Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ LÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. THÁI VĂN THÀNH

NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS. TS. Thái Văn Thành - Phó Hiệu trưởng trường Đại
học Vinh, đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
- Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Phòng Sau Đại học,
Phòng công tác chính trị - Học sinh Sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.
Hồ Chí Minh, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã
động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong được nhận những ý kiến đóng góp, bổ sung của quý
Thầy/Cô cùng các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Nguyễn Thị Là
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
4. Giả thuyết khoa học 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6. Phạm vi nghiên cứu 6
7. Phương pháp nghiên cứu 6
8. Đóng góp của đề tài 7
9. Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 8
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1. Trên thế giới 8
1.1.2. Ở Việt Nam 9
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 12
1.2.2. Giáo dục đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 16
1.2.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên đại học sư phạm 24
1.2.4. Giải pháp và giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên đại học sư phạm 26
1.3. Nội dung một số vấn đề về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên đại học sư phạm 27
1.3.1. Đặc điểm nghề sư phạm 27
1.3.2. Ý nghĩa 29

1.3.3. Nội dung, phương pháp, con đường giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên đại học sư phạm 36

sư phạm 69
2.4.3. Chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
sư phạm 71
2.4.4. Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên sư phạm 72
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác quản lý giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh 73
2.5.1. Đánh giá thực trạng 73
2.5.2. Nguyên nhân thực trạng 77
2.5.3. Thuận lợi, khó khăn trong quản lý công tác giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.
Hồ Chí Minh 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 83
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 83
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 83
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 83
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 84
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 85
3.2. Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh 86

3.2.1. Nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 86
3.2.2. Đưa nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp vào chương
trình đào tạo 89
3.2.3. Tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên qua
hoạt động dạy học ở trên lớp 90

việc; có ý thức phc v nhân dân.”
Giáo dục và đào tạo là một hoạt động có tổ chức của xã hội, nhằm bồi
dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực con người cho mỗi công dân
(cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khoẻ và nghề nghiệp). Trong quá
trình giáo dục ở nhà trường, nhiệm vụ giáo dục tri thức luôn phải gắn với
nhiệm vụ giáo dục đạo đức. Thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, giáo dục
đạo đức là một khâu then chốt để giáo dục nhân cách con người. Đạo đức là
tổng hợp các quy tắc, tiêu chuẩn chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với nhau
trong một cộng đồng, một xã hội nói chung. Cho dù ở giai đoạn nào của lịch
sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác,
hướng tới quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, con người với tự
nhiên và xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự tu dưỡng, tự giáo dục của
chính mỗi cá nhân. Trong nền giáo dục từ xa xưa, ông cha ta vẫn rất đề cao và
coi trọng giáo dục đạo đức của con người “Tiên học lễ, hậu học văn”, phải
chăng “lễ” là đức dục, là nền tảng cho sự phát triển và tài năng của con người.
Lúc sinh thời Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo
2
đức cho thế hệ trẻ. Bác nói: “Có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng
khó, có Tài mà không có Đức là người vô dụng’’. Bác cũng chỉ rõ “Dạy cũng
như Học phải chú trọng cả Đức lẫn Tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái
gốc rất quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức trong trường học là một bộ
phận quan trọng có tính chất nền tảng của nhà trường XHCN”.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ phương hướng phát
triển giáo dục - đào tạo giai đoạn 2011 - 2015 và chiến lược phát triển giáo
dục 2011 - 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước, là ‘‘ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo
dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội…Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có

