PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước,
công tác kế hoạch cũng từng bước được hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc
hoàn thành thắng lợi các mục tiêu trong các chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội đề ra. Ngày nay, trước xu thế hội nhập và sự biến động của cơ chế thị
trường thì vai trò Nhà nước càng thể hiện quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô và
định hướng phát triển cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để
tăng cường hơn nữa vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thì
việc đổi mới, hoàn thiện các cơ chế, chính sách là một điều tất yếu. Trong đó, kế
hoạch kinh tế - xã hội là một trong những công cụ quản lý, điều hành của Nhà
nước nên việc nghiên cứu, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và triển khai thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm là vấn đề hết sức cần thiết và
cấp bách.
Đối với các địa phương, việc nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và triển
khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đang là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của công tác cải cách hành chính. Bởi lẽ, nó sẽ giúp địa phương có
công cụ điều hành, quản lý đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn một cách hiệu
quả. Bên cạch đó, việc nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và triển khai thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tiền đề để huy động một cách có hiệu quả
nguồn lực của toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Qua thời gian công tác tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Châu Thành
và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ được phân công tại Bộ phận Tổng hợp, hàng năm
bản thân đều tham mưu giúp Thường trực Ủy ban nhân huyện xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của năm tiếp theo. Trong quá trình xây dựng kế hoạch
cũng đã phát sinh một số vấn đề cần nghiên cứu, cải tiến để thực hiện tốt hơn trong
thời gian tới.
1
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp nâng
hội của địa phương và phương thức thích hợp để đạt các mục tiêu toàn diện đó.
- Khác với lập kế hoạch cho một đối tượng cụ thể, lập kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội có phạm vi rộng, mục tiêu mang tính toàn diện, thời gian dài, nó
mang tính định hướng nhiều hơn là tính cụ thể.
1.2. Nội dung quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội:
* Đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội năm hiện tại:
- Để xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội cho năm tiếp theo, trước hết những
người lập kế hoạch phải đánh giá việc thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của năm
trước đó. Bởi vì tình hình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch kinh tế - xã hội năm
trước cho các nhà lập kế hoạch biết khả năng thực hiện thực tế của địa phương và
phản ánh mức độ xác thực của việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.
Trong trường hợp, năm trước địa phương thực hiện vượt mức kế hoạch có thể phản
ánh một dấu hiệu tốt cho năm kế hoạch tiếp theo.
- Bên cạnh việc đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra,
cần đi sâu đánh giá cơ chế và công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện. Bởi vì thực tiễn
đã chứng minh, cơ chế quản lý không chỉ hỗ trợ mà có thể cản trở việc thực hiện
thành công kế hoạch. Công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch không đúng thì các kế
hoạch đề ra cho dù có tốt như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng bị thất bại. Đặc
biệt trong trường hợp có nhiều sự thay đổi của môi trường, cơ chế quản lý không
linh hoạt và công tác chỉ đạo điều hành không sáng tạo.
3
- Mặc khác, cần đánh giá việc sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đã
đề ra nhằm xác định mối quan hệ giữa kết quả và nguồn lực, đánh giá chất lượng
của việc sử dụng nguồn lực. Kết quả đánh giá này sẽ làm cơ sở cho việc xác định
mục tiêu và cân đối nguồn lực ở phần sau.
- Khi tổng kết, đánh giá tình hình phải đảm bảo yêu cầu khách quan, trung
thực, đánh giá đúng thực tế. Tập trung phân tích, đánh giá sâu về chất lượng tăng
trưởng của từng mặt; việc khai thác sử dụng nguồn lực; chất lượng nguồn lao động
hoạch xác định các mục tiêu kế hoạch cho năm kế hoạch tới.
- Việc xác định các mục tiêu của kế hoạch kinh tế - xã hội là một nôi dung
quan trọng của lập kế hoạch. Khi xác định mục tiêu kế hoạch, cần xác định tất cả
các mục tiêu cho tất cả các mặt, lĩnh vực được đề cập trong kế hoạch. Những mặt,
lĩnh vực nào có thể định lượng được thì chúng ta xác định thành các chỉ tiêu kế
hoạch, còn những mục tiêu nào không thể định lượng được thì chúng ta mô tả
chúng theo những thuật ngữ định tính nhưng dễ hiểu, tránh hiểu nhầm.
- Khi lập kế hoạch, cần xác định các phương án tăng trưởng kinh tế và các
chỉ tiêu kế hoạch. Thường xây dựng từ 2 đến 3 phương án, gồm: phương án cơ
bản, phương án cao, phương án thấp. Có phương án phát triển dựa vào khả năng
vượt những khó khăn, tồn tại và duy trì, phát triển những yếu tố thuận lợi. Đồng
thời cũng xây dựng những phương án với những dự báo có nhiều khó khăn, để chủ
động trong việc điều hành kế hoạch trong suốt thời gian thực hiện. Tiếp theo lựa
chọn phương án phát triển, phân tích từng phương án dựa trên các dự báo các tình
huống phát triển.
- Khi xác định từng mục tiêu cho từng mặt, từng lĩnh vực hoạt động cần
đảm bỏa các tiêu chí như: tính cụ thể, tính có thể đo lường được, có thể đạt được,
hiện thực và trong một khuôn khổ thời gian nhất định.
- Một điểm nửa cần lưu ý là, khi xác định mục tiêu cần đặt nó trong mối
quan hệ với nguồn lực và chất lượng sử dụng các nguồn lực mà chúng ta đã xác
định ở phần đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm trước.
5
* Xác định các nhiệm vụ và các giải pháp nguồn lực để thực hiện kế
hoạch:
- Sau khi đã xác định mục tiêu cho từng mặt, lĩnh vực, trong bước này nhà
lập kế hoạch xác định các hoạy động cần tiến hành để đạt các mục tiêu đó – tức là
xác định các nhiệm vụ chủ yếu. Nhiệm vụ là một tập hợp các hoạt động cần được
tiến hành để đạt được mục tiêu đề ra.
- Đối với mỗi mục tiêu, cần xác định một hoặc nhiều nhiệm vụ để hoàn
về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước
năm 2014.
* Về công văn hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về:
- Công văn số 427/BKH-TH ngày 23/6/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về
việc khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.
- Công văn số 4106/BKH-TH ngày 24/6/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012.
- Công văn số 4723/BKHĐT-TH ngày 29/6/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về việc khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2013 và kế hoạch đầu tư ngân sách Nhà nước 03 năm 2013-2015.
- Công văn số 4480/BKHĐT-TH ngày 28/6/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về việc khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2014.
* Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số: 13/CT-TTg, ngày 25 tháng
06 năm 2013 về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm 2014; trong đó đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo như sau:
1. Tổ chức đánh giá nghiêm túc tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 trên cơ sở đánh giá đầy đủ
tình hình thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; trong đó đặc
biệt chú trọng đánh giá tình hình triển khai và thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP
của Chính phủ ngày 09 tháng 01 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo,
7
điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà
nước năm 2011 và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 về những
giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội.
2. Đánh giá khách quan, trung thực các kết quả đạt được trong năm 2013 so
với mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán
ngân sách nhà nước năm 2013; đồng thời, so sánh với mục tiêu, nhiệm vụ mà các
kèm theo Khung logic, Khung theo dõi và đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của huyện năm 2014.
9
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM
TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH NĂM 2013.
2.1 Đặc điểm, tình hình của huyện Châu Thành:
- Châu Thành là huyện tiếp giáp với Thành phố Long Xuyên, trung tâm của
tỉnh An Giang, nằm về phía Tây sông Hậu, có diện tích đất tự nhiên là 35.511 ha
với dân số 170.588 người; có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã và 1 thị trấn.
+ Phía Bắc giáp Huyện Châu Phú (29.176 km).
+ Phía Đông Đông Bắc giáp Huyện Chợ Mới (8.338 km).
+ Phía Đông Đông Nam giáp Thành Phố Long Xuyên (12.446 km).
+ Phía Nam giáp Huyện Thoại Sơn (30.490 km).
+ Phía Tây giáp Huyện Tri Tôn (7.027 km).
+ Phía Tây Bắc giáp Huyện Tịnh Biên (0,158 km).
- Châu Thành có vị trí tiếp cận Thành phố Long Xuyên, là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học của tỉnh An Giang và vùng kinh tế trọng
điểm vùng Đồng bằng sông Cửu long, tốc độ đô thị hóa của Huyện chịu sự tác
động lan toả và dự kiến sẽ diễn tiến khá nhanh trong thời gian tới.
- Khu công nghiệp Bình Hoà nằm gần vị trí trung tâm của huyện với diện
tích 150 ha và xây dựng đường nối đến bờ sông Hậu sẽ thu hút đầu từ vào thương
mại dịch vụ và thu hút lao động và tạo ra nguồn thu của Huyện.
- Huyện Châu thành có thế mạnh về sản xuất lúa gạo và thủy sản; ngoài ra
còn có diện tích đất phù sa cồn có tiềm năng sản xuất rau màu, vận tải đường thủy
thuận lợi để tiếp cận với thị trường tiềm năng về rau màu chất lượng của tỉnh và ở
địa phương lân cận.
10
tỉnh giao, đạt 127,3% so dự toán huyện giao, bằng 113,03% so cùng kỳ; trong đó
thu ngân sách trên địa bàn 74.336 triệu đồng đạt 110,6% dự toán tỉnh giao và
huyện giao. Tổng chi ngân sách địa phương 445.246 triệu đồng, đạt 145,1% dự
11
toán tỉnh giao, đạt 132,9% dự toán huyện giao; trong đó chi đầu tư XDCB 30.855
tỷ đồng, đạt 176,11% dự toán tỉnh giao và 97,30% dự toán huyện giao, bằng
171,18% SCK.
2.2.Thực trạng công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Châu Thành trong năm 2013.
2.2.1.Những kết quả và nguyên nhân dẫn đến đạt được kết quả trong
công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
tại huyện Châu Thành năm 2013.
a.Những kết quả đạt được:
- Huyện đã hướng dẫn và tổ chức lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm: hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư An Giang.
Nhìn chung, thời gian lập và nộp các bản kế hoạch về Sở Kế hoạch và Đầu tư đảm
bảo theo quy định.
- Các cấp lãnh đạo của huyện và các ban, ngành chuyên môn cũng đã
bước đầu nắm bắt được các tư tưởng hoàn thiện trong lập kế hoạch: chỉ đạo lồng
ghép các nguồn lực ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia, thể hiện nhiều dự
án mang tính ưu tiên, trọng điểm…trong việc lập các kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội.
- Trong kế hoạch đã chú trọng nhiều đến lĩnh vực xã hội, môi trường:
Nội dung đã thấy được sự xuất hiện của các chỉ tiêu giảm hộ nghèo, giải
quyết việc làm…Mặc dù các chỉ tiêu này được đưa ra vẫn còn mang nặng tính chất
về số lượng, chất lượng chưa thực sự cao nhưng với sự thay đổi này cũng phần nào
phản ánh được sự dần hoàn thiện của hệ thống chỉ tiêu trong các bản kế hoạch.
- Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
+ Tổng diện tích gieo trồng là 83.945 ha, đạt 106,8% so với kế hoạch, tăng
lót bạc; 01 mô hình sản xuất lươn giống và 01 mô hình nuôi ếch Thái Lan.
- Công nghiệp – TTCN:
13
Giá trị sản xuất (giá cố định) đạt 927 tỷ đồng (trong đó các hộ kinh doanh
cá thể đạt 477 tỷ), đạt 102% KH, tăng 14,2% so cùng kỳ; một số ngành nghề
chiếm tỷ trọng lớn như: chế biến lương thực, thực phẩm, gạch ngói, cơ khí, may
mặc là những ngành có lợi thế của địa phương. Phát triển mới 23 cơ sở, thu hút
76 lao động, số tiền 3,8 tỷ đồng (hiện toàn huyện có 1.036 cơ sở, thu hút 6.914 lao
động, tổng vốn 127 tỷ đồng).
- Thương mại - dịch vụ:
Hoạt động thương mại diễn ra bình thường, tình hình giá cả thị trường các
tháng đầu năm tăng nhẹ không biến động bất thường, lượng hàng hóa phong phú
và đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường. Phát triển mới 226 cơ sở, thu hút
412 lao động với số tiền 21,4 tỷ đồng (toàn huyện có 5.464 cơ sở, thu hút 9.274 lao
động, tổng vốn 187 tỷ đồng). Thực hiện Kế hoạch chuyển đổi mô hình quản lý chợ
trên địa bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2012 – 2016.
- Đầu tư xây dựng, quản lý đô thị:
+ Công tác quản lý trật tự xây dựng luôn được duy trì; cấp 81 giấy phép xây
dựng với tổng diện tích sử dụng là 14.107 m
2
(gồm 37 nhà ở nông thôn, 40 nhà ở
đô thị, 04 chuyên dùng), xử phạt 14 trường hợp vi phạm. Lắp đặt bảng trích điều lệ
quản lý theo quy hoạch tại các cụm dân cư giai đoạn II, đồng thời tiến hành kiểm
tra trật tự xây dựng theo điều lệ đã ban hành nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các
sai phạm.
+ Trong năm 2013 thực hiện xây mới 09 cầu bê tông, 07 cầu sắt, 10 cầu gỗ
và sửa chữa 06 cầu; láng nhựa 14 km đường, rãi đá 147 km, gia cố sạt lỡ 135m,
xây mới 20 cống với tổng kinh phí thực hiện là 71.955 triệu đồng, trong đó ngân
sách trung ương 22.690 triệu đồng, ngân sách tỉnh 6.700 triệu đồng, ngân sách
không quá 1%); THCS là 2,37% (cùng kỳ năm học trước 2,76% - kế hoạch không
quá 3%). Các trường thực hiện tốt nề nếp dạy và học; tập trung thực hiện các biện
pháp nâng cao chất lượng, nhất là việc ôn tập và tổ chức thi kiểm tra cuối học kỳ;
tỷ lệ học sinh giỏi bậc tiểu học đạt 34,6% (tăng 1,3% so năm học trước), bậc THCS
15
đạt 29% (tăng 2% so năm học trước); học sinh tốt nghiệp cuối cấp bậc tiểu học
99,9% (năm học trước 99,7%); THCS 99,2% (năm học trước 98,3%) và tốt nghiệp
THPT đạt 100%.
+ Tổ chức xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất tại các điểm trường để chuẩn
bị cho năm học 2013 - 2014 gồm: 03 trường trong kế hoạch xây dựng trường
chuẩn quốc gia (tiểu học "C" Vĩnh Thành, "C" An Châu và Mẫu giáo Vĩnh Bình)
với tổng số tiền là 10,7 tỷ đồng (nguồn vốn xổ số kiến thiết); 05 trường (18 phòng)
thuộc đề án kiên cố hoá trường lớp; sửa chữa tại 04 điểm trường; xây mới và sửa
chữa nhà vệ sinh tại 05 điểm trường. Ngoài ra, các trường còn vận động mạnh
thường quân, cha mẹ học sinh đóng góp với số tiền 329 triệu đồng và nhiều hiện
vật khác. Tổ chức khai giảng năm học 2013-2014 đúng theo quy chế; tỷ lệ huy
động học sinh bậc mầm non đạt 91,6% (trong đó mẫu giáo 05 tuổi đạt 106,6%),
tiểu học 100,8%, trung học cơ sở 94,3%; tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi bậc tiểu
học là 99,04, trung học cơ sở là 70,92% và trung học phổ thông là 38,43%.
- Lao động - Thương binh và Xã hội:
+ Thông qua các chương trình đã giải quyết việc làm cho 4.654 lao động,
đạt 103,4% KH; tổ chức 57 lớp dạy nghề ngắn hạn cho 1.625 lao động, đạt 101,5%
KH (trong đó có khoản 75% lao động đã có việc làm); tỷ lệ lao động có việc làm
thường xuyên đạt 88,4%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 28,7%.
+ Các chế độ chính sách đối với người có công luôn được quan tâm thực
hiện tốt. Nhân dịp tết nguyên đán và kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7, huyện
đã tổ chức đoàn đến thăm, tặng quà và cấp kinh phí cho các hộ gia đình chính sách
với số tiền 2.022 triệu đồng. Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở; toàn huyện
theo phương pháp mới, làm nền tản để tiếp tục đổi mới việc xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội cho những năm tiếp theo.
- Huyện đã hướng dẫn và tổ chức lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư An Giang.
17
Nhìn chung, thời gian lập và nộp các bản kế hoạch về Sở Kế hoạch và Đầu tư đảm
bảo theo quy định.
- Các cấp lãnh đạo của huyện và các ban, ngành chuyên môn cũng đã bước
đầu nắm bắt được các tư tưởng hoàn thiện trong lập kế hoạch: chỉ đạo lồng ghép
các nguồn lực ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia, thể hiện nhiều dự án
mang tính ưu tiên, trọng điểm…trong việc lập các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội.
- Kế hoạch năm 2014 của Huyện được xây dựng có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc thực hiện các mục tiêu cả giai đoạn 2011-2015. Trong nội dung kế
hoạch của huyện Châu Thành, ngoài hệ thống mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ, chỉ
tiêu kinh tế - xã hội thì huyện cũng đã chủ động xây dựng định hướng phát triển
cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Các định hướng này chủ yếu là xác định định
hướng phát triển cho từng ngành, lĩnh vực không thấy sự xuất hiện cứng nhắc của
các chỉ tiêu hoặc có chăng chỉ là các chỉ tiêu mang tính tổng quát. Bên cạch đó, các
cấp lãnh đạo của huyện đã phần nào sử dụng kế hoạch như một công cụ trong hoạt
động quản lý, điều hành kinh tế - xã hội của địa phương. Các bản kế hoạch đều
được Hội đồng nhân dân huyện thông qua nên đây được xem như cương lĩnh của
thực hiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện hàng năm.
- Trong kế hoạch đã chú trọng nhiều đến lĩnh vực xã hội, môi trường. Nội
dung đã thấy được sự xuất hiện của các chỉ tiêu giảm hộ nghèo, giải quyết việc
làm…Mặc dù các chỉ tiêu này được đưa ra vẫn còn mang nặng tính chất về số
lượng, chất lượng chưa thực sự cao nhưng với sự thay đổi này cũng phần nào phản
ánh được sự dần hoàn thiện của hệ thống chỉ tiêu trong các bản kế hoạch.
2.2.2.Những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác
bước đổi mới, hoàn thiện nhưng quy trình lập kế hoạch vẫn chủ yếu từ trên xuống,
theo một khuôn mẫu nhất định. Với quy trình lập kế hoạch như thế thì hầu hết các
nội dung trong bản kế hoạch đều được xây dựng sao cho phù hợp với những chỉ
19
dẫn từ cơ quan cấp trên chứ chưa thực sự xuất phát từ những bức xúc của huyện.
Bên cạch đó, tuy đã có những tư tưởng hoàn thiện về công tác lập kế hoạch nhưng
mới chỉ dừng ở vấn đề đổi mới nhận thức, trong công tác lập kế hoạch của huyện
cũng có một vài điểm mới trong quy trình lập kế hoạch; tuy nhiên về nội dung,
phương pháp vẫn bị ảnh hưởng từ khuôn mẫu nhất định cho nên chúng luôn được
thực hiện một cách rập khuôn máy móc.
- Phương pháp lập kế hoạch vẫn theo phương thức “truyền thống” tức là
nội dung kế hoạch được xây dựng dựa trên những gì mình có, nên kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội chưa thể hiện tính đột phá.
- Với kế hoạch hàng năm thì thời gian xây dựng kế hoạch quá gấp (lúc này
kế hoạch trong năm chỉ thực hiện được một nửa) làm cho việc đánh giá kết quả
thực hiện không tránh khởi những sai xót.
* Nguyên nhân chủ quan
- Tuy đã có sự tham gia người dân trong quá trình lập kế hoạch, nhưng hiệu
quả của quá trình tham gia của người dân lập kế hoạch thấp. Nội dung kế hoạch có
tính chất tổng hợp cao với nhiều thuật ngữ chỉ tiêu có tính kỹ thuật nên rất khó
hiểu đối với người dân.
- Việc lập kế hoạch hầu như chỉ tập trung ở phòng Tài chính – Kế hoạch, sự
phối hợp giữa các phòng, ban, ngành trong huyện chỉ cung cấp thông tin, số liệu
chứ chưa thực sự tham gia vào quá trình lập kế hoạch của huyện. Mặc dù về hình
thức là các phòng, ban ngành chuyên môn đều tham gia vào quá trình xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phân bổ ngân sách nhưng trên thực tế việc xây
dựng kế hoạch hầu như chỉ tập trung ở phòng Tài chính – Kế hoạch. Các phòng
ban ngành khác chủ yếu cung cấp thông tin đầu vào để cơ quan tổng hợp và xây
dựng kế hoạch. Sự tham gia của các bên hữu quan là rất khiêm tốn. Đối với cấp xã,
hoạch có sự tham vấn của các bên liên quan tại huyện Châu Thành đã có những kết
quả thành công nhất định. Tuy nhiên, do còn nhiều bất cập trong quá trình tham
vấn nên hiệu quả của công tác tham vấn vào các bản kế hoạch chưa cao. Trong thời
gian tới để đẩy mạnh hơn nữa hoàn thiện công tác xây dựng và triển khai thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương cần phải tiến hành đổi mới tư
duy nhận thức của mọi người về công tác lập kế hoạch trong bối cảnh hiện nay.
Giải pháp này nhấn mạnh hơn nữa vào việc nâng cao nhận thức cho mọi người, từ
cấp chính quyền, cán bộ, nhân dân. Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo cho thực
hiện thành công quá trình hoàn thiện công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế
hoạch.
- Tổ chức các cuộc hội thảo, các buổi thảo luận về công cuộc hoàn thiện lập
kế hoạch tại xã, huyện một cách định kỳ với thành phần tham gia các cấp lãnh đạo,
cán bộ , doanh nghiêp…Với quan điểm đánh giá thẳng thẳn, chính xác những ưu
22
điểm, nhược điểm trong quá trình hoàn thiện, những yêu cầu mới đặt ra cho quá
trình hoàn thiên công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch tại xã, huyện
tránh tình trạng mang nặng “ hình thức” trong những buổi hội thảo định kỳ.
- Các cấp chính quyền thường xuyên những thông báo đánh giá định kỳ về
tình hình hoàn thiện công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạchtại địa
phương thông qua hệ thống truyền thanh, báo cáo…
3.2.2.Về quy trình xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội năm:
- Kế hoạch phải xuất phát từ thực tế của địa phương, đề ra những mục tiêu
sát thực có tính chất ưu tiên trong lựa chọn mục tiêu và phân bổ nguồn lực, có
trọng tâm, trọng điểm nhằm tạo bước đột phá trong quá trình phát triển. Với phạm
vi của bài nghiên cứu và trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý thuyết về công tác
lập kế hoạch ở huyện, tác giả có một số đề xuất hoàn thiện hơn nữa công tác lập kế
hoạch ở huyện Châu Thành theo quy trình tổng hợp như sau:
* Xây dựng kế hoạch:
- Tại kỳ họp cuối năm của HĐND huyện, UBND huyện thông qua và trình để
phê chuẩn các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm kế hoạch, các chương
trình hành động thực hiện mục tiêu, và mục tiêu của từng chương trình hành động.
- Sau khi đã được HĐND huyện phê chuẩn, UBND huyện ra quyết định phê
duyệt, tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch và giao cho các ngành, UBND xã, thị
trấn triển khai thực hiện.
- Đây là một quy trình tổng hợp, khép kín bao gồm nhiều giai đoạn trong công
tác lập kế hoạch. Trong mỗi giai đoạn đều đảm bảo sự tham gia của người dân, các
cơ quan hữu quan vào quy trình xây dựng và thực hiện kế hoạch.
- Đặc biệt, trong quy trình trên cần phải phân định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền hạn của chính quyền các cấp.
- Phải xây dựng khung hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
chi tiết, cụ thể, thể hiện rõ định hướng, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của
huyện.
- Luôn luôn theo dõi, đánh giá, tổng hợp tình hình thực hiên kế hoạch để kịp
thời điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.
3.2.3.Sử dụng quy trình mới trong xây dựng và triển khai thực hiện kế
hoạch của huyện:
Việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch của huyện trước đây được
bắt đầu từ việc biết nguồn lực rồi mới tiến hành xác định những mục tiêu, hoạt
động cần thực hiện. Điều này tạo ra những hạn chế lớn cho sự phát triển của huyện
trong cơ chế thị trường hiện nay như thiếu tính đột phá, bị ràng buộc bởi nguồn
lực…Để có thể hoàn thiện hơn nữa công tác sử dụng quy trình xây dựng và triển
24
khai thực hiện kế hoạch mới để đảm bảo công tác xây dựng và triển khai thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có sự tham gia và gắn kết của các nguồn lực.
* Sử dụng ma trận SWOT trong phân tích thực trạng:
● Công cụ ma trận SWOT
Ma trận SWOT giúp các nhà làm kế hoạch một cái nhìn tổng thể, toàn diện