Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp nước Lào - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tế đã cho biết đối với mỗi quốc gia, sự phát triển kinh tế- xã hội
gắn liền với đàu tư. Tuy nhiên, đối với nước chậm phát triển như Lào là rất
cần thiết lượng vốn để đầu tư phả triển kinh tế- xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài là một nguồn lực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của Lào.
Bắt đầu từ năm 1994, Luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
được ban hành, Lào đã thu hút được lượng vốn FDI ngày một tăng lên, góp
phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội của Lào, góp phần tăng thu
nhập của nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
đất nước đi theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa cac
ngành nghề kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm cho lao động, giảm thất
nghiệp…
Công nghiệp là một trong lĩnh vực sản xuất vật chất trong quá trình
kinh doanh lớn và quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Vậy, thu hút vốn
FDI vào phát triển ngành Công nghiệp là một vấn đề cấp bách. Trong thời
gian qua việc thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp lào vẫn còn nhiều
hạn chế và chưa đạt yêu cầu. Số lượng dự án, lượng vốn đầu tư vào ngành
công nghiệp hạn chế. Để nghiên cứu và khắc phục những hạn chế trong việc
thu hút vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp, cho nên tác giả chọn đề
tài: “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành công nghiệp
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm đề tài luận vaen thạc sỹ của
mình.1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương I: Những vấn đề chung về thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) và sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành
công nghiệp nước CHDCND Lào.

Các quan điểm và định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được
đưa ra tuỳ theo góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế, rát phong phú và đa
dạng. Qua đó, chúng ta có thể rút ra một địng nghĩa chung nhất như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo
lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư. Trong đó nhà ĐTNN có thể
thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý,
điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận
từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật ĐTNN của
nước đó.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành từ mọi thành phần
kinh tế: chính phủ, doanh nghiệp và tư nhân. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc
tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn, nguồn
vốn đầu tư này mang khoa học, kỹ thuật, bí quyết công nghệ hiện đại và kinh
nghiệm quản lý cho nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư trực tiếp sở hữu, sử
dụng và quản lý vốn của mình, vì thế không có quan hệ vay mượn giữa nhà
đầu tư và nước tiếp nhận đàu tư. Nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận
thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào
nước tiếp nhận đầu tư do vậy nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới,
đặc biệt là ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Do
vậy, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với quá trình công
nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước
nhận vốn.
1.1.2. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Chủ đầu tư phải thực hiện nghiêm ngắt nhưng quy định của pháp luật
mà nước sở tại đề ra đối với hoạt động đầu tư của mình.
- FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho chính phủ nước tiếp nhận đầu

- Trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối
lợi nhuận, cùng gánh chịu rủi ro. Do đó các bên tận dụng được lợi thế của
nhau. Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp thu các công nghệ tiên tiếnhiện
đại, học gỏi kinh nghiệm quản lý, trình độ quản lý kinh tế, kỹ thuật của nước
ngoài để nâng cao trình độ cho đọi ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật
của nước mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản
phẩm, từ đó góp phàn thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, hội nhập vào kinh
tế khu vực và thế giới.
- Đối với nước nhận đầu tư hình thức này đảmbảo được vai trò kinh
tế của nhà nước đó là quản lý, kiểm soát đối với hoạt động đầu tư.
Nhược điểm:
- Thông thường thì đối tác nước ngoài có công nghệ hiện đại, kỹ thuật
tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hơn nước sở tại mặt khác quá trình hoạt động
được tiến hành giữa các bên có sự bất đồng về ngôn ngữ, khác nhau về văn
hoá, về chế độ chính trị, về hệ thống luật pháp….Nên nếu không có sự thống
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhất sẽ dễ xảy ra mâu thuẫn trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh,
tranh chấp quyền lợi và nước sở tại dễ bị thua thiệt do trình độ cán bộ tham
gia liên doanh, năng lục cán bộ quản lý.
1.3.2 Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh):
Đây là hình thức doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ nhà
cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng thưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ
vốn góp. Thông thường nhà đầu tư không được góp ít hơn một tỷ lệ đã được
trong luật của nước nhận đầu tư.
Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào, doanh
nghiệp có vốn hỗn hợp là liên doanh đã thành lập và lập biên bản đăng ký
theo luật của nước CHDCND Lào có sự hoạt động kinh doanh và uỷ quyền
chung giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đàu tư trong nước. Tổ chức, quản
lý, hoạt động và hợp tác giữa nhà đầu tư trong liên doanh có giới hạn hợp

lệ thuộc, chia sẻ quyền lợi với một bên nào khác, do đó dự án được triển khai
nhanh, hoạt động có hiệu quả, nhanh thu hồi vốn và có lãi.
- Đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn, nước sở tại
không pgải bỏ vốn, không tham gia trực tiếp quản lý mà NSNN vẫn có được
nguồn thu từ hoạt động của doanh nghiệp này đồng thời giải quyết được việc
làm cho người lao động.
Nhược điểm:
- Đối với nước đầu tư thì lĩnh vực kinh doanh bị hạn chế hơn do nước sở
tại không cho phép và nếu nhà đầu tư không hiểu rõ về chính sách – pháp
luật, văn hoá, chính trị, nguồn lao động, thị trường của nước sở tại thì rất dễ bị
thiệt hại, gặp nhiều trắc trở trong kinh doanh.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đối với nước nhận đầu tư: Sẽ phải đối phó với một những hiện tượng
tiêu cực do nhà đầu tư nước ngoài mang lại, một số ngành nghề, lĩnh vực bị
chi phối vì mục tiêu của nhà đầu tư là lợi nhuận tối đa. Do nước sở tại không
được tham gia hoạt động kinh doanh nên các nhà quản lý rất khó kiểm tra,
kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp này. Nếu hình thức này được thực
hiện tràn lan nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp trong nước vì các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tiềm lực vốn lớn, có nhiều kinh
nghiệm trong chiến lược kinh doanh.
1.4. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tác động trực tiếp đến mọi mặt
của đời sống, kinh tế - xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư. Về mặt
kinh tế, vốn FDI tác động đến tốc độ tăng của GDP, cán cân thanh toán, phúc
lợi xã hội, thu nhập người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Về mặt xã
hội, vốn FDI có tác động đến văn hoá, đạo đức của nước nhận vốn.
1.4.1. Đối với nước đi đầu tư
- Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp

tích cực đến thi trường tài chính của nước nhận đầu tư, thúc đẩy sự hình thành
các thể chế tài chính mới như ngân hàng, thị trường chứng khoán…để tạo
nguồn cho hoạt động đầu tư.
- Việc tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại một lợi ích lâu
dài cho nước sở tại như các công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn
và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, khoa
học, kỹ thuật và công nghệ vẫn chưa phát triển dẫn đến năng suất lao động
thấp, chất lượng sản phẩm kém. Phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được ở
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các nước này đều bắt nguồn từ nước ngoài bằng các con đường khác nhau.
Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một kênh quan trọng để có
được công nghệ cao từ bên ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài còn đưa chuyên gia
hoặc đào tạo cán bộ bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục vụ cho hoạt động
của dự án. Điều đó giúp nước nhận vốn vừa nhận được vốn bằng tiền vừa
nhận được cả máy móc, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước
ngoài. Điều đó sẽ giúp cho người lao động bản địa học tập được kỹ năng, tích
luỹ được kinh nghiệm, nâng cao kiến thức thực hành trong quá trình sản xuất,
vận hành công nghệ và các hoạt động quản lý, tiếp cận thị trường. Thu hút
FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ
và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển
qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các
công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất
nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần không ít vào việc thúc đẩy quá
trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư,
đặc biệt là đối với nước đang phát triển: tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất
khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tránh được nợ nước ngoài so với
các loại hình đầu tư từ các nguồn vốn khác như tín dụng quốc tế, hỗ trợ chính