đoạn cách mạng mới.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trong xu thế hội nhập quốc tế, mặt trái của nó cũng len lỏi, xâm nhập
vào tầng lớp sinh viên, khiến cho một bộ phận sinh viên sa sút về đạo đức, mờ
nhạt về lý tưởng và hoài bão ước mơ Những tệ nạn xã hội đã gây không ít
tác hại đối với sinh viên làm ảnh hưởng tới chất lượng, uy tín của các nhà
trường sư phạm. Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên mặc dù đã được chú ý
nhưng chưa đổi mới thường xuyên, nội dung nghèo nàn, thực hiện chưa đồng
bộ. Quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm nói chung và trường
Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh nói riêng cũng nặng về trang bị, cung cấp
kiến thức khoa học chưa chú ý rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và những phẩm
chất đạo đức của người giáo viên. Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng
4
đào tạo giáo viên, các trường sư phạm cần quan tâm hơn nữa đến việc giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thông qua các môn học. Muốn dạy
học tốt trước hết phải có tâm hồn đẹp. Tu dưỡng về nghề căn bản nhất và
cũng gian khổ nhất là luyện tâm hồn. Không có tâm hồn đẹp khó dạy học sinh
thành công. Quá trình luyện tâm hồn phải song song với quá trình luyện tay
nghề. Nói cách khác “hồng thắm” phải tiến hành cùng lúc với “chuyên sâu”.
Việc thực hiện tốt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về “Chống tiêu cực
và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục - đào tạo”; cùng với cuộc vận
động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”
của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thu hút được sự hưởng ứng rộng khắp toàn
ngành và của toàn xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành “Quy định về
đạo đức nhà giáo”, đây là cơ sở để mọi nhà giáo nỗ lực học tập, tu dưỡng rèn
luyện đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu của nghề dạy học được xã hội tôn
vinh; đồng thời là cơ sở để giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên trong
các nhà trường sư phạm. Vấn đề đạo đức của nhà giáo được cả xã hội quan
tâm và trở thành yêu cầu bức thiết đặt ra đối với quá trình đào tạo giáo viên,
trong đó có đào tạo giáo viên ở trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh

Thấy được thực trạng của công tác quản lý GDĐĐNN và đề xuất một
số giải pháp quản lý công tác GDĐĐNN cho sinh viên trường Đại học Sư
phạm TP. Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác GDĐĐNN cho sinh viên đại học sư phạm.
32. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐNN
cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
6
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số giải pháp có tính khoa học và khả thi, thì có thể
nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDĐĐNN cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác GDĐĐNN cho sinh
viên đại học sư phạm.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác GDĐĐNN cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐNN cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng
SV những năm cuối.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các nhóm phương
pháp nghiêu cứu chủ yếu sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và quản lý giáo
dục: Quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn,
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Tập hợp, phân loại tài
liệu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Đảng, của Nhà nước, của Ngành 8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong
lịch sử phát triển nhân loại và được mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại
quan tâm. Trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào cũng đều tồn tại mối quan hệ
giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Tùy theo trình độ phát triển
xã hội mà những lợi ích của cá nhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích của xã
hội. Giáo dục đạo đức cho con người là vấn đề đã được đặt ra từ xa xưa và
luôn được đổi mới để thích ứng với thực tiễn của thời đại.
Khổng Tử (551- 479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo.
Theo ông Nhân- Nghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá
theo hành vi. Bàn về vấn đề vai trò của Nho giáo đối với đời sống xã hội và
giáo dục, tác giả Quang Đạm đã viết: “Nho giáo đã có những cố gắng to lớn
bền bỉ, có những cống hiến tích cực trong việc khuyên bảo dạy dỗ cho con
người yêu thương đồng loại, cho con người có quan hệ tốt với nhau: Đạo đức
Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín và Hiếu lễ tuy có phần mơ hồ do hạn chế của
những điều kiện lịch sử đương thời, đều biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành
thiết tha mong muốn làm cho con người tránh được, bớt được đau khổ”[10].
Ở Phương Tây, trước công nguyên có nhiều nhà triết học quan tâm đến
vấn đề đạo đức. Nhà triết học Xôcrát (470-399) hướng triết học vào việc giáo
dục con người sống có đạo đức. Ông cho rằng: “Nguyên nhân sâu xa của hành

10
trong xã hội, thể hiện qua các tựa đề sách như: Huấn nữ ca; Thơ dạy làm dâu;
Gia huấn ca; Phong hóa tập; Phong hóa lễ nghi; Tập lễ phép; Phải trái ở đời;
Lời mẹ dạy con; Đạo đức và luân lý; Mấy lời khuyên học trò…Trong số những
tác giả viết loại sách này phải kể đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.
Cụ Phan Bội Châu khi viết “Khổng đăng học”, cụ đã rút ra 6 tính tốt
cần rèn luyện gọi là lục ngôn: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương, trong
thời đại ấy việc giáo dục 6 đức tính đó có tác dụng như sự rèn luyện bản
lