Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Quảng Bình - Pdf 29

Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN CỦA NHTM
1.1 Vốn và hoạt động sử dụng vốn tại NHTM
NHTM là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thông qua việc
kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu, nó là bộ phận lớn nhất trong hệ
thống trung gian tài chính với tổng tài sản có luôn có khối lượng đạt từ 70% đến
80% lưu lượng vốn, tỷ trọng chiếm khoảng 2/3 của toàn hệ thống.
1.1.1. Khái niệm về vốn tại NHTM:
Sẽ không tưởng khi nói đến phát triển kinh tế mà không có vốn hoặc không đủ
vốn. Vốn là một phạm trù rộng lớn bao gồm tiền tệ, vật tư, tài sản, nguồn lực tài
nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều loại vốn hữu hình hay vốn vô hình khác
như phát minh, sáng chế, bản quyền kinh doanh, trình độ công nhân,
Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã
chỉ rõ “Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần huy động nhiều nguồn vốn sẵn có
với sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn
vốn từ bên ngoài là quan trọng”.
Nhận thức đúng đắn về phạm trù vốn và ý nghĩa của nó là cần thiết trong hành
động thực tiễn, mà trước hết là trong nghành tài chính ngân hàng – những nghành
có vinh dự và trách nhiệm lớn trong việc tạo vốn cho sự nghiệp xây dựng và phát
triển kinh tế, xã hội của nước ta.
Có nhiều khái niệm về vốn tùy theo quan điểm của các nhà kinh tế với các gốc
độ tiếp cận khác nhau.
Gốc độ vĩ mô : Vốn có nguồn gốc được tích lũy từ lao động thặng dư, vì vậy
vốn gắn liền với quá trình sản xuất của người lao động (MAC). Tuy nhiên theo
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
1
Khóa luận tốt nghiệp
SAMUELSON vốn bao gồm hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và sử dụng như các
đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.

* Vốn tự có (Vốn chủ sở hữu)
Vốn tự có là nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng một cách lâu dài và cho
mọi mục đích như cho vay, đầu tư, mở chi nhánh,…và sử dụng gần như là vĩnh
viễn. Vốn tự có được xem như cái đệm an toàn để chống đỡ cho sự sụt giảm giá trị
các tài sản có. Để có thể bù đắp được sự sụt giảm của giá trị tài sản thì Ngân hàng
sử dụng vốn tự có. Chính dưới gốc độ đó, vốn tự có là nhân tố để đánh giá sức
mạnh của Ngân hàng.
Khái niệm: Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập
được, thuộc sở hữu ngân hàng. Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân
hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể chủ động
sử dụng vào các mục đích khác nhau.
Vốn tự có bao gồm:
- Vốn pháp định – Vốn điều lệ :
Vốn pháp định : là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp
luật quy định.
Vốn điều lệ : là vốn do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt
động của ngân hàng và theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định.
Vốn điều lệ là vốn ban đầu mà Ngân hàng đem ký thác khi thành lập. Đối với
NHTM Quốc doanh, vốn này do Ngân sách Nhà Nước cấp 100%. Khi mới thành
lập Ngân hàng được cấp tối thiểu 50% số còn lại sẽ được cấp trong 5 năm tiếp theo.
Ngoài ra theo quy định của Bộ Tài chính, hàng năm người ta sẽ trích từ lãi để bổ
sung cho vốn điều lệ. Đối với các NHTM Cổ Phần, vốn điều lệ do các cổ đông
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
3
Khóa luận tốt nghiệp
đóng góp, được bổ sung bằng hai cách : Bằng lợi nhuận không chia và bằng huy
động thêm từ vốn cổ phần. Ngân hàng nào có vốn điều lệ càng thấp thì khả năng
chống đỡ rủi ro càng kém
- Vốn tự có bổ sung :

cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn ( tiền gửi có kỳ hạn ) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn
(tiền gửi không kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt
động kinh doanh của NHTM.
Vốn tiền gửi luôn luôn biến động, nên ngân hàng không cho phép sử dụng hết
số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng
thanh toán. Hoạt động chủ yếu của NHTM là huy động tối đa các nguồn vốn trong
xã hội để tiến hành cho vay và đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuận, tiếp nhận các
loại tiền gửi với số lượng nhiều ít khác nhau, với mọi thời hạn, đa dạng hóa thời
gian gửi tiền không kỳ hạn, có kỳ hạn, ngắn hạn, dài hạn.
Thành phần vốn huy động :
- Tiền gửi : Trong tổng nguồn vốn tiền gửi chiếm tỷ trọng cao nhất, thông thường
hiện nay là trên 70%
+ Tiền gửi không kỳ hạn : là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng
bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi
không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi. Gồm :

Tiền gửi thanh toán : là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử
dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hóa, dịch vụ và các
khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an
toàn và thuận tiện.
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
5
Khóa luận tốt nghiệp

Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy : là khoản tiền được ký gửi với mục đích an
toàn tài sản, không mang tích chất phục vụ thanh toán.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước giữa khách hàng
và ngân hàng về thời gian rút tiền. Mục đích chính của loại tiền gửi này là lãi suất
mà khách hàng có thể được hưởng. Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì
lãi suất càng cao.

vốn ngắn hạn của mình. Tuy nhiên, các NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức tín
dụng và trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
- Vốn vay để thanh toán : các NHTM vay NHTW nhằm bù đắp thiếu hụt tạm
thời trong thanh toán giữa các ngân hàng.
- Tái cấp vốn : NHTW cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá. Các chứng
từ này phải là các chứng từ có chất lượng, tức phải thỏa mãn những điều kiện : hợp
pháp, hợp lệ, đảm bảo an toàn. Gồm hai hình thức :
+ Cho vay tái chiết khấu : NHTW nhận các chứng từ có giá mà các NHTM đã
chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như NHTM đã làm
+ Cho vay có đảm bảo : Là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giá đến
NHTW để làm đảm bảo xin vay vốn.
* Vốn khác
Vốn khác là những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời được trích ra chờ sử dụng từ
các tài khoản như : tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, séc
định mức,…mà ngân hàng có thể sử dụng nó vào kinh doanh.
C. Vai trò của vốn đối với NHTM
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
7
Khóa luận tốt nghiệp
Một là, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Trước hết NHTM cũng như bất cứ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh
doanh đều phải có vốn. Vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng
kinh doanh. Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt
động kinh doanh của mình. Nói cách khác, ngân hàng không có vốn thì không thể
thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động ngân
hàng, vốn không chỉ là điều kiện để kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh
doanh chủ yếu của NHTM. NHTM là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt
trên thị trường tài chính. Những ngân hàng nhiều vốn là ngân hàng có nhiều thế
mạnh trong kinh doanh. Chính vì thế có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu trình
kinh doanh của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức đủ vốn điều lệ

lực tài chính của NHTM ngày càng được củng cố thêm vững mạnh.
1.1.2. Nội dung của hoạt động sử dụng vốn tại NHTM
Là những nghiệp vụ thuộc tài sản có, phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các
mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội
dung của nghiệp vụ này bao gồm :
1.1.2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của ngân hàng được dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ
bắt buộc do NHTW đề ra. Hoạt động này bao gồm :
- Tiền mặt tại quỹ : Gồm tiền giấy, tiền kim loại hiện có tại kho của ngân hàng
(các NHTM ở Việt Nam thì mục này chiếm tỷ trọng khá cao từ 15% - 20%, do việc
thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn nhiều hạn chế)
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
9
Khóa luận tốt nghiệp
- Tiền gửi tại các nhân hàng khác : Thường là tiền gửi để thanh toán hộ, hoặc
đổi lấy các dịch vụ khác.
- Tiền gửi tại NHNN : Gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc (theo quy định của
NHTW) và tiền gửi thanh toán của NHTM trong cùng hệ thống. Trong đó :
+ Tiền gửi bắt buộc là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên tài khoản
tiền gửi tại NHTW mà không được hưởng lãi, nó được xác định bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Mức
dự trữ bắt buộc phụ thuộc vào thời hạn tiền gửi, quy mô, tích chất hoạt động của
NHTM.
R = I * D
Chú thích : R : Mức dự trữ bắt buộc
i : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
D : Số dư bình quân tài khoản thuộc đối tượng dự trữ
kỳ xác định
Ở Việt Nam luật NHNN quy định tỷ lệ sự trữ bắt buộc từ 0% - 20% trên tổng

1.1.2.2. Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của
các NHTM. Nghiệp vụ này bao gồm các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông
qua cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với nền kinh tế.
Các sản phẩm tín dụng :
A, Căn cứ thời hạn :
Tín dụng ngắn hạn : Là hình thức tín dụng có thời hạn dưới một năm. Thường
được dùng để bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp và
nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng.
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
11
Khóa luận tốt nghiệp
Tín dụng trung hạn : là loại tín dụng được cấp để mua sắm TSCĐ, cải tiến và
đổi mới kỹ thuật, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các
công trình có quy mô nhỏm thời hạn thu hồi vốn nhanh (1-5 năm).
Tín dụng dài hạn : Được dùng để tái cấp vốn cho xây dựng cơ bản , đầu tư cho
các xí nghiệp lớn, mới thành lập, các công trình hạ tầng cơ sở, cải tiến dây chuyền,
công nghệ…với quy mô lớn (thời hạn hơn 5 năm).
B, Căn cứ hình thức tài trợ :
Chiết khấu thương phiếu : Là việc NHTM ứng tiền trước cho khách hàng
tương ứng giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để được sở hữu
một thương phiếu chưa đến hạn. (Đây là một hình thức trao đổi trái quyền)
Cho vay: Là việc ngân hàng cho khách hàng sử dụng tiền với cam kết hoàn trả
cả gốc và lãi trong thời gian nhất định.
Bảo lãnh :Là việc NHTM cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài trợ tại chính hộ
khách hàng của mình, dù không phải xuất tiền ra khỏi ngân quỹ, song ngân hàng đã
cung cấp tín dụng bằng uy tín của mình để thu lợi.
Cho thuê : Là việc NHTM bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo
thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian sử dụng, khách hàng phải hoàn trả tài sản
và tiền thuê ngân hàng hoặc mua lại tái sản này theo thỏa thuận giữa hai bên.

sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô đầu tư, hoặc thực hiện các dự án đầu tư khác.
Đây là loại khách hàng chiếm tỷ trọng vay vốn lớn nhất của NHTM.
Cho vay cá nhân: Là hình thức cho vay chủ yếu dưới hình thức cho vay tiêu
dùng, mua sắm trả góp hoặc bù đắp thiếu hụt cá nhân. HÌnh thức cho vay này ngày
càng có xu hướng tăng do nhu cầu vay tiêu dùng cá nhân đang lên.
1.1.2.3. Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
13
Khóa luận tốt nghiệp
Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các
hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường nhằm kiếm
lợi nhuận bảo tồn quỹ tiền, giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh. Đây là hoạt động thứ hai mang lại nhiều lợi nhuận sau hoạt động tín dụng.
NHTM chủ động sử dụng vốn của mình để kinh doanh, nhằm tìm kiếm lợi nhuận,
nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hóa danh mục sản phẩm-dịch vụ để phân
tán rủi ro…, hoặc kinh doanh cho người khác để hưởng hoa hồng với tư cách là
môi giới. Hoạt động đầu tư bao gồm : đầu tư vào chứng khoán, đầu tư liên doanh
liên kết, đầu tư vào dự án, đầu tư kinh doanh vàng và ngoại tệ….
1.1.2.4. Nghiệp vụ khác
Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc
và kim khí, đã quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ ủy
thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác liên quan đến hoạt
động ngân hàng như : dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két,
cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật; mà ngân hàng thu được
những khoản lợi nhuận đáng kể.
1.2.Hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM
Theo từ điển Tiếng Việt: Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang
lại.
Bất kỳ một hoạt động nào cũng đòi hỏi chi phí và thường đạt được một số

mỗi chu kỳ tái sản xuất tiếp theo.
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
15
Khóa luận tốt nghiệp
Mức độ hiệu quả của nền kinh tế quốc dân chịu ảnh hưởng không chỉ bởi
hoạt động của việc sử dụng phương tiện đầu tư, mà còn do các nhân tố khác tác
động như là việc sử dụng các nguyên liệu và năng lượng thích hợp nhất, sự phân
công lao động quốc tế,…Vì thế trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM
cần phải coi hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM có hiệu quả cao nhất là góp phần sử
dụng kinh tế nhất các nguồn vốn xã hội, thiên nhiên, con người và kỹ thuật, nó đảm
bảo trình độ cao nhất của sự thỏa mãn nhu cầu của hiện tại và tương lai không
ngừng tăng lên của xã hội từ việc thực hiện đầu tư vốn này.
Việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn đối với NHTM không thể tách
khỏi toàn bộ vấn đề hiệu quả kinh tế quốc dân. Vì thế, tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng
vốn tại NHTM phải gắn liền với tiêu chuẩn hiệu quả phát triển kinh tế quốc dân
trong một tổng thể.
Hai là, hiệu quả sử dụng vốn đồng nghĩa với việc đạt được sự thống nhất
về lợi ích giữa khách hàng và ngân hàng. Tức là khi lợi ích của các chủ thể tham
gia vào dự án này được kết hợp một cách hài hòa. Nếu lợi ích của một chủ thể nào
đó bị vi phạm, hoạt động đó sẽ bị ảnh hưởng không thể trôi chảy được. Hoạt đông
kinh doanh của các ngân hàng luôn gắn liền với việc thực hiện các lợi ích của ngân
hàng và lợi ích của khách hàng. Đó là mối quan hệ tạo tiền đề để hỗ trợ nhau cùng
phát triển. Khi khách hàng có phát triển thì hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM mới
được thực hiện trên cả hai phương diện định lượng và định tính.
Ba là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa mục tiêu của vốn đầu tư vốn tại
NHTM và tiêu chuẩn hiệu quả. Theo nguyên tắc này, mục tiêu là tiêu chuẩn để xá
định hiệu quả kinh tế, khi mục tiêu thay đổi thì tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế - xã hội
thay đổi. Mỗi chủ thể có mục tiêu khác nhau khi tham gia hoạt động đầu tư vốn.
Mục tiêu của mỗi chủ thể cũng thay đổi tùy theo từng thời kỳ. Nếu một NHTM coi
nâng lợi nhuận là tiêu chuẩn hàng đầu thì tiêu chuẩn cơ bản để nâng cao hiệu quả

- Tỷ suất lợi nhuận / Tài sản Có (ROA): Chỉ số này giúp cho nhà quản lý thấy
được khả năng của ban điều hành ngân hàng trong việc tận dụng các nguồn vốn để
tạo ra thu nhập, nghĩa ra là chỉ số này cho thấy cứ một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận cho ngân hàng. ROA càng lớn thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng càng tốt, ngân hàng đã có cơ cấu tái sản hợp lý, đã có sự điều chỉnh linh
hoạt giữa các hạng mục trên tài sản Có trước những biến động của nền kinh tế. Tuy
nhiên, chỉ số này quá lớn lại là đáng lo ngại vì rủi ro luôn song hành với lợi nhuận.
Mặt khác chỉ tiêu này chỉ cho phép đánh giá được một phần tính hiệu quả của hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Vì thế nếu chỉ căn cứ vào ROA thì không thấy
được mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro ngân hàng, đặc biệt là những
nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Lợi nhuận sau thuế
ROE = x 100%
Vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn tự có của các
NHTM. Nó cho biết lợi nhuận ròng mà các cổ đông có thể nhận được từ việc đầu
tư vốn của mình, cứ mộ đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho
ngân hàng. ROE quá cao không hẳn là dấu hiệu tốt vì khi đó có thể ngân hàng sử
dụng chủ yếu các nguồn lực bên ngoài ngân hàng hay nói cách khác là phụ thuộc
quá nhiều vào nguồn vốn bên ngoài mà nội lực lại không đáng kể.
- Lợi nhuận ròng / Tổng thu nhập : Chỉ số này cho biết hiệu quả của một đồng
thu nhập, đồng thời đánh giá hiệu quả quản lý thu nhập của ngân hàng, khả năng
cạnh tranh, vị thế tài chính trước những biến động của lãi suất, tỷ giá, các chính
sách tiền tệ, tài khóa, cũng như quy mô hoạt động của ngân hàng.
Thứ ba : Hệ số sử dụng vốn

Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
18
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng vốn sử dụng

= + -
Cuối kỳ đầu kỳ cho vay thu hồi nợ

Dư nợ cho vay kỳ này
Tốc độ tăng dư nợ cho vay = ( - 1 ) x 100
Dư nợ cho vay kỳ trước
Dư nợ cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng của
NHTM, còn tốc độ tăng dư nợ thể hiện khả năng mở rộng quy mô đầu tư tín dụng
qua các thời kỳ. Dư nợ cho vay lớn và tốc độ cho vay tăng cho thấy khả năng mở
rộng tín dụng của NHTM. Đây là tình hình tốt đối với NHTM. Tuy nhiên, đây mới
chỉ là điều kiện chứ chưa thể khẳng định hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của NHTM
mà cần phải kết hợp nghiên cứu, phân tích với các chỉ tiêu khác.
Thứ ba: Hệ số sử dụng vốn
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dụng vốn so với tổng nguồn vốn. Hệ số
sử dụng vốn càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của NHTM càng cao và
ngược lại.
Vốn tín dụng
Hệ số sử dụng vốn = x 100%
Tổng nguồn vốn
Hệ số sử dụng vốn luôn nhỏ hơn 1. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ ngân
hàng đã không sử dụng tốt nguồn vốn. Tuy nhiên nếu hệ số sử dụng vốn quá gần 1,
hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ không an toàn do không đảm bảo được khả
năng thanh toán bất thường của khách hàng.
* Các chỉ tiêu chất lượng tín dụng

Doanh số thu nợ:
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
20
Khóa luận tốt nghiệp
Là tổng số tiền ngân hàng thu lại được gồm gốc và lãi các khoản cho vay

TL nợ quá hạn không có khả năng thu hồi= x100%
Nợ quá hạn
Hai chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có
khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn không có khả năng
thu hồi. Do vậy, sử dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh giá đúng hơn chất lượng
tín dụng.

Vòng quay vốn tín dụng:
Là chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khả
năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong đáp ứng nhu cầu
khách hàng:
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn =
Dư nợ tín dụng
Chỉ số này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của chi nhánh nhanh
hay chậm, chỉ số này càng lớn chứng tỏ chi nhánh hoạt động tín dụng hiệu quả, có
khả năng kiểm soát nợ tốt, công tác thu nợ hiệu quả, hiệu quả sử dụng vốn cao.
1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn khác

Tăng trưởng ngân quỹ dự trữ thanh toán
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
22
Khóa luận tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng ngân quỹ của ngân hàng, cơ cấu tiền tệ có
thể dùng để đáp ứng khả năng về tiền mặt cho nhu cầu thanh toán hay không. Đánh
giá chỉ tiêu này tại NHTM ngoài việc có thể nhận ra khả năng thanh toán tức thời
còn cho thấy sức mạnh tài chính của ngân hàng.

Doanh số mua bán ngoại tệ
Hiệu quả các hoạt động đầu tư, kinh doanh ngoại tệ được phản ánh qua các

hợp với các chức năng vốn có của NHTM trong nền kinh tế, vừa phải thể hiện được
tính chủ quan, gắn với hoạt động của NHTM theo định hướng của Nhà nước trong
từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
- Đảm bảo những lợi ích hài hòa trong mối quan hệ giữa các NHTM, các tổ
chức tín dụng, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư, gắn liền với lợi ích của Nhà
nước.
- Đảm bảo cho NHTM thực thi các chính sách tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng
Nhà nước một cách có hiệu quả, hoạt động kinh doanh có lãi…
- Đảm bảo cho các NHTM đề phòng, hạn chế được những rủi ro trong kinh
doanh có nguồn gốc từ nhiều phía đưa lại.
Thứ hai, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn là đòi hỏi của phát triển nền
kinh tế - xã hội
Lịch sử hình thành và phát triển kinh doanh của ngân hàng cho ta thấy
vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa đang
ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa,
kinh doanh ngân hàng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện
giao dịch để đáp ứng nhu cầu giao dịch trong xã hội. Trong điều kiện đó, tăng
cường hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề ngày càng được quan tâm.
Sinh viên: Phan Thị Diệu Huyền Líp TCDN A – K8
24
Khóa luận tốt nghiệp
- Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn làm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
ngày càng được mở rộng về khối lượng; đồng thời chất lượng cũng ngày càng được
nâng cao.
- Đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện để ngân hàng làm tốt chức năng
trung tâm thanh toán, vì khi chất lượng sử dụng vốn được đảm bảo sẽ tăng vòng
quay vốn tín dụng; nó tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín
dụng trong nền kinh tế quốc dân. Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều
hòa vốn trong nền kinh tế.
- Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm giảm tối thiểu lượng tiền thừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status