ĐỀ TÀI
THÁCH THỨC CỦA HỆ THÔNG THUẾ TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP VÀ TOÀN CẦU HÓA NỀN KINH TẾ
ĐỀ CƯƠNG
1. Tổng quan về Hệ thống thuế Việt Nam
2. Hội nhập kinh tế và Toàn cầu hóa nền kinh tế
2.1Hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Theo cách
hiểu này, hội nhập kinh tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh
tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc
xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông
hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng
tiền của họ cho toàn bộ các nơi.
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang
tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là
quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và
thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực
thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác,
gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Hội nhập kinh tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc
khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy
mô toàn thế giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại Thế giới đang
hướng tới.
a) Thỏa thuận thương mại ưu đãi
Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các quốc gia tham
gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa
của nhau. Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có
thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia
hiệp định. Một ví dụ về thỏa thuận thương mại ưu đãi là Hiệp định về Thỏa
thuận Thương mại Ưu đãi ASEAN được ký kết tại Manila năm 1977 và được
sửa đổi năm 1995; hay như các hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối
(còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuế trước khi
đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập.
c) Hiệp định đối tác kinh tế
Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp định
thương mại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóa
thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan lại còn bao gồm cả tự
do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký
kết hiệp định.
Nhật Bản là quốc gia có xu hướng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì
nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nước
đối tác. Hiện Nhật Bản đã ký kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phương và
một hiệp định đối với ASEAN, đang đàm phán để đi tới ký kết 5 hiệp định
khác (Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Úc, Thụy Sĩ), có 15 quốc gia, lãnh thổ
và khu vực đang có nguyện vọng đàm phán và ký kết hiệp định đối tác kinh
tế với Nhật Bản.
d) Thị trường chung
Thị trường chung có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và
liên minh thuế quan, cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố
sản xuất (vốn, lao động) giữa các nước thành viên. Một thị trường chung như
vậy đã từng được thành lập ở châu Âu vào năm 1957 theo Hiệp ước Rome và
mất một thời gian dài mời hoàn thành mục tiêu. Khối ASEAN cũng đã thỏa
thuận sẽ thực hiện được mục tiêu một thị trường chung và một cơ sở sản xuất
thống nhất trong toàn khối vào năm 2020 trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh
tế ASEAN.
2.2 Toàn cầu hóa nền kinh tế
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng
giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v.
trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như
được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa
• Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d. luật bản quyền
Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến
tranh thế giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như Hiệp ước chung về thuế
quan và mậu dịch (GATT). Các đề xuất của GATT cũng như WTO bao gồm:
• Thúc đẩy thương mại tự do
o Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thuế quan; xây dựng
các khu mậu dịch tự do với thuế quan thấp hoặc không có
o Về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soát tư bản
o Giảm, bỏ hẳn hay điều hoà việc trợ cấp cho các doanh nghiệp
địa phương
• Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ
o Hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia (nói chung là thắt
chặt hơn)
o Công nhận sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước (v.d. bằng
sáng chế do Việt Nam cấp có thể được Mỹ thừa nhận)
3. Biếu cam kết về thuế của Việt Nam trong WTO
Theo Bộ Tài chính, trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm
thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng
buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng
của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần - cao hơn mức thuế suất hiện
hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế), chủ yếu là đối
với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận
tải.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào
thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng. So sánh với mức
thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức
cắt giảm đi sẽ là 10%. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam sẽ được áp
dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng, gồm: trứng, đường, lá
thuốc lá, muối (muối trong WTO không được coi là mặt hàng nông sản). Đối
với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế
Bảng 2 - Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm mặt hàng chínhTT Mặt hàng
Thuế
suất
MFN
(%)
Cam kết với WTO
Thuế
suất khi
gia
nhập
(%)
Thuế
suất
cuối
cùng
(%)
Thời hạn thực
hiện
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
1
Một số sản phẩm
nông nghiệp
- Thịt bò 20 20 14 5 năm
- Thịt lợn 30 30 15 5 năm
- Sữa nguyên liệu 20 20 18 2 năm
- Giấy (t/s bình quân)
22,
3 20,7 15,1 5 năm
- Tivi 50 40 25 5 năm
- Điều hòa 50 40 25 3 năm
- Máy giặt 40 38 25 4 năm - Dệt may (t/s bình quân) 37,
3
13,7 13,7 Thực hiện
ngay
khi gia nhập
(theo HĐ dệt
may đã có với
EU , US )
- Giày dép 50 40 30 5 năm
- Xe Ôtô con + Xe từ 2.500 cc trở lên,
chạy xăng 90 90 52 12 năm + Xe từ 2.500 cc trở lên,
kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết
bị y tế. Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay,
hoá chất
Bảng 3 - Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngànhHiệp định tự do hoá theo ngành Sốdòng thuế
T/s MFN
(%)
T/s cam
kết cuối
cùng (%)
1. HĐ công nghệ thông tin ITA- tham
gia 100%
330 5,2% 0%
2. HĐ hài hoà hoá chất CH- tham gia
81%
1.300/1.600 6,8% 4,4%
3. HĐ thiết bị máy bay dân dụng CA-
tham gia hầu hết
89 4,2% 2,6%
4. HĐ dệt may TXT- tham gia 100% 1.170 37,2% 13,2%
5. HĐ thiết bị y tế ME- tham gia
100%
81 2,6% 0%
3. Thách thức của hệ thống thuế trong thời kỳ hội nhập
Một là, cơ cấu nguồn thu bị phụ thuộc quá nhiều vào thuế nhập khẩu:
Trong cơ cấu nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí thì thuế nhập khẩu chiếm tỷ trọng
tương đối cao. Theo thống kê, trong suốt giai đoạn từ năm 1991 đến nay,
mặc dù có xu hướng giảm dần trong vài năm gần đây nhưng thuế xuất, nhập
mỏng, quá trình đào tạo không thường xuyên, chưa theo kịp yêu cầu quản lý
kinh tế. Bên cạnh đó là hạn chế về nguồn lực vật chất phục vụ cho công tác
quản lý thuế, đặc biệt là hệ thống tin học. Yêu cầu của quản lý thuế trong giai
đoạn hiện nay đòi hỏi không chỉ nối mạng máy tính trong toàn quốc mà còn
phải cập nhật và trao đổi thông tin với các nước trên thế giới để đối chiếu,
kiểm tra và xử lý thông tin một cách kịp thời. Trong điều kiện hội nhập thì hệ
thống mạng máy tính là một trong những công cụ quản lý thuế quan trọng.
Nguyên nhân khách quan là do khu vực không chính thức đóng vai trò
khá quan trọng trong nền kinh tế. Các hoạt động "ngầm" làm cho cơ quan
thuế và thống kê gặp nhiều khó khăn trong việc thiết lập hệ thống thông tin
tin cậy nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh giá được những
tác động thay đổi về chính sách thuế đến nền kinh tế nói chung và ảnh đến
nguồn thu nói riêng. Việc khó lượng hoá những thay đổi về nguồn thu của
ngân sách trong điều kiện hạn hẹp thường dẫn tới những rủi ro lớn về khó
khăn tài khoá.
