1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
NGUYỄN DIỆU HIỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIỚI THIỆU
VIỆC LÀM TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
NGUYỄN DIỆU HIỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIỚI THIỆU
VIỆC LÀM TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Minh Hùng
Nghệ An - 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu đến nay Luận văn tốt nghiệp đã hoàn
thành. Với tình cảm kính trọng, chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất, tác giả
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban giám hiệu, các phòng chuyên môn trường Đại Học Vinh;
- Phòng Đào tạo Đại học trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả
được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn;
GIÁO VIÊN CỦA TRUNG TÂM GIỚI THIỆU VIỆC LÀM 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Giáo viên và đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giới thiệu việc làm 14
1.2.2 Phát triển và phát triển đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giới thiệu
việc làm 18
1.2.3 Giải pháp và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Trung tâm
Giới thiệu việc làm 20
1.3 Người giáo viên ở Trung tâm Giới thiệu việc làm trong bối cảnh
hiện nay 20
1.3.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên ở Trung tâm Giới thiệu việc làm
trong bối cảnh hiện nay 20
1.3.2 Yêu cầu về phẩm chất, năng lực đối với người giáo viên ở Trung
tâm Giới thiệu việc làm trong bối cảnh hiện nay 23
1.3.3 Những thách thức đối với người giáo viên ở Trung tâm Giới thiệu
việc làm trong bối cảnh hiện nay 29
1.4 Một số vấn đề về phát triển đội ngũ giáo viên ở Trung tâm Giới
thiệu việc làm 30
1.4.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giáo viên ở Trung tâm Giới
thiệu việc làm 30
1.4.2 Nội dung, phương pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở Trung tâm
Giới thiệu việc làm 33
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ giáo viên ở
Trung tâm Giới thiệu việc làm 37
2
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIỚI THIỆU VIỆC LÀM TỈNH
VĨNH LONG 43
2.1 Khái quát về Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh Vĩnh Long 43
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giới thiệu việc làm
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để phát triển đội ngũ giáo viên của Trung
tâm Giới thiệu việc làm tỉnh Vĩnh Long 87
3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU
4
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DVVL : Dịch vụ việc làm
GTVL : Giới thiệu việc làm
LĐ - TBXH : Lao động, Thương binh và Xã hội
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Cơ cấu chi phí đào tạo nghề - Phòng Đào tạo 40
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh Vĩnh
Long
46
Sơ đồ 2.2: Cán bộ lãnh đạo của Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh
Vĩnh Long
47
Bảng 2.1: Số lượng học viên học nghề tại Trung tâm Giới thiệu việc
làm tỉnh Vĩnh Long 50
Bảng 2.2: Số lượng học viên học ngoại ngữ theo chương trình xuất
khẩu lao động tại Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh Vĩnh Long 51
Bảng 2.3: Cơ cấu độ tuổi của giáo viên 54
Bảng 2.4: Thực trạng giáo viên tại Trung tâm Giới thiệu việc làm Vĩnh
Long
55
đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định “Phát triển, nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công
nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho
người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Sức ép
về lao động và việc làm càng lớn, người lao động mất hoặc thiếu việc làm càng
1
nhiều phần lớn ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu là lao động phổ
thông, tay nghề kém.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo đến năm 2020 bao
gồm nhiều dự án trong đó có dự án “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý cơ sở giáo dục” và “Tăng cường năng lực giáo dục nghề nghiệp”. Tuy
nhiên công tác đào tạo nghề cũng đang đứng trước những thách thức và khó
khăn do Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế và đã là thành viên chính
thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Vì thế nhu cầu lao động đã qua
đào tạo trở thành một nhu cầu thiết yếu mà hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trung tâm Giới thiệu việc làm (GTVL) tỉnh Vĩnh Long được thành lập từ
năm 1989 và đi vào hoạt động từ năm 1991, trực thuộc Sở LĐ - TBXH tỉnh Vĩnh
Long. Trung tâm GTVL được đổi tên và thành lập lại theo Quyết định số
364/QĐ-UBT ngày 01/03/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long bổ sung
thêm chức năng Bảo hiểm thất nghiệp và tích hợp cơ sở dữ liệu của Sàn giao
dịch việc làm. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động là chính sách của Đảng và Nhà
nước ta góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân,
tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước và nhiều lợi ích kinh tế khác. Do vậy việc đào
tạo nghề và ngoại ngữ cho người lao động là công việc hàng đầu mà trung tâm
luôn đặt ra nhằm giúp cho người lao động có được những nền tảng đầu tiên khi
tham gia xuất khẩu lao động. Theo nhận xét của các quốc gia như Nhật bản, Hàn
quốc thì lao động Việt Nam đa phần là những lao động không có tay nghề, chỉ
tập trung chủ yếu vào lao động phổ thông đồng thời trình độ ngoại ngữ còn kém
vì thế mức lương mà các doanh nghiệp ở các quốc gia trên cũng trả cho người
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính
khả thi thì có thể phát triển được đội ngũ giáo viên của Trung tâm GTVL tỉnh
Vĩnh Long đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo chất lượng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên của
Trung tâm GTVL.
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên của
Trung tâm GTVL tỉnh Vĩnh Long.
5.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Trung tâm
GTVL tỉnh Vĩnh Long.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2 Nhm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra.
4
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý các số liệu các kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó có nhận định,
đánh giá đúng đắn, chính xác các kết quả nghiên cứu.
đưa nghề dạy học trở thành nghề hấp dẫn và được tôn trọng hơn. Để giảm tình trạng
thiếu hụt, năm 1986, chính phủ đã cử giảng viên đến các vùng chưa phát triển để đào
tạo giáo viên cho các trường địa phương. Trải qua nhiều năm, Trung Quốc đã thực
hiện nhiều Chương trình cải cách mang tính đột phá. Trong giai đoạn này, Trung
Quốc xem nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển bền vững
của xã hội, phát triển đất nước giàu mạnh hơn [18; tr.73].
Ở Nhật Bản, ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, trở thành một nước bại
trận nhưng đã nhận thức rõ ràng điều kiện phát triển của nước mình chính là con
người. Họ đã nhận thức rất tốt vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất
nước. Hệ thống giáo dục được sửa đổi liên tục nhằm thực hiện hai ưu tiên là cưỡng
bách giáo dục nhằm phổ cập hóa hệ thống giáo dục tiểu học và lập các loại trường
6
dạy nghề cho thanh niên đồng thời tổ chức đào tạo qua các khóa chuyên tu (nông,
công, lâm, ngư nghiệp, thủy sản, dệt,…). Nhật Bản đã thực hiện nhiều công cuộc cải
cách giáo dục. Nâng cao đào tạo nghề kỹ thuật và điển hình là cải cách giáo dục cuối
thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Trong đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
cũng là một trong những yếu tố quan trọng mà Nhật Bản đã tập trung cải cách trong
hệ thống giáo dục của mình nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo cho lực lượng lao
động kỹ thuật, có tay nghề nhằm định hướng phát triển Nhật Bản cho phù hợp với
thời đại “vi tính hóa” và “robot hóa”. Điều này đã đem lại những thành tựu rực rỡ
trong khoa học kỹ thuật và đưa Nhật Bản đạt được những bước tiến đột phá trong
công nghệ về mọi mặt trên thế giới [18; tr.115].
Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ thứ XX, ở các nước tư bản phát triển
Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và quản lý quá
trình đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc điểm, yêu
cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có khác nhau nên
không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp, hình thức, qui mô đào tạo
nghề cũng có sự khác nhau song có đặc điểm chung là đều chú trọng đến phát triển
kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
Ở Anh, Luật Giáo dục 1944 có giá trị ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống giáo
vai trò của giáo viên với thành tích của học sinh. Chính sách xây dựng, bồi dưỡng và
phát triển giáo viên được đặt ra nhằm tất cả các cộng đồng đều có giáo viên với kiến
thức và kỹ năng cần thiết để giảng dạy. Khi quyết định đưa giáo dục Hoa kỳ lên
8
hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải pháp giáo viên
làm then chốt. Khi Barack Obama lên nắm quyền, ông vẫn ưu tiên cho giáo dục và
dành một nguồn ngân sách lớn để thực hiện các cải cách giáo dục. Trong đó, một
trong năm vấn đề cốt lõi trong cải cách giáo dục đó là “Đào tạo, tuyển dụng và có chế
độ đãi ngộ đối với giáo viên giỏi” bằng cách đưa ra các chương trình khuyến khích
cho giáo viên mới cũng như tất cả giáo viên cũ nâng cao trình độ giảng dạy [18;
tr.176].
Cho đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ
thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học. Do sớm
có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản phát triển đã tích lũy được nhiều kinh
nghiệm trong quá trình đào tạo một cách liên tục nhằm đổi mới để đảm bảo chất
lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc sống. Bước sang thế kỷ XXI, vấn
đề nguồn nhân lực ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển và
thịnh vượng của mỗi quốc gia.
1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
Ngày nay, giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu. Theo tác giả Vũ Ngọc
Hải trong nghiên cứu “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” đã đưa ra giải
pháp cần phải xây dựng, phát triển nhanh đội ngũ nhà giáo vì đội ngũ nhà giáo là vốn
quý nhất, là nhân tố đảm bảo cho giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với
nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Chất lượng nền giáo dục nước ta
cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ nhà giáo. Xây dựng, đào tạo,
bồi dưỡng nhà giáo là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi
ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ [24; tr.81].
9
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Nam” đã nêu ra một số thực trạng cần phải đổi mới căn bản, toàn diện việc đào tạo và
sử dụng đội ngũ giáo viên. Bên cạnh đó cũng nêu ra một số kiến nghị về đổi mới công
tác đào tạo và sử dụng giáo viên hiện nay [24; tr.145].
Theo tác giả Nghiêm Đình Vỳ , Nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung
ương với nghiên cứu “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là
yếu tố quyết định bảo đảm chất lượng giáo dục” khẳng định phát triển giáo dục là
trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, trong đó, đội ngũ nhà giáo có
một vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội, đó là người truyền đạt kiến thức, là nhà
giáo dục trong việc hình thành và phát triển kỹ năng sống, đạo đức cho học sinh, là
tấm gương sáng cho học sinh noi theo [24; tr.151].
Giáo dục nghề nghiệp được hình thành trong bối cảnh đất nước vừa mới giành
được độc lập, trong bao nhiêu bề bộn cần giải quyết đã phải chuẩn bị ngay vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp cực kỳ gian khổ. Nhưng đây cũng là điều kiện tiền
đề cho sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp của nước ta trong giai đoạn về
sau. Từ những năm 1962, Tiểu ban Giáo dục miền Nam ra đời, chỉ tập trung vào 2
loại hình đào tạo là đào tạo giáo viên và đào tạo cán bộ quản lý.
Những vấn đề về đào tạo nghề và quản lý quá trình đào tạo nghề cũng được
quan tâm ngay từ cuối những năm 70, khi đó còn là Tổng cục dạy nghề. Lúc đó một
số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nghề nghiệp, tâm lý học lao động (như Đặng Danh
Ánh, Nguyễn Ngọc Đường, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương,…) đã chủ động
11
nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác đào tạo
nghề. Đặc biệt một số nhà nghiên cứu khác như Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm đã đi sâu
vào nghiên cứu quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
Năm 1971, nước ta đã thành lập 2 trường đào tạo giáo viên dạy nghề trực thuộc
Tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật nhằm phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề. Đó
là trường Giáo viên dạy nghề Hải Hưng theo Quyết định 242/TTg ngày 03 tháng 12
năm 1970 và trường Giáo viên dạy nghề Nam Định [18; tr.77]. Sau khi hòa bình lập
lại hệ thống các Trung tâm dạy nghề cũng tăng lên đáng kể cùng với sự gia tăng về số
lượng giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu học nghề ngày càng cao của người lao
kể bằng cách phối hợp trong hoạt động GTVL và cung ứng lao động, dạy nghề theo
quy định của pháp luật, thông tin cho nhau về nhu cầu tuyển dụng và nguồn lao động.
Trong xu thế mở cửa, hòa nhập với hoạt động kinh tế thị trường, ngành giáo
dục nghề nghiệp bắt đầu chú trọng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường: đa dạng
hóa các mục tiêu, chương trình và hình thức tổ chức đào tạo. Hiện tỉnh Vĩnh Long có
07 trung tâm dạy nghề và GTVL công lập thuộc các huyện và hơn 10 trung tâm dạy
nghề tư thục. Bên cạnh đó, còn có 03 trung tâm GTVL ở tỉnh Vĩnh Long là Trung
tâm GTVL trực thuộc Sở LĐ - TBXH, Trung tâm GTVL trực thuộc Liên đoàn lao
động, Trung tâm GTVL thuộc quân khu 9 có chức năng đào tạo nghề ngắn hạn cho
mọi đối tượng.
Được sự quan tâm sâu sắc đến công tác giáo dục, đào tạo của các ngành, các
cấp, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên, ngày
13
04/07/2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Quyết định số
1160/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng,
phương pháp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và quản lý ngành; bồi dưỡng cập
nhật thường xuyên, kịp thời kiến thức phục vụ hội nhập; Đào tạo, bồi dưỡng
trình độ các mặt theo quy định để chuẩn hoá theo tiêu chuẩn, chức danh; Góp
phần xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý chuyên nghiệp, vững vàng
về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị,
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại góp phần nâng cao ý
thức trách nhiệm của giáo viên đối với sự nghiệp giáo dục, tận tụy với nghề, tự
bồi dưỡng để nâng cao năng lực, đạo đức.
Tuy có nhiều đề tài, bài viết nghiên cứu về quản lý và phát triển đội ngũ
giáo viên ở các trường, các địa phương nhưng ở tỉnh Vĩnh Long vẫn chưa có đề
tài nào nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên cho Trung tâm GTVL tỉnh
Vĩnh Long và đây là đề tài mới cần được nghiên cứu.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo viên và đội ngũ giáo viên của Trung tâm GTVL
người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; Không ngừng
học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên
môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
15
Theo Điều 58 Luật Dạy nghề 2006 quy định giáo viên dạy nghề là người
dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các
cơ sở dạy nghề phải có những tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật
giáo dục 2005: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo
về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản
thân rõ ràng.
- Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề trình độ sơ cấp nghề được quy
định tại Điều 58 Luật Dạy nghề 2006 như sau: Giáo viên dạy lý thuyết phải có
bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có
bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
Trường hợp giáo viên không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc
đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm.
- Quyền của giáo viên dạy nghề được quy định tại Điều 73 của Luật Giáo
dục 2005 và Điều 59 của Luật Dạy nghề 2006: Được giảng dạy theo chuyên
ngành đào tạo; Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ; Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở
giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện
đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác; Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; Được đi
thực tế sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới; Được sử dụng các tài liệu, phương
tiện, đồ dùng dạy học, thiết bị và cơ sở vật chất của cơ sở dạy nghề để thực hiện
nhiệm vụ được giao; Được tham gia đóng góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch
của cơ sở dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy
và các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của giáo viên.
- Nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề: được quy định tại Điều 72 của Luật
Giáo dục 2005: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện
16