Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết lạnh lùng của nhất linh - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ơ ĐÀO THỊ THU THỦY

NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÝ NHÂN
VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH
LÙNG CỦA NHẤT LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Hà Nội 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Em cũng xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã giúp đỡ
em về mọi mặt để em hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện và khả năng có hạn nên nội dung của đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các
thầy cô để rút kinh nghiệm và bổ sung kiến thức cho bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Đào Thị Thu Thủy
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham
khảo ý kiến của những người đi trước, tham khảo các tài liệu có liên quan dưới
sự hướng dẫn của TS.GVC Thành Đức Bảo Thắng.
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, một công trình sẵn có.
Kết quả khóa luận ít nhiều có đóng góp vào việc tìm hiểu và nghiên cứu
tác giả Nhất Linh.
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đào Thị Thu Thủy
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN


Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

3.1.1. Miêu tả tâm lí qua diện mạo, hành động 32
3.1.2. Miêu tả tâm lý qua đối thoại 39
3.2. MIÊU TẢ TÂM LÝ QUA ĐỘC THOẠI NỘI TÂM. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nói đến văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 không thể không nhắc
đến nhóm Tự lực văn đoàn, nhóm đã cho ra đời những tiểu thuyết thật sự mới về
nội dung tư tưởng và phong cách. Tự lực văn đoàn đã góp phần lớn đưa văn
xuôi Việt Nam bước sang giai đoạn hiện đại với những cây bút nổi tiếng như
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam,… Đặc biệt là Nhất Linh, người
có công đầu trong việc sáng lập nên Tự lực văn đoàn và đã để lại nhiều những
tác phẩm có giá trị như: Đoạn tuyệt, Bướm trắng, Đời mưa gió (viết chung với
Khái Hưng), Gánh hàng hoa (viết chung với Khái Hưng), Lạnh lùng…
Trong các tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói chung và các tác phẩm của
Nhất Linh nói riêng đều thể hiện rõ sự đổi mới văn học và cách tân văn hóa.
Phản ánh cuộc sống của con người cá nhân với chiều sâu nội tâm là nét đổi mới
tiêu biểu, thể hiện những quan niệm mới về cuộc sống và con người của nhà
văn. Đặc biệt, ông đã thành công trong việc thể hiện nghệ thuật miêu tả tâm lý
nhân vật, chú ý đi sâu vào phanh phui, mổ xẻ những khía cạnh tinh vi sâu kín

5. Lịch sử vấn đề
Sự xuất hiện của Nhất Linh gắn liền với sự ra đời của một tổ chức văn học
có tên “Tự lực văn đoàn” dưới sự dẫn đạo của ông “đã làm mưa làm gió trên văn
đoàn”, đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
Bởi vậy, số lượng bài viết và các công trình nghiên cứu về tác giả này khá
phong phú, đề cập đến nhiều phương diện về con người và văn nghiệp. Trong
khuôn khổ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu dừng lại khảo sát các ý kiến trực
tiếp liên quan tới nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết của Nhất
Linh nói chung và tiểu thuyết Lạnh lùng nói riêng, sắp xếp chúng theo trình tự thời
gian nhằm tái hiện một cách khách quan những quan điểm đánh giá ấy.
Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, tiểu thuyết của Nhất Linh đã thu hút
được sự chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình. Các nhà nghiên cứu
phê bình văn học cùng thời với Nhất Linh, đã có nhiều bài viết đánh giá sâu sắc,
phản ánh đúng vai trò đi tiên phong trong lĩnh vực đổi mới văn học, trong đó
cũng đề cập đến phương diện nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu
thuyết. Về Lạnh lùng (đăng trên báo Hữu Ích năm 1937) của Trương Tửu; Việt
Nam văn học sử yếu(1941) của Dương Quảng Hàm; Nhà văn hiện đại (1942)
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

3
của Vũ Ngọc Phan. Ở tiểu thuyết Lạnh lùng, ông tiếp tục khẳng định: “Không
thể lọt qua trí quan sát của ông, những tư tưởng ta giấu kín tận đáy lòng như
những con vật xấu xa. Người trong truyện vì thế mà linh động” [30;27].
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng nêu lên những nhận định khái quát
về nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh như sau: “Nếu đọc Nhất Linh, từ Nho
phong cho đến những tiểu thuyết gần đây nhất của ông, người ta thấy tiểu thuyết
của ông biến đổi rất mau. Ông viết từ tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết tình cảm,
qua tiểu thuyết luận đề, đến tiểu thuyết tâm lí; sự tiến hoá ấy chứng tỏ rằng mỗi

Tự lực văn đoàn ); Nguyễn Hoành Khung (Văn học Việt Nam 1930 -1945; Lời
giới thiệu bộ sách Văn xuôi lãng mạn trong văn học Việt Nam từ đầu những năm
1930 đến 1945), Trần Đình Hượu (Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục
của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hoá trong lịch sử văn học Phương Đông);
Nguyễn Trác - Đái Xuân Linh (Về Tự lực văn đoàn), Lê Thị Đức Hạnh (Thêm
mấy ý kiến đánh giá về tự Tự lực văn đoàn; Tự lực văn đoàn và Thơ mới ); Vu
Gia (Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học), Lê Thị Dục Tú (Quan
niệm về con người trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn), Trịnh Hồ Khoa
(Những đóng góp của Tự lực văn đoàn xây dựng cho một nền văn xuôi Việt Nam
hiện đại), Vũ Thị Khánh Dần (Tiểu thuyết của Nhất Linh trước Cách mạng
tháng Tám), Dương Thị Hương (Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn)… đã thể hiện một sự đánh giá phong phú một cách nhìn
toàn diện, đúng đắn và đa chiều về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng như tiểu
thuyết Nhất Linh.
Chúng tôi có thể dẫn ra đây một số ý kiến tiêu biểu. Chẳng hạn, Dương
Thị Hương trong công trình nghiên cứu của mình về Nghệ thuật miêu tả tâm lý
nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã khẳng định tiểu thuyết luận đề của
Nhất Linh “thành công và chiếm được cảm tình của giới trẻ đương thời vì đã thể
hiện được những luận đề phù hợp với chân lý đời sống, đem lại những khám phá
chân thực về nhân vật, về tâm lý” [ 20, 15]. Nguyễn Hoành Khung thì nhận xét:
“Với Lạnh lùng, Nhất Linh không còn gò cốt truyện, dàn nhân vật nhằm minh
hoạ cho một luận đề nữa, mà đưa ngòi bút đi sâu hơn vào việc phân tích tâm lý,
tình cảm, ở đây là tâm lý ái tình, và đạt tới một trình độ tiểu thuyết già dặn,
thành thục” [30, 32]. Với Phan Cự Đệ đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật
của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đã khẳng định: “Ngòi bút của Nhất Linh rất có
tài miêu tả những mối tình đầu trong sáng, đượm chút nhập ngừng, e thẹn, kín
đáo và ý nhị ” [6, 4].
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NHẤT LINH VÀ THẾ GIỚI TÂM LÝ TRONG LẠNH LÙNG
1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
1.1.1 Cuộc đời
Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam. Ông sinh ngày 25 tháng 7 năm
1905 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, nguyên quán làng Cẩm Phô, huyện
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông nội là Nguyễn Tường Tiếp, làm quan đến tri
huyện. Cụ có người con trai duy nhất là Nguyễn Tường Nhu làm thông phán nên
thường gọi là Thông Nhu, hay Phán Nhu. Ông Nhu mất năm 1918 khi mới 37
tuổi. Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sâm, có được 7 người con: Nguyễn
Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh,
Nguyễn Tường Long, tức nhà văn Hoàng Đạo, Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường
Lân (Vinh), tức nhà văn Thạch Lam, Nguyễn Tường Bách.
Gia đình Nhất Linh sống ở Cẩm Giàng, một huyện nhỏ. Cha ông mất
sớm, cả nhà lâm vào cảnh khó khăn. Từ bé, anh em Nhất Linh đã tiếp xúc với
những người nông dân nghèo khổ, điều đó ảnh hưởng đến văn học của Nhất
Linh và Thạch Lam sau này.
Thuở nhỏ, Nhất Linh theo học tiểu học ở Cẩm Giàng, học trung học tại
trường Bưởi ở Hà Nội. Năm 16 tuổi Nhất Linh làm thơ đăng báo Trung Bắc Tân
Văn, và năm 18 tuổi ông có bài Bình luận văn chương về Truyện Kiều trên Nam
Phong Tạp Chí.
Cuối năm 1923 ông đậu bằng Cao tiểu. Nhưng vì chưa đến tuổi vào

nhân. Chính vì vậy mà từ năm 1932 – 1935 tờ “Phong Hóa” trở thành nơi tập
hợp của các cây bút văn chương lãng mạn, là trung tâm của cuộc vận động văn
hóa tư sản trên văn đàn công khai lúc bấy giờ. Nhất Linh làm giám đốc kiêm
toàn bộ công việc quản lý từ điều khiển ban biên tập đến chỉ sự và cả viết bài vở
cho tờ báo Phong Hóa.
Năm 1933, Nhất Linh đứng làm chủ soái thành lập nhóm Tự Lực Văn
Đoàn gồm có các thành viên: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng
(Trần Khánh Giư), còn gọi là Nhị Linh, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long)
,Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân) ,Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) , Thế Lữ (Nguyễn
Thứ Lễ), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu). Đây Là thời kỳ mà Nhất Linh viết được
nhiều nhất, bởi ngoài việc quản lý, công việc sáng tác cho văn đoàn, để văn đoàn
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

8
hoạt động mạnh mẽ thôi thúc ngòi bút của ông rất nhiều. Lúc bấy giờ Tự lực văn
đoàn đã trở thành nhóm văn học hoạt động có hiệu quả, ngoài việc xuất bản sách
của nhóm, còn tổ chức trao giải thưởng mang tên “Giải thưởng Tự lực văn
đoàn” thúc đẩy văn học phát triển rầm rộ.
Năm 1935, sau khi tờ “Phong Hóa” bị đóng cửa Nhất Linh cho ra đời tạp
chí Ngày nay, rồi tham gia thành lập Hội Ánh Sáng – một tổ chức từ thiện chủ
trương “làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo”.
Từ năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, Nhất Linh ngừng sáng tác
chuyển sang hoạt động chính trị, bí mật thành lập “Đảng Hưng Việt”,sau một
thời gian hoạt động, Đảng Hưng Việt sát nhập vào Việt Nam quốc dân Đảng.
Nhất Linh hoạt động trong tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng, làm tổng thư ký
Đảng “Đại Việt dân chính” có tư tưởng chống Pháp thân Nhật rồi thân Tàu
Tưởng. Cuối năm 1945 Nhất Linh theo Nguyễn Hải Thần về nước tham gia
chính phủ liên hiệp, giữ chức Bộ trưởng bộ ngoại giao. Khi quân đội Tưởng rút

Dịch phẩm: Đỉnh gió hú của Emily Bronte (đăng báo 1960, xuất bản 1974).
1.2. THẾ GIỚI TÂM LÝ TRONG LẠNH LÙNG
Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật là một phương diện trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn, gắn liền với miêu tả ngoại hình và
miêu tả hành động của nhân vật. Điều đó cũng có nghĩa là tính tất yếu trong
hành động thường liên quan chặt chẽ với tính tất yếu trong hành động nội tâm
của nhân vật. Ở đây khái niệm “nội tâm” chỉ toàn bộ cuộc sống bên trong của
nhân vật. Đó là những tâm trạng suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, những phản ứng
tâm lý của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật chứng
kiến hoặc thể nghiệm trên bước đường đời của mình. Nhà văn có thể trực tiếp
biểu hiện nội tâm của nhân vật bằng ngôn ngữ của chính mình với tư cách người
kể chuyện. Nhưng biện pháp mà nhà văn hay dùng nhất là biểu hiện “độc thoại
nội tâm” và “đối thoại nội tâm” của nhân vật. Những đoạn này được thể hiện
bằng chính ngôn ngữ của nhân vật, chúng “vang lên” một cách thầm lặng trong
tâm tư của nhân vật. Nhân vật tự biểu hiện phơi bày những diễn biến trong tâm
trạng của mình qua những suy nghĩ cảm xúc cụ thể. Bên cạnh đó, nhà văn còn
kết hợp thêm nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo khác nữa góp phần đi sâu vào
nội tâm nhân vật. Có thể nói để đạt được sự thành công trong miêu tả tâm lý
nhân vật nhà văn phải thực sự nhập thân vào nhân vật, phải sống cùng nhân vật
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

10

của mình, đồng cảm với từng niềm vui, nỗi buồn của nhân vật. Có như vậy
người sáng tạo mới có thể thể hiện hết những cung bậc cảm xúc, những thay đổi
của diễn biến tâm lý phức tạp. Đó chính là điều mà một nhân vật cần đạt tới. Tất cả
những điều đó đã được Nhất Linh thể hiện thành công trong tiểu thuyết Lạnh lùng.
1.2.1. Thế giới cảm giác mới mẻ trong Lạnh lùng

bằng cốt truyện và những tình tiết éo le mùi mẫn , ông chỉ diễn tả cảm xúc tinh
tế, những diễn biến tâm lý của thanh niên buổi đầu hẹn hò. Có thể nói, những tác
phẩm của ông được ví như những bản tình ca không lời đầy lãng mạn nhưng
cũng lắm bi kịch mà trái ngang.
Khi tình yêu giữa hai người đã nảy sinh nhưng giữa họ vẫn còn những
cảm giác e thẹn, ngại ngùng, man mác, sung sướng, những cảm giác giận hờn,
trách móc hay đôi khi là những cảm giác buồn nhớ khi sắp phải xa người mình
yêu nhưng những cảm giác đó nhân vật chỉ thể hiện ở trong lòng chứ không bộc
lộ ra ngoài: “ Cảm động nàng nhìn bức ảnh của nàng mà Dũng có lẽ vì yêu nàng
đã lấy trộm, và lúc đi lại nhớ đem theo đi (…) nàng thấy trong lòng man mác,
sung sướng”. [26;17]; “Rồi hai người lặng lẽ cùng nhìn hạt mưa bay, Loan rùng
mình, cởi khăn san quàng phủ lên đầu, vì gió lạnh nổi lên lọt vào phòng. Loan
cảm thấy sự lạnh lẽo của cuộc đời nàng khi Dũng đi xa” [26;21].
“Nhung không dám cử động chân tay sợ người ta nhận ra cái bối rối của
mình” [24;22]; “ Nàng đang mê man nhìn Nghĩa, trong lòng sung sướng và mỉm
cười” [24;70] v.v
Và những cảm giác của nhân vật trước những vui buồn của cuộc sống gia
đình, cảm giác nhẹ nhàng, đôi khi lại mãnh liệt trước những nỗi đau và cả những
hạnh phúc mà nhân vật đang trải qua thể hiện rõ trong tâm hồn.
Trong Lạnh lùng Nhung cũng vậy, mặc dù nàng đã rất cương quyết với sự
lựa chọn cho tương lai và hạnh phúc của mình nhưng: “Nhung vì thấy mẹ khóc
trong lòng tự nhiên thổn thức hai hàng nước mắt chảy ròng ròng trên má. Nàng
rút khăn lau thầm không muốn cho mẹ biết. Nàng nhất định không để cho lòng
mình cảm động” [24;150].
Nhất Linh đã rất tinh tế và khéo léo khi miêu tả thế giới cảm giác của
nhân vật. Không như những tiểu thuyết truyền thống, việc thể hiện tâm lý nhân
vật là để thuyết minh lí do của hành động. Ở đây Nhất Linh miêu tả thế giới cảm
giác là để biểu hiện một thế giới tâm lý độc lập, chứng tỏ sự đa dạng của tâm
hồn, của đời sống nội tâm. Đó chính là những cảm giác của nhân vật khi tiếp
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Nó cho ta thấy sự phong phú và đa dạng trong tâm hồn của con người, nó độc lập
với hoạt động của con người chứ không phải để đi giải thích lý do của hành động.
Đây chính là cái mới, cái tinh tế của Nhất Linh khi miêu tả tâm lý nhân vật.
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

13

Những đặc điểm trên trong thế giới cảm giác của Nhất Linh đã cho chúng
ta thấy rõ tâm hồn con người ở đây đầy ắp những cảm giác tinh tế về bản thân:
Những trạng thái cảm xúc mạnh mẽ xen lẫn những cảm giác thoảng qua, những
ham muốn nhục dục mãnh liệt nhưng kín đáo đồng thời cũng đầy ắp những cảm
giác hổ thẹn của lương tâm; Sự ghê tởm chính mình muốn nâng đỡ con người
lên, vượt khỏi cái tầm thường. Đó là chất nhân văn sâu đậm mà Lạnh lùng Nhất
Linh mang lại.
Nhất Linh đã đưa chúng ta đến với một thế giới cảm giác mới mẻ và đầy
lạ lẫm. Không chỉ cảm nhận được thế giới trong tâm hồn mình, con người trong
tác phẩm Nhất Linh cảm nhận được thế giới xung quanh mình như cảm giác về
người khác, cảm giác về thiên nhiên. Đây cũng là mặt rất nổi bật trong thế giới
cảm giác của Nhất Linh.
Nếu thiên nhiên trong văn học cổ được miêu tả là để thể hiện tâm trạng
con người thì thiên nhiên ở tiểu thuyết Nhất Linh còn là thiên nhiên hưởng thụ.
Con người Nhất Linh dường như luôn mở rộng các giác quan để hưởng thụ thiên
nhiên như một nguồn lạc thú.
Vẻ êm mát của ngọn gió, hương thơm của một cánh hoa, cái yên tĩnh của
bầu trời, cái bao la của sông nước…tất cả đều đọng lại trong thế giới cảm giác
của con người trong tiểu thuyết Nhất Linh. Thiên nhiên không chỉ là cái “bè” để
chở cảm giác mà còn là không gian lý tưởng để các vùng cảm giác tiềm ẩn đâu
đó có dịp giãi bày, phơi trải, nơi con người khám phá ra thế giới tâm hồn mình.

được gặp Nghĩa, được nhìn thấy Nghĩa, lắng tai nghe ngóng mỗi lần người khác
nhắc đến Nghĩa, nhưng khi nghe mẹ chồng kể tốt về Nghĩa trước mặt mình thì
Nhung lại có cảm giác khó chịu: “Nhung vui thích ngồi nghe bà án khen ông giáo
nhưng nàng vẫn lấy làm lạ rằng bà mẹ chồng trước mặt nàng lại kể lể tính nết tốt ông
giáo một cách rất tự nhiên như vậy.Nàng khó chịu vì bà Án quá tin nàng đến nỗi mời
ông giáo về nhà dạy trẻ coi như một sự bình thường, không kể đến rằng trong nhà có
một nàng dâu góa trẻ” [24;5].
Ở trong Nhung, luôn là sự mâu thuẫn giữa một bên là khát vọng yêu, khát
vọng sống chính đáng với một bên là sự thỏa mãn, lòng tự cao về phẩm hạnh
được quy định, đề cao của đạo đức phong kiến. Nhiều lần nàng khó chịu và còn
cảm thấy ngột ngạt vì mẹ chồng nàng luôn đem nàng ra khoe với mọi người về
phẩm hạnh của nàng nhưng cũng nhiều lúc Nhung lại cảm thấy: “Dễ chịu mỗi
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

15

lần được người ta tỏ ý kính phục; những lời khen tuy đã nhàm nhưng vẫn thỏa
được lòng tự cao của nhung về nhân phẩm mình” [24;23].
Đôi lúc Nhung muốn liều cùng đi với Nghĩa sống cuộc đời vợ chồng
“Sống một cảnh đời giản dị, bên cạnh người yêu, ở một chốn xa xôi không còn
liên lạc gì với cái xã hội nặng nề cũ” [24;129]. Nhưng với cuộc sống hiện tại
Nhung lại vẫn muốn giữ được tiếng thơm, vẫn muốn mọi người kính trọng
mình. “ Nàng nghĩ đến tiếng thơm của mình, của nhà, để khỏi bị cám dỗ; nhưng
tiếng gọi của sự ân ái vẫn có sức mạnh hơn, lúc nào cũng tha thiết vẳng bên tai.
Mỗi lần nghĩ đến cái thú lén lút tới nhà Nghĩa, được gặp Nghĩa, nàng thấy hoa
cả mắt và trong lòng rung động một cách êm ái” [24;115]. Nhung luôn sống
trong cảm giác trái ngược nhau trước sự lựa chọn hiện tại và tương lai: “Ngồi
trong xe nhìn ra cảnh hàng phố và những người qua lại dưới trời mưa. Nhung

gia đình nhà chồng, thậm chí cả bố mẹ đẻ của mình thì Nhung chủ yếu chỉ đấu
tranh với cái danh hão “tiết hạnh”, “tiếng thơm” ngự trị ngay chính trong tâm
hồn, tư tưởng, lẽ sống của mình. Loan phải chống lại người ngoài, Nhung phải
chống lại chính bản thân, mà chống lại bản thân mình bao giờ cũng khó. Cho
nên hành động nhất quán của Loan là sự chống đối quyết liệt, còn ở Nhung thì
“bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Tác giả đã miêu tả những biểu hiện do
dự trong tâm lý của Nhung qua quá trình lựa chọn hành động cho bản thân.
Nhung luôn nghĩ và hướng tới một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, nhưng luôn bị
tác động bởi những kiểm tỏa, níu kéo của môi trường, hoàn cảnh lễ giáo. Vì vậy
cô trở thành một kẻ do dự lúng túng không biết tìm một giải pháp phù hợp với
mong muốn của mình: ở vậy thờ chồng nuôi con giữ trọn tiếng thơm của gia
đình và bản thân mà mình đã dày công vun đắp hay đi theo tiếng gọi của tình
yêu, hạnh phúc lứa đôi? Nói thật tất cả tình cảm và dự định của mình ra cho tất
cả mọi người hiểu hay cứ âm thầm lặng lẽ sống trong những dằn vặt của sự giả
dối? Tác giả đã tạo nên những giằng xé, xung đột giữa đạo đức truyền thống và
tính nhân đạo, đòi hỏi người trong cuộc phải quyết định ngay bởi càng do dự
chừng nào thì càng gánh lấy đau khổ chừng đó. Qua quá trình đấu tranh gay gắt
trong tâm lý nhân vật Nhung người ta thấy nàng càng ngày càng lùi về điểm
xuất phát. Nếu so với Loan, có thể nói Nhung đã tự biến những ý nghĩ tích cực
đấu tranh vì cái mới của mình thành tư tưởng đầu hàng. Tuy nhiên, dù có lùi
bước, nhưng Nhung luôn luôn có thái độ tự đánh giá, nói chính xác hơn Nhung
là người tỉnh táo trong thất bại, biết lấy việc tự khinh bỉ, tự lên án làm một thứ
Đại học Sư phạm Hà Nội II