4. hoàn thiện hệ thống thuế trong thời kỳ hội nhập
4.1 Hoàn thiện hệ thống thuế ớ Trung Quốc
Từ khi tiến hành đàm phán gia nhập WTO, việc cắt giảm thuế quan
của Trung Quốc đã được thực hiện một cách nhất quán và liên tục, vừa làm
cho hệ thống thuế quan phù hợp với chuẩn mực chung của kinh tế thị trường
và thông lệ quốc tế, vừa nhằm mục tiêu giảm thuế suất bình quân, đáp ứng
yêu cầu của việc gia nhập WTO. Lịch trình cắt giảm thuế quan của Trung
Quốc từ năm 1992 đến thời điểm trở thành thành viên WTO (2001) gồm:
Ngày 01/01/1992: Giảm 225 dòng thuế, chiếm 4,1% tổng số;
Ngày 01/04/1992 : Loại bỏ thuế nhập khẩu đối với 18 nhóm sản phẩm,
trong đó 16 nhóm sản phẩm với 168 dòng có mức thuế suất nhập khẩu giảm
từ 28,6-68%. Hai nhóm sản phẩm còn lại là ô tô mui kín và máy quay phim,
thuế căn bản đã tăng trong khi thuế theo luật được loại bỏ, nhưng mức thuế
nhập khẩu vẫn giảm nhẹ,…
Ngày 01/01/2000: Giảm 819 dòng thuế đối với các sản phẩm dệt trong
Trung Quốc là quá trình chuyển từ hệ thống giao nộp ngân sách trong hệ
thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang hệ thống thuế có nhiều
đặc điểm tương đồng với các nước kinh tế thị trường phương Tây, theo đó,
từ năm 1994, Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cải cách thuế căn bản:
(1) Mở rộng thuế giá trị gia tăng trong hệ thống thuế doanh thu (gồm
VAT, thuế sản phẩm và thuế môn bài). Từ năm 1994, thuế giá trị gia tăng đã
được áp dụng cho các doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ, sản xuất thuộc mọi
thành phần kinh tế, không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh
nghiệp nước ngoài. Đến năm 1995, thuế VAT đã chiếm 42% tổng thu ngân
sách. Các loại thuế môn bài với mức từ 3%-5% được áp dụng chủ yếu cho
dịch vụ và kinh doanh bất động sản.
(2) Cuộc cải cách mới hệ thống thuế bắt đầu từ năm 2002 nhằm đảm
bảo cho Nhà nước kiểm soát kinh tế vĩ mô tốt hơn bao gồm những nội dung
chính:
- Chuyển thuế VAT từ dạng thuế dựa trên sản xuất sang VAT dựa trên
tiêu dùng, tương tự như hệ thống thuế giá trị gia tăng của các nước phương
Tây;
- Cải thiện thuế hàng hóa, sửa lại các khoản mục thuế thông qua việc
tăng, giảm và từng bước loại bỏ các hàng hóa chung chịu thuế, đưa các hàng
hóa tiêu dùng cao cấp thành tiêu điểm của thuế hàng hóa;
- Thống nhất hệ thống thuế doanh nghiệp, bao gồm thống nhất tiêu chí
phân biệt cho từng người đóng thuế và các chính sách ưu đãi;
- Cải thiện hệ thống thuế thu nhập cá nhân bằng cách đưa ra một hệ
thống thuế thu nhập cá nhân có phân loại, hợp lý hóa việc khấu trừ trước
thuế, hình thành tiêu chí điều chỉnh tỷ lệ thuế hợp lý hơn;
- Cải cách thuế xây dựng đô thị;
- Cải thiện hệ thống thuế địa phương, đảm bảo cho chính quyền địa
phương là cơ quan có thẩm quyền về chính sách thuế, đồng thời khẳng định
chính sách thuế thống nhất;
- Cải cách sâu hơn thuế ở nông thôn bao gồm hủy bỏ thuế nông nghiệp
khác. Cụ thể, trong điều kiện thuế nhập khẩu tiếp tục được điều chỉnh giảm
theo cam kết thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT), áp dụng thuế VAT đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt,… Theo đó, cần điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
hiện hành xuống mức hợp lý, không làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh các mặt hàng,
dịch vụ này.
+ Thuế xuất, nhập khẩu
Căn cứ vào chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, việc sửa
đổi Luật thuế xuất, nhập khẩu cần đáp ứng được những mục tiêu và yêu cầu
sau: Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn
định, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử, phù hợp với tiến trình
cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế; Khuyến khích phát triển sản xuất
và xuất khẩu, bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc, phù hợp với tiến trình
hội nhập; Góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước; Kế thừa
những quy định của Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành đang phát huy hiệu
quả trong thực tiễn, đồng thời sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp
với điều kiện hội nhập, chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành và chưa đề cao
được vai trò quản lý của Nhà nước trong chống gian lận thương mại, thất thu
thuế.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày
01/01/2004, khi đi vào cuộc sống đã góp phần tạo ra sự thống nhất và hợp lý
hơn trong việc huy động ngân sách nhà nước từ một sắc thuế quan trọng có
tính chất trực thu. Tuy vậy, cũng cần phải có những điều chỉnh để phù hợp
hơn với thực tiễn và thông lệ quốc tế:
- Về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, việc giảm thuế suất từ 32%
trước đây xuống còn 28% như hiện nay là bước cải cách quan trọng. Mặc dù
vậy, so với các nước trên thế giới hiện nay, mức thuế này vẫn còn cao và cần
những sẽ giải quyết được khó khăn về nguồn thu trong điều kiện hội nhập mà
còn góp phần to lớn vào việc xây dựng một hệ thống thuế hiệu quả.
Như đã phân tích ở trên, có thể thấy rõ việc giải quyết vấn đề nguồn thu
Ngân sách Nhà nước hiện nay cần hướng vào thuế nội địa. Vấn đề còn lại là
ở chỗ xác định cơ cấu thuế trực thu và gián thu như thế nào cho hợp lý. Hệ
thống thuế hiện hành của chúng ta có tỷ trọng thuế gián thu chiếm ưu thế hơn
so với thuế trực thu. Với cơ cấu đó thì hiệu quả suất thu thuế sẽ cao nhưng
khả năng điều tiết thấp. Ngược lại, khi tỷ trọng thuế trực thu cao thì khả năng
điều tiết của hệ thống thuế sẽ cao hơn. Trong quá trình thực thi chính sách
thuế, việc tăng thuế tiêu dùng thường được ưa chuộng hơn, bởi tăng thuế thu
nhập có tác động xấu đến đầu tư và đòi hỏi thời gian nhiều hơn so với tăng
thuế tiêu dùng. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế hiện nay dẫn đến xu
hướng chuyển dịch tương đối trong cơ cấu nguồn thu ngân sách từ thuế tiêu
dùng sang thuế thu nhập.
Xét trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, sức ép về nguồn thu ngày
một tăng, trong khi tiềm năng thu từ thuế thu nhập cá nhân còn lớn thì việc
kết hợp cả hai loại thuế, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá
nhân để đảm bảo nguồn thu có thể được xem là một giải pháp quan trọng và
khả thi. Đối với thuế thu nhập cá nhân, cần hướng đến tính hiệu quả hơn là
tính công bằng. Với những mức thuế suất biên hợp lý sẽ khuyến khích các cá
nhân nỗ lực làm việc, từ đó sẽ mở rộng cơ sở tính thuế. Đồng thời, việc mở
rộng cơ sở tính thuế thu nhập cá nhân sẽ làm giảm nhẹ vai trò của thuế giá trị
gia tăng, giảm gánh nặng đối với những người có thu nhập thấp. Mặt khác, vì
việc mở rộng cơ sở tính thuế thu nhập cá nhân có tính nhạy cảm nên có thể
dụng thuế giá trị gia tăng để thực hiện một phần chức năng của thuế thu nhấp
cá nhân (xét về khía cạnh huy động nguồn thu). Tuy nhiên, trong quá trình
kết hợp hai sắc thuế này thì ưu tiên số 1 vẫn phải tập trung vào việc hoàn
thiện và khai thác các sắc thuế gián thu.
Trong kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XI ngày 17/6/2003 vừa qua, 3 Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc
quyết vấn đề này, Chính phủ đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau song
xem ra hiệu quả đem lại chưa cao. Vì vậy, việc xây dựng Luật Thuế môi
trường ở Việt Nam là cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó có thể
kết hợp được các mục tiêu môi trường trong phát triển kinh tế, xác định được
những mâu thuẫn và ưu tiên giữa mục tiêu môi trường và mục tiêu tăng
trưởng để có cách giải quyết thỏa đáng.
- Ban hành thêm Luật Thuế tài sản: Thuế tài sản đánh trên các động sản
và bất động sản ngoài mục đích xây dựng ngân sách nhà nước còn nhằm
tránh việc đầu cơ tích trữ tài sản, cụ thể là đất đai hay nhà ở. Khi một lớp
người tích trữ nhiều đất, họ sẽ tạo nên sự khan hiếm đất đai giả tạo và giá đất
sẽ tăng. Mặt khác, khi không phải trả tiền thuế đất, họ có thể găm giữ bao lâu
tùy ý khiến đất đai bị bỏ hoang hoặc khai thác không hiệu quả. Trước tình
hình đó, thuế tài sản, đặc biệt là thuế đất, có hiệu quả trong việc thúc đẩy
quay vòng vốn nhanh và sử dụng tài sản có hiệu quả. Thuế đất là loại thuế
hợp lý nhất và có tác dụng nhất trong điều tiết nền kinh tế của Nhà nước.
Trên thế giới, nhiều nước đã áp dụng có hiệu quả loại thuế này.
4.2.2 Quản lý thuế
quy trình cơ bản trong quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, kê khai nộp
thuế, tính thuế, thông báo thuế, thu thuế, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi
phạm pháp luật về thuế của những tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân
sách, của cơ quan thu thuế và các tổ chức, cá nhân có liên quan đòi hỏi phải
được luật hóa để đảm bảo tính hiệu quả của công tác quản lý thu thuế. Chính
vì vậy, việc ban hành Luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay là phù hợp với
yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước nói chung cũng như yêu cầu cải
cách hệ thống chính sách thuế nói riêng.
a) hướng dẫn, hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán, sử dụng,
lưu giữ hoá đơn chứng từ
Có thể nói đây là công việc quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay bởi
sổ sách kế toán và hoá đơn chứng từ là một trong những cơ sở quan trọng
toàn phù hợp do trình độ kế toán và kê khai của đối tượng nộp thuế còn thấp,
nếu áp đặt ngay công việc tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế cho các đối
tượng nộp thuế là không khả thi và nếu có thực hiện thì phải trả giá bằng sự
gian lận dẫn đến thất thu rất lớn.
c) Tạo môi trường quản lý thuế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của quản lý
thuế. Sự phát triển của tài chính, và nhất là việc áp dụng rộng rãi hệ thống kế
toán hiện đại hay sử dụng các phương thức thanh toán qua ngân hàng sẽ làm
cho các giao dịch được kiểm soát dễ dàng hơn. Điều đó tạo cơ hội tiềm năng
quản lý một số loại thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng) một
cách thuận lợi và dễ dàng hơn. Mặt khác, các dịch vụ cho người nộp thuế
được cung cấp đầy đủ và thuận tiện cũng là những yếu tố tích cực góp phần
tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho việc triển khai các luật thuế.
Môi trường pháp luật. Để đảm bảo tính tự nguyện tuân thủ thuế (nhất là
trong điều kiện áp dụng cơ chế tự kê khai nộp thuế) thì đỏi hỏi chúng ta phải
có luật thuế đúng và phù hợp. Điều đó có nghĩa là việc bắt buộc thu một loại
thuế phải được dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Ngoài ra, các điều luật
phải đảm bảo rõ ràng, đơn giản để đối tượng nộp thuế biết rõ nghĩa vụ của
mình. Sự chặt chẽ, rõ ràng, đơn giản sẽ làm giảm đáng kể các chi phí trong
quá trình thực thi luật thuế, kể cả chi phí quản lý và chi phí tuân thủ.