của nước tiếp nhận đầu tư đôi khi bị thất thoát, lợi ích của nhà đầu tư đôi khi
vượt quá lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư.
- Nhà đầu tư, với xu hướng đưa công nghệ lạc hậu vào các nước tiếp nhận
đầu tư với đơn giá cao là một trong những nguyên nhân chi phí sản xuất cao,
chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn mục tiêu, làm mất đi khả năng
cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất, kìm hãm phát triển nền kinh tế và nguy cơ
biến nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi thải công nghệ của quốc gia khác.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Nước tiếp nhận đầu tư còn thiếu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm quản lý
dẫn đến thua thiệt trong dự án liên doanh, hợp tác. Điều đó có thể gây sức ép
về kinh tế thậm chí về chính trị cho nước tiếp nhận đầu tư.
1.5 Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.5.1. Sự ổn định về chính trị
Yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là
yếu tố môi trường chính trị ổn định. Bởi đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức
độ rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra, những bất đồng về
chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và tiêu thụ trên thị
trường trong nước, gây tác động không nhỏ đến các nhà đầu tư, thậm chí có
thể dẫn cho nhà đầu tư bị phá sản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
kinh doanh trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài
nên các nhà đầu tư nước ngoài rất sợ tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu
quốc hữu hoá. Vậy, chính trị ổn định sẽ dẫn đến nền kinh tế- xã hội ổn định
có nghĩa là vốn đầu tư cũng được đảm bảo an toàn, giảm được khả năng rủi ro
đầu tư…điều đó sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư
ở nước nhận đầu tư hơn.
1.5.2. Chính sách – pháp luật
Mỗi một quốc gia muốn xây dựng được môi trường đầu tư lành mạnh
thì bộ phận quan trọng mà không thể thiếu được là hệ thống luật pháp, bao
gồm các văn bản luật, các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư, thương

1.5.5 Đặc điểm văn hoá – xã hội
Đặc điểm văn hoá xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động
đầu tư nước ngoài. Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, tôn giáo, giá
trị đạo đức và tinh thần dân tộc phong tục tâkp quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dục. Các yếu tố này có thể gây trắc trở,khó khăn hoặc đẩy nhanh quá trình
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tôn giáo phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đắng siêu nhiên,
có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá
nhân và xã hội, làm ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập
quán tiêu dung và thuần phong mỹ tục.
Giá trị đạo đức và tin thần dân tộc của nước sở tại cũng ảnh hưởng
tương đối lớn đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu một xã hội không
phân biệt đối xử, coi trọng long tin, yêu thương lẫn nhau thì sẽ giảm được tình
trạng tệ nạn xã hội.
Nói đến thị hiếu thẩm mỹ thì mỗi nước mỗi nền văn hoá đều có các
nhìn nhận riêng biệt, có cách nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình khối,
âm nhạc…Các đặc điểm này có ảnh hưởng tới thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo
và kiểu dáng của sản phẩm, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của
nhà đầu tư.
Trình độ phát triển giáo dục tốt và các cơ cấu đào tạo hợp lý đóng vai
trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, là cơ sở quan trọng để
cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ lao động có tay nghề cao.
Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng yêu cầu sản xuất của
nhà đầu tư.
1.6. Vai trò của vốn FDI trong ngành công nghiệp Lào
Đâu tư trực tiếp nước ngoài là một trong dòng vốn chảy vào công
nghiệp Lào và ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tiến trình CNH,
HĐH. Trong điều kiện của Lào hiện nay, những công trình lớn và quan trọng

15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thu hút vốn FDI là biện pháp hữu hiệu nhất để vượt qua hang rào thế
quan và phi thuế quan của nước bảo hộ sản xuất chặt chẽ nhằm thâm nhập các
thi trường mới mở rộng thị trường công nghiệp.
- Thông qua thu hút vốn FDI mà các công ty trong nước có thể mở rộng
các hoạt động lien kết theo chiều dọc và chiều ngang với các công ty khác để
phát triển sản xuất các mặt hang mới, nội địa hoá các sản phẩm, đa dạng hoá
các mặt hàng, phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, tạo điều kiện
và cơ hội cho công nghiệp Lào chúng tôi tham gia vào phân công lao động
quốc tế, hội nhập vào nền công nghiệp trong và ngoài khu vực.
Thông qua việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất
khẩu tạo điềi kiện thuận lợi thúc đẩy các cơ sở công nghiệp sản xuất các mặt
hàng phục vụ xuất khẩu và phát triển thành các ngành ông nghiệp xuất khẩu.
Đó là những sản phẩm, những ngành có lợi thế và có khả năng cạnh tranh trên
thị trường trong và ngoài khu vực.
Như vậy, FDI đóng vai trò hết sức đặc biệt quan trọng trong việc phát
triển công nghiệp theo hướng hiện đại hoá một cách có hiệu quả. Thu hút vốn
FDI không chỉ có ý nghĩa đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư mà còn có ý nghĩa
đối với cả quốc gia chủ đầu tư trong vịec khai thác các nguồn lực của công
nghiệp và lợi thế so sánh của các quốc gia. Thông qua đó giải quyết tình trạng
thất nghiệp, tăng thu nhâp, mở rộng thị trường và kích thích tăng trưởng, từng
bước hội nhập vào nền kinh tế trong và ngoài khu vực. Thu hút vốn FDI vào
phát triển ngành công nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn và là xu hướng có tính
quy luật của nền kinh tế thế giới. Mặt khác, nhu cầu về vốn đối với công
nghiệp Lào là rất lớn. Vì thế, thu hút FDI vào ngành công nghiệp Lào là đòi
hỏi rất bức thiết.
1.7. Những bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Việt Nam và bài học đối
với Lào.
16

làm nhiều thủ tục cần thiết mới có thể đưa dự án vào hoạt động.
- Giai đoạn 1991-1997: là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh và góp phần quan
trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó,
thời kỳ 1991-1995 thu hút được 16,2 tỷ USD vốn đăng ký; mức tăng trưởng
hàng năm rất ngoạn mục: nếu như năm 1991 thu hút được 1,275 tỷ USD thì năm
1995 là 6,6 tỷ USD, bằng 5,3 lần năm 1991. Vốn thực hiện trong cả 5 năm là
7,153 tỷ USD, trong đó vốn của nước ngoài là 6,086 tỷ USD, bằng 32% tổng số
vốn đầu tư của cả nước. Hai năm tiếp theo (năm 1996 và 1997), FDI tiếp tục
tăng trưởng, thêm 13,289 tỷ USD vốn đăng ký và 6,129 tỷ USD vốn thực hiện,
trong đó vốn của nước ngoài là 5,382 tỷ USD.
Có thể khẳng định, đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàng nghìn
đoàn khách tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ thẩm định, hàng
chục nhà máy được khởi công cùng một lúc; bản đồ FDI thay đổi từng ngày
trên đất nước Việt Nam.
Trong thời kỳ này, môi trường đầu tư ở Việt Nam còn hấp dẫn, chi phí
đầu tư và kinh doanh còn thấp, nhà đầu tư đặt hy vọng vào tiềm năng to lớn,
nhất là chính sách, luật pháp của Nhà nước, tay nghề và trí tuệ của người Việt
Nam.
Trên thực tế, cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm 1991-1995 đã bắt đầu xuất hiện
nhiều trở lực, trước hết là quan điểm, nhận thức đối với FDI và thủ tục hành
chính trở nên phiền hà, mà trong thời kỳ tiếp theo ngày càng nghiêm trọng.
- Giai đoạn 1997-2000: là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký bắt đầu
giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong hai năm tiếp theo. Năm 1998, vốn
đăng ký là 3,89 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2% (1,568 tỷ USD) và năm
2000 là 2,018 tỷ USD. Sau khi đã đạt được kỷ lục về vốn thực hiện vào năm
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1997 là 3,215 tỷ USD thì ba năm tiếp theo đã giảm sút rõ rệt, năm 1998 là
2,369 tỷ USD, năm 1999 là 2,535 tỷ USD và năm 2000 là 2,413 tỷ USD.
- Giai đoạn từ năm 2001-2005: là thời kỳ phục hồi chậm chạp của hoạt

Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiềi dự án sau khi hoạt động có
hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng them vốn đầu tư, nhất là
từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự án tăng
vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18.9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu
tư đăng ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh
nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng them đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm
1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước.
Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm
2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi
năm trung bình tăng 35%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995; 65,7% trong
giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong hai năm
2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư Châu Á (59%) nên trong số vốn
tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư Châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao
nhất 66,8% trong giai đọan 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt
70.3% trong thời kỳ 2001-2005. Trog hai năm 2007 và 2008 tỷ lệ tương ứng là
72,1% và 80%.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng
kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phía Nam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995; đạt 68,1% trong thời kỳ
1996-2000 và 71,5% trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007
tỷ lệ tương ứng là 71% và 65%. Vùng trọng điểm phía Bắc có ỷ lệ tương ứng
là 36,7%%; 20,4%; 24% và 20%.
Bảng 1.1: Tổng quan thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007
Năm

