng phao giữ dầu nổi trên mặt nƣớc, khi dầu đƣợc cố định bằng
phao, bƣớc tiếp theo là cần phải gỡ bỏ dầu ra khỏi mặt nƣớc bằng cách kết hợp
đƣợc ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao.
Phƣơng pháp sinh học là phƣơng pháp sử dụng các tác nhân tự nhiên hay
các vi sinh vật (Nấm, vi khuẩn…) để thúc đẩy quá trình phân hủy các
hydrocarbon dầu mỏ. Đó là quá trình tự nhiên do vi sinh vật phân hủy dầu thành
các chất khác. Các sản phẩm có thể tạo ra là CO
2
, nƣớc hoặc các phân tử không
gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Dầu mỏ là một loại nhiên liệu rất đặc biêt,
trong thành phần của chúng chủ yếu là Hydrocarbon mạch thẳng (Chiếm 30-
35%), hydrocarbon mạch vòng (Chiếm 25-75%) và hydrocarbon thơm (Chiếm
10-15%). Các thành phần hóa học có trong dầu mỏ thƣờng rất khó phân hủy. Do
đó, việc ứng dụng các quá trình sinh học để xử lý ô nhiễm dầu mỏ có đặc điểm
rất đặc biệt.
15
+ Phân hủy, phân tách dầu tràn nhờ các tác nhân tự nhiên: vi khuẩn hay
mƣa gió cuốn trôi, nhấn chìm. Nhƣng do quá trình phân hủy xảy ra rất chậm, với
lƣợng lớn thì thời gian làm sạch rất dài và gây nhiều tác hại trƣớc khi dầu đƣợc
làm sạch hoàn toàn .
+ Dùng tác nhân vi sinh đƣợc nuôi cấy trong than, trong vật liệu hút dầu,
các vi sinh vật này sẽ là tác nhân phân hủy lƣợng dầu tràn. Với nguồn thức ăn là
các hydrocacbon, ở độ ẩm thích hợp các sinh vật này sẽ phát triển và phân hủy
sinh học dầu thành chất vô hại. Tuy nhiên, phƣơng pháp này chỉ có ý nghĩa với
sự cố thất thoát dầu ở mức độ nhỏ tại nhà máy lọc dầu, kho chứa dầu. Với hiện
tƣợng dầu tràn trên mặt nƣớc với lƣợng lớn thì phƣơng pháp này không có ý
nghĩa .
Bảng 1.2: Một số chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy dầu mỏ và khí thiên
nhiên (Hydrocacbon)
STT
Mycobacteium
Vi khuẩn
Lacticolum
Nấm
4
C10- C50
Propanicum
Nấm
M.Flavum Vas Math
Vi khuẩn
Nicum
Nấm
5
C
12
– C
15
Nocardia.Sp
Nấm
6
C
13
– C
19
Pseudomonas
Vi khuẩn
7
Vi khuẩn
C.Lipolytica
Vi khuẩn
17
1.1.3.3 Xử lý bằng phương pháp hóa học
Là phƣơng pháp xử lý sự cố tràn dầu bằng cách sử dụng các chất phân
tán; các chất keo tụ và hấp thu dầu, các chất phá nhũ tƣơng dầu- nƣớc…Phƣơng
pháp này đƣợc sử dụng để làm sạch dầu khi có hoặc không có phƣơng pháp làm
sạch cơ học và dầu tràn trong một thời gian dài. Nhìn chung, các hóa chất sử
dụng đƣợc chia làm hai nhóm: Nhóm các chất phân tán và nhóm các chất hấp
thu
Chất phân tán
Các chất phân tán có tác dụng phân tán dầu để đẩy nhanh tiến độ tách dầu
ra khỏi mặt nƣớc. Chúng là các chất hoạt động bề mặt, thành phần cấu tạo bao
gồm phần ƣa nƣớc và phần ƣa dầu, thƣờng đƣợc sử dụng dƣới dạng các sản
phẩm thƣơng mại nhƣ IFO-180, IFO-380, COREXIT-950…Tác nhân phân tán
hoạt động nhƣ chất tẩy rửa, có tác dụng làm giảm bớt lực căng bề mặt giữa dầu
và nƣớc tạo ra những giọt dầu nhỏ. Điều này giúp làm tăng tốc quá trình pha
loãng và phân hủy sinh học của dầu, và có thể làm giảm thiệt hại gây ra bởi dầu
nổi trên mặt biển cho một số tài nguyên, loài chim biển, ví dụ nhƣ giảm thiệt hại
ở bờ biển nhạy cảm, nơi có rừng ngập mặt, loài chim quý. Cơ chế hoạt động của
chất phân tán đƣợc trình bày trong hình 1.1 dƣới đây .
Hình 1.1: Cơ chế hoạt động của chất phân tán
Cơ chế phân tán và tách pha dầu khỏ nƣớc nhờ các chất phân tán đƣợc
trình bày trong hình dƣới đây [6].