Đào Thị Thu Thủy - K36B Ngữ văn

17

vũ khí chống lại sự giả dối đến phi lý, phi nhân đạo của lễ giáo để cảnh tỉnh các
chị em cùng cảnh ngộ. Vì vậy tuy đầy mâu thuẫn giằng xé nhưng tâm lý nhân

18

Tác giả đã chỉ ra hàng loạt chi tiết thể hiện sự giả dối có ý thức ấy trong
tâm lý của Nhung. Đầu tiên là sự giả tạo của những giọt nước mắt ngày giỗ
chồng: “ nàng rút khăn lau vội nước mắt, và cố ý lau qua loa để cho mọi người
nhìn nàng còn biết là nàng vừa mới khóc”, bởi vì trong tâm trạng lần đầu tiên
trong ba năm , “nàng mong đợi ngày giỗ chồng” để được gặp mặt tình nhân , thì
lấy đâu ra những giọt nước mắt tiếc nhớ , có chăng chỉ là sự tủi thân “thấy mình
lẻ loi”[24;7]. Sau đó là những hẹn hò vụng trộm ngoài vườn, ngày Tết, ngày lễ
chùa, trên tỉnh (khi Nghĩa bỏ đi) với những trò ngụy trang khéo léo: giả ngủ mơ
dậy lễ tạ khi mẹ chồng thức giấc, hái vội cành ổi để gọi là hái lộc khi mẹ chồng
nghi ngờ, gọi thằng ở mặc dù nó vắng nhà để cho hàng xóm không nghĩ rằng
nàng ở nhà một mình cùng Nghĩa, viện cớ đi thăm bạn bè hoặc mua một thứ đồ
gì đó cho con. Nhưng rồi Nhung lại ý thức được rõ rệt rằng chẳng có gì là ổn
thỏa cả, càng giả dối, nàng cảm thấy mình đáng khinh, khốn nạn, xảo quyệt. Bao
giờ cũng vậy vừa buông một lời nói dối xong là Nhung lập tức tự thấy khinh bỉ
mình :“ Nàng muốn kêu to lên một tiếng nàng muốn ngay lúc ấy nói rõ sự thực,
tất cả sự thực, giá nàng có đủ can đảm nói hết được: Tôi thế đấy, can gì phải dấu
diếm ai nữa! Nàng tưởng giá nói được câu ấy thì nàng sẽ sung sướng, nhẹ nhàng
biết bao”, “Thấy con sung sướng được mặc chiếc áo đẹp, chiếc áo mà nàng đã
mua để mọi người khỏi nghi ngờ mình đi với tình nhân, Nhung mỉm cười chua
chát bế con lên” [24;85].
Có một điều dễ nhân thấy là đi kèm với những lời nói dối đầy chủ động
cũng là những nhận xét chua chát của chính nhân vật hoặc người tưởng thuật thể
hiện rõ nét sự mâu thuẫn trong tâm lý nhân vật. Đối với Nhung ở đây là sự phân
tích tâm lý đầu hàng, thỏa hiệp với một thái độ tự phê phán. Qua đó độc giả
thấm thía dần tất cả gánh nặng tự nhiên, vô hình mà ám ảnh, của những thế lực
gia đình, tập quán đang ngự trị giữa đời sống, nằm ngay trong mỗi người, đè trĩu
nên mối tình của người trong cuộc. Lạnh lùng trở thành lời cảnh tỉnh cho phái
mới với một dụng ý nghệ thuật rất rõ ràng.

hỗn tạp, không biết làm thể nào để có được hạnh phúc.

Trích đoạn MIÊU TẢ TÂM LÝ QUA NGOẠI HIỆN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status