TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********
VŨ THỊ THẢO
TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH ĐẤT NƢỚC
CỦA NGUYỄN TRƢỜNG TỘ
(CUỐI THẾ KỶ XIX)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. CHU THỊ THU THỦY HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của khóa luận 4
6. Bố cục khóa luận 4
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
(CUỐI THẾ KỶ XIX) 5
1.1. TÌNH HÌNH VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX 5
1.1.1. Kinh tế 5
1.1.1.1. Nông nghiệp 5
1.1.1.2. Thủ công nghiệp 6
1.1.1.3. Công nghiệp 6
1.1.1.4. Thương nghiệp 7
1.1.2. Chính trị 7
1.1.3. Xã hội 9
1.1.4. Văn hóa-giáo dục 11
1.1.5. Những tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX 12
1.1.5.1. Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ 12
1.1.5.2. Tư tưởng cải cách của Phạm Phú Thứ 13
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LUỒNG TƯ TƯỞNG BÊN NGOÀI ĐẾN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm giữa thế kỷ XIX, một vấn đề nổi cộm trong chính
sách đối ngoại của các nước phương Đông là làm thế nào để bảo vệ được nền
độc lập dân tộc và bảo tồn được các giá trị văn hóa trước sự bành trướng và
xâm lược của thực dân phương Tây. Trong giải pháp của các nước Đông Bắc
Á được xây dựng trên nền tảng Nho giáo như Trung Quốc, Nhật Bản ta có thể
tìm thấy một nét chung là: cố gắng hòa nhập yếu tố cũ và mới, truyền thống
và hiện đại trên bước đường phát triển của đất nước. Nhưng ở nước ta, dưới
triều Nguyễn, tình hình diễn ra hoàn toàn khác. Trước vận mệnh sống còn của
đất nước những nho sĩ thức thời lúc đó đã trăn trở, suy ngẫm để cuối cùng bật
lên những tư tưởng sáng chói trên những trang điều trần gửi tới triều đình.
Những tư tưởng lớn ấy đã hợp thành dòng phái duy tân mà tiêu biểu là
Nguyễn Trường Tộ.
Vậy tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ
XIX được biểu hiện như thế nào? Có tác động gì đến tình hình xã hội lúc bấy
giờ hay không? Tư tưởng canh tân đất nước của ông có được thực hiện hay
không?
Vấn đề này cũng được nhiều nhà sử học quan tâm và cũng có nhiều
công trình nghiên cứu có liên quan được thực hiện và đã thành công. Tuy
nhiên để đánh giá đúng sự thật khách quan của tình hình xã hội lúc bấy giờ thì
chưa ai dám khẳng định hoàn toàn. Chính vì vậy, tác giả bài nghiên cứu này
quyết định chọn đề tài “Tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ
cuối thế kỷ XIX” để tiếp tục nghiên cứu, với mong muốn hệ thống lại tư
tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và có cái nhìn khách quan, chân thực
về tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Qua đó đánh giá vai trò của triều
Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. Đồng thời đề tài
2
(2010), Nxb Giáo Dục Việt Nam. Tác phẩm này đề cập đến việc cải cách Duy
Tân ở Nhật Bản và cách nhìn nhận của các sĩ phu yêu nước Việt Nam về
phong trào duy tân.
Tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân” của Bùi Kha
(2011), Nxb Văn học. Tác phẩm này đã khái quát tư tưởng của Nguyễn
Trường Tộ qua các bản điều trần. Nêu rõ quan điểm chính trị, những đề nghị
cải cách, canh tân của Nguyễn Trường Tộ.
Những tác phẩm trên phần nào khái quát về công cuộc cải cách của
Nguyễn Trường Tộ. Trên cơ sở đó, ở đề tài khoa học này, tôi muốn đi tìm
hiểu cụ thể hơn những điều kiện tác động đến sự hình thành tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ và nội dung trong tư tưởng cải cách của ông. Từ đó
đưa ra những nhận xét, đánh giá về tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
cuối thế kỷ XIX.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu những điều kiện chủ quan và khách quan dẫn đến sự hình
thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ. Qua đó làm sáng tỏ tư tưởng
cải cách của Nguyễn Trường Tộ để thấy được điểm tiến bộ trong tư tưởng cải
cách của ông, đồng thời lý giải nguyên nhân thất bại trong tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX.
3.2. Nhiệm vụ
Phân tích những điều kiện tác động đến sự hình thành tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ (cuối thế kỷ XIX).
Phân tích nội dung tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trên tất cả
các lĩnh vực: kinh tế, chính trị - quân sự, văn hóa - giáo dục, ngoại giao. Từ
4
đó đưa ra những nhận xét đánh giá về tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường
Tộ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
1.1. TÌNH HÌNH VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX
1.1.1. Kinh tế
Nửa sau thế kỷ XIX, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có những biến
động. Cơ cấu kinh tế về cơ bản vẫn chưa thay đổi. Hai ngành nông nghiệp và
thủ công nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh những yếu tố cổ truyền
trong hai ngành này đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới.
1.1.1.1. Nông nghiệp
Trong nông nghiệp, diện tích canh tác đã tăng một cách đáng kể, tuy
vậy vẫn không bù lại được số ruộng bị bỏ hoang do thiên tai, mất mùa, nhiều
nông dân đã phải đi lưu tán. Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính độc canh,
tuyệt đại bộ phận diện tích đất canh tác đều trồng lúa. Do kỹ thuật lạc hậu nên
năng suất không cao (khoảng 9 tạ/ha).
Đến cuối những năm cuối thế kỷ XIX, tư bản Pháp tăng cường
cướp đoạt ruộng đất của nông dân: “Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra
nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền mà chúng
gọi là đất vô chủ” [4; tr.284]. Tiếp đến năm 1897, triều đình Huế lại ký điều
ước nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân
Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của vua Nguyễn. Từ đây
thực dân Pháp tha hồ tước đoạt ruộng đất của nhân dân ta. “Năm 1900, diện
tích của các đồn điền người Âu là 322.000ha, trong đó ở Nam Kỳ là
78.000ha” [4; tr.287]. Phương thức kinh doanh trong các đồn điền của Pháp
chủ yếu vẫn là phát canh thu tô, thực dân Pháp ít quan tâm đến kỹ thuật khiến
cho đất đai ngày càng nghèo nàn, sức lao động trở nên kiệt quệ.
6
1.1.1.2. Thủ công nghiệp
Đến giữa thế kỷ XIX, thủ công nghiệp Việt Nam đã khá phát triển. Một
số nghề có xu hướng tách khỏi nông nghiệp hình thành ra các làng nghề hay
phố nghề: Nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà; nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà
Đông)…
thụ hàng hóa Pháp.
Ngày 11/1/1892, Pháp ra một đạo luật mới, quy định hàng hóa Pháp
hoàn toàn được miễn thuế còn hàng hóa nước khác phải đóng từ 25% đến
120% giá trị khi nhập khẩu vào Việt Nam. Chính sách độc quyền thương mại
của thực dân Pháp làm bần cùng hóa nhân dân lao động và bóp chết các
ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam.
Toàn bộ chính sách đầu tư, khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Đông
Dương là một chính sách hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận nhằm trói buộc nền kinh
tế nước ta phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp. Đây là chính sách cướp bóc của
thực dân Pháp bằng phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình
thức bóc lột dã man thời trung cổ.
1.1.2. Chính trị
Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, Pôn Đume đã
tiến hành xây dựng nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ
đoạn “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”.
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang
Đông Dương gồm các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, đến
ngày 19/4/1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên
Bang Đông Dương. Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên toàn quyền
người Pháp, đại diện cho chính phủ Pháp trực tiếp cai trị Đông Dương về mọi
mặt. Dưới hội đồng tối cao Đông Dương, có các cơ quan Trung ương về quân
8
sự, dân sự, pháp lý, thanh tra, cảnh sát, tài chính…đặc trách các công việc
giúp toàn quyền điều hành bộ máy thống trị và khai thác bóc lột.
Việc củng cố chính quyền Liên bang gắn với việc củng cố chính quyền
các xứ. Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành
động của chúng. Nước Việt Nam chia làm ba xứ với ba chế độ khác nhau.
Nam kỳ là xứ thuộc địa gồm 20 tỉnh do thực dân trực tiếp cai trị về mọi mặt.
Trung Kỳ là xứ bảo hộ chia làm 14 tỉnh do một viên quan khâm xứ
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã
hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX bắt đầu có sự biến đổi. Các giai cấp cũ tiếp
tục tồn tại và phân hóa, một số giai cấp và tầng lớp mới ra đời.
Giai cấp địa chủ:
Giai cấp địa chủ không bị suy yếu với sự xâm nhập của tư bản nước
ngoài, trái lại còn mạnh lên về số lượng, thế lực và kinh tế, chính trị được
thực dân Pháp dung dưỡng trở thành tay sai đắc lực cho chúng. Cho nên giai
cấp địa chủ ra sức bóc lột nhân dân ta. Thái độ chính trị của giai cấp địa chủ
cũng phân hóa. Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước sẵn sàng
tham gia cách mạng.
Giai cấp nông dân:
Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư, họ bị phân hóa sâu sắc
vì chính họ là đối tượng bị bóc lột. Nạn cướp đoạt ruộng đất của thực dân
Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến, cùng sưu cao thuế nặng, tạp dịch cũng
như thiên tai xảy ra liên miên dẫn đến nông dân bị mất mùa, nạn đói đẩy nông
dân vào con đường bần cùng và phá sản. Hơn 90% dân số là mù chữ, bị phá
sản và bần cùng, người nông dân phải bỏ làng, bỏ xóm ra thành phố, đến các
10
công trường, hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền để làm thuê. Chính vì vậy họ
không ngừng tham gia đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.
Tầng lớp tư sản:
Tư sản số lượng còn ít, nguồn gốc xuất thân, thái độ chính trị khác
nhau. Tư sản Việt Nam ra đời sớm nhưng không có địa vị về kinh tế, chính trị
nên bị tư sản Pháp và tư sản Hoa Kiều chèn ép. Với thế lực kinh tế yếu ớt, lại
bị phụ thuộc vào Pháp cho nên tầng lớp tư sản dân tộc chưa đủ điều kiện để
trở thành một giai cấp. Tất cả các đặc điểm đó dẫn đến yếu tố cải lương trong
quá trình đấu tranh.
Tầng lớp tiểu tư sản:
Thành phần của tầng lớp này khá phức tạp, bao gồm: tiểu thương, tiểu
Báo chí là một công cụ tuyên truyền đắc lực cho sự thống trị của thực
dân Pháp. Việc xuất bản sách, báo, tranh ảnh cũng được chú ý. Sách được
xuất bản thành 4 ngôn ngữ: Hán, Nôm, Pháp, Quốc Ngữ. Hoạt động xuất bản
đã đánh dấu một bước phát triển mới, chuyển từ xuất bản sách phần lớn là
chữ Hán và chữ Nôm sang phần lớn chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp: “Sự xuất
hiện và phổ biến chữ Quốc ngữ đã trở thành cỗ xe nhẹ nhàng chở những
luồng tư tưởng mới để sau đó trở thành vũ khí đấu tranh của dân tộc Việt
Nam chống thực dân và phong kiến” [4; tr.289].
Tình hình sinh hoạt văn hóa có ít nhiều biến đổi và phát triển, chủ yếu
ở các đô thị. Ở nông thôn văn hóa làng vẫn tồn tại trong chính sách “bần cùng
hóa” và “ngu dân hóa”. Những thói hư tật xấu của xã hội được thực dân Pháp
dung dưỡng. Các tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại và ngày càng trầm trọng hơn:
Cờ bạc, rượu chè…cùng với đó là những hủ tục ma chay, cưới xin, nạn bói
toán, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề. Nhân dân bị thất học hơn 90%.
12
Cuối thế kỷ XIX nước ta lâm vào tính trạng khủng hoảng về mọi mặt:
kinh tế ngày càng kiệt quệ, chính trị - quân sự bất ổn, xã hội phân hóa sâu sắc,
văn hóa - giáo dục thấp kém. Thêm vào đó là sự nhòm ngó, mở rộng xâm
lược của tư bản Pháp. Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu đối với triều đình nhà
Nguyễn: Một là, tiến hành cải cách mở cửa, trấn hưng đất nước, chuẩn bị mọi
lực lượng, kế hoạch tác chiến, đường lối kháng chiến để tiến hành kháng
chiến chống xâm lược. Hai là, bắt tay với Pháp trở thành tay sai, thuộc địa của
tư bản phương tây. Trước yêu cầu đó, Nguyễn Trường Tộ cùng với một số sĩ
phu yêu nước đã đề nghị triều đình Tự Đức canh tân đất nước. Theo ông, đất
nước đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt như vậy thì
phải tiến hành cải cách trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa,
giáo dục, ngoại giao.
1.1.5. Những tƣ tƣởng cải cách ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
1.1.5.1. Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ
thi Hội đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Quý Mão (1843).
Năm 1863, ông giữ chức Tả Tham tri Bộ Lại và làm Phó sứ cho Phan
Thanh Giản trong phái đoàn đi Pháp thương thuyết xin chuộc lại 3 tỉnh miền
Đông Nam kỳ. Trong thời kỳ ở Pháp ông còn đi thăm các nước châu Âu khác
như Anh, Tây Ban Nha…Qua chuyến đi này, ông nhận ra rằng, chỉ có con
đường canh tân mới giúp đất nước thoát khỏi thảm họa lạc hậu.
Sau chuyến đi Pháp về, ông tập hợp những điều mắt thấy tai nghe và
viết thành 5 bộ sách nói về văn minh phương Tây là “Bác vật tân biên” (nói
về khoa học), “Khai môi yếu pháp” (nói về khai mỏ), “Hàng hải kim châm”
(nói về phép đi biển), “Tùng chánh di quy” (nói về kinh nghiệm trong việc
làm quan) và “Vạn quốc công pháp” (nói về luật giao thiệp quốc tế). Trên cơ
sở đó Phạm Phú Thứ khẩn khoản đề nghị với triều đình Tự Đức thực hiện
14
những cải cách trong nước, chọn những thanh niên ưu tú cho xuất dương du
học để về xây dựng đất nước theo kịp tiến bộ mới nhưng không được chấp
nhận.
Đến năm 1873, Phạm Phú Thứ còn dâng sớ xin chấn chỉnh võ bị, hậu
dưỡng quan binh, giao hảo với các cường quốc, mở cửa thông thương và đặt
lãnh sự tại Hồng Kông để giao thiệp với nước ngoài.
Những đề nghị của ông, vua Tự Đức và triều đình có bàn bạc, nhưng
lúc đó ở trong triều có nhiều nhân vật thủ cựu, mù quáng, không thấy được
văn minh phương Tây nên rốt cuộc chẳng thực hiên được.
Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ và Phạm Phú Thứ tuy không
được thực hiện nhưng những tư tưởng đó đã khai mầm trên con đường cải
cách của các sĩ phu yêu nước thức thời dưới triều Nguyễn. Trong đó, tiêu biểu
là Nguyễn Trường Tộ.
1.2. ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC LUỒNG TƢ TƢỞNG BÊN NGOÀI ĐẾN
SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƢỜNG
TỘ
nhũng, bổ nhiệm những người thuộc phái Duy Tân vào bộ máy chính quyền,
thay đổi cải cách tuyển lựa quan lại theo dòng dõi, quyền quý bằng cách tôn
trọng hiền tài. Mục đích cuối cùng là từ quân quyền chuyển sang dân quyền,
từ độc tài sang dân chủ. Phái Duy Tân cho rằng cơ sở để xây dựng chế độ
chính trị mới ở Trung Quốc là dựa trên nguyên tắc “Hán Mãn bất phân, quân
dân công tri”. Các nhà Duy Tân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc
cải cách bộ máy chính trị mà trước hết là giành lại quyền lực thực sự về cho
nhà vua để tiến hành công cuộc cải cách có hiệu quả. Nhưng các nhà Duy Tân
đã lực bất tòng tâm, con đường cải cách chính trị thực sự là một con đường vô
cùng khó khăn, phái Duy Tân đã thất bại trong tình thế không cưỡng lại được.
16
Văn hóa-giáo dục
Trong chủ trương của phái Duy Tân, giáo dục được đặc biệt chú ý
nhằm đào tạo ra một đội ngũ nhân tài, góp phần nâng cao dân trí bắt kịp với
thời đại.
Phái Duy Tân đã đề ra bốn biện pháp để cải cách giáo dục: 1. Lập
trường học ở khắp nơi, tổ chức học theo mô hình kiểu phương Tây; 2. Thay
đổi nội dung học tập, cải cách chế độ thi cử, bỏ lối thi Bát Cổ; 3. Mở nhiều
nhà in để in sách báo và dịch các loại sách; 4. Cử người đi du học ở nước
ngoài.
Chủ trương của phái Duy Tân bắt đầu từ việc thay đổi cách học để tiến
đến chỗ cải cách chế độ do đó đã vấp phải sự chống cự quyết liệt của phái
Bảo Thủ. Phái Duy Tân thông qua các tổ chức “Cường Học Hội”, “Nam Học
Hội”…với các hình thức hoạt động phong phú như: diễn thuyết, trao đổi, thảo
luận, bình văn…kết hợp với cả vận động cải cách chính trị dân chủ, đã tạo
thành một phong trào học mới lan rộng cả nước, không chỉ đổi mới việc học,
phái Duy Tân còn chủ trương xóa bỏ những lạc hậu, hủ tục,thay đổi cách ăn
mặc quần áo, nếp sống sinh hoạt…
Những biện pháp đổi mới văn hóa giáo dục của phái Duy Tân đã tấn
phép tự do kinh doanh. Cải cách ruộng đất dẫn đến việc cải cách về chế độ
thuế. Cuộc cải cách ruộng đất đã góp phần tăng nguồn thu nhập cho quốc gia
để giải quyết khó khăn về tài chính ban đầu.
Trong lĩnh vực công nghiệp, chính phủ thực hiện chính sách “Thực sản
hưng nghiệp” với quyết tâm xây dựng một nền đại công nghiệp làm nền tảng
cho toàn bộ nền kinh tế. Nhà nước bỏ tiền đầu tư những xí nghiệp làm nền
tảng cho toàn bộ nền kinh tế. Trước hết nhà nước đầu tư vào những xí nghiệp
lớn sử dụng thiết bị và kỹ thuật tiên tiến của phương Tây để làm mẫu hoặc sau
18
đó sẽ chuyển nhượng cho tư nhân với giá rất rẻ. Thứ hai , nhà nước đã phát
hành công trái. Thứ ba, chính phủ còn chú trọng nhập khẩu những thiết bị và
kỹ thuật tiên tiến của kỹ nghệ phương Tây đưa vào nhằm hiện đại hóa nền
kinh tế Nhật Bản.
Trong thương nghiệp, trong hai năm 1868 và 1869, chính phủ ra lệnh
xóa bỏ tất cả các trạm thuế ở biên giới đặt ra trước đây, đồng thời tuyên bố tự
do mậu dịch. Những chính sách này góp phần xóa bỏ những rào cản mở
đường cho nền thương nghiệp phát triển mạnh mẽ trong quỹ đạo kinh tế hàng
hóa.
Bên cạnh những cải cách trên, chính phủ cũng tiến hành một số cải tổ
trong lĩnh vực tài chính như: mở xưởng đúc tiền, quy định đồng Yên là đồng
tiền dùng thống nhất trong cả nước, thiết lập một hình mẫu ngân hàng theo
mô hình của Mỹ.
Với những chính sách cải cách trên, Nhật Bản đã trở thành cường quốc
tư bản ở khu vực và đang chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Chính trị
Ngày 27/4/1868, Thiên Hoàng tuyên bố “Chính thể thư” nhằm xác định
mô hình chính trị của Nhật Bản trên cơ sở học tập các mô hình chính trị của
các nước Châu Âu. Theo đó về hình thức nhà nước Nhật Bản là nhà nước
Quân chủ Lập hiến, nhưng thực tế mọi quyền hành đều nằm trong tay Thiên
xác định đúng đắn phương châm giáo dục, cho nên Nhật Bản du nhập, học hỏi
khoa học kĩ thuật phương Tây để cận đại hóa rất mạnh mẽ, nhưng không hề bị
Tây hóa. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn mới các chuyên gia giáo dục
ngoại quốc sang dạy, hay tăng cường học sinh đi du học ở nước ngoài để tạo
điều kiện tiếp thu văn minh phương Tây có hiệu quả.