2007 1283 54 20.300 158 15,8
Tổng 8888 - 78.559 - 8.8
(Nguồn: Cục ĐTNN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Vốn đăng ký của các dự án FDI tăng vọt ở năm 2006 và còn tăng cao hơn
ở năm 2007 là 20.3 tỷ USD; lá một con số cao nhất từ trong vòng 20 năm, con
số này khiến nhiều chuyên gia bất ngờ ngoài dự đoán. Sự tăng vượt mục tiêu
ở năm 2006 là kết quả rất khả quan, bởi rất khó mới đạt được con số đó. Vì
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vậy Bộ kế hoạch và đàu tư chỉ đặt mục tiêu thu hút FDI năm 2007 vào khoảng
13 tỷ USD nhưng không ngờ vốn FDI thu hút được đã lên đến 20.3 tỷ USD.
Quả là một con số rất đẹp.
* Thực trạng thu hút FDI thông qua quy mô dự án:
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả
năng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường
đầu tư Việt Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng
dần qua các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài
chính khu vực 1997. Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình
quân đạt 7,5 triệu USD/dự án/năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân
của một dự án đạt 11,6 triệu USD trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3
triệu USD/dự án trong 5 năm 1996-2000. Điều này thể hiện số lượng các dự
án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5
năm trước. Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự
án trong thời kỳ 2001-2005. Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới
trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm
2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4
triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước,
thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số
dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio....).
1.7.1.2. Những thành tựu và tác động của FDI tới tăng trưởng và phát

vốn đăng ký là 28.60 tỷ USD, chiếm 22,3% tổng số dự án và 33,43% tổng số
vốn đăng ký. Trong thời kỳ 1991-1995, lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam đã tỏ ra
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN nên đã chiếm 43,62% tổng vốn đăng ký, với
nhiều dự án quy mô lớn xây dựng khách sạn, văn phòng cho thuê, nhà ở. Tỷ
trọng đó đã giảm xuống còn 22,4% trong những năm tiếp theo do tác động
của khủng hoảng kinh tế khu vực, cũng như sự hạn chế đầu tư trong ngành
bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, du lịch lữ hành, quảng cáo, phân phối
hàng hoá. Quy mô dự án FDI trong lĩnh vực dịch vụ gấp hai lần các dự án
trong công nghiệp và xây dựng. Đặc biệt các dự án có vốn đầu tư trên 500
triệu USD thì lĩnh vực dịch vụ chiếm đến 67%. Trong năm 2007 tuy vốn đầu
tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp (50,6%), nhưng đã có
sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm 47,7% tổng
vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006 (31,19%) với nhiều dự
án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng khu vui chơi, giải
trí.v.v.
Ba là, ngành nông, lâm, ngư nghiệp: Lĩnh vực này có 933 dự án và 4,4 tỷ
USD; đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm 10,8% về số dự án ; 5,37%
tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện. Trong đó, các dự án về chế biến
nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của
ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía
đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau. Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế
biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành. Rồi tới lĩnh vực
chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7%. Cuối cùng là lĩnh vực
trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án. Có 130 dự án thuỷ sản với vốn
đăng ký là 450 triệu USD. Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư
nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng
vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam
Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất

208 4.287.000.000 721.000.000
-Khách sạn-du lịch 223 5.883.000.000 2.401.000.000
- Tài chính-ngân hàng 66 897.000.000 714.000.000
-Văn hoá - y tế - giáo dục 271 1.248.000.000 367.000.000
-Xây dựng văn phòng, căn
hộ để bán và cho thuê
153 9.262.000.000 1.892.000.000
25

Trích đoạn Định hướng thu hút FDI vào ngành công nghiệp. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường thu hút đầutư nước ngoà Tận dụng tối đa những tiềm năng thế mạnh của Lào, nâng cao nội lực để có sự phát triển bền vững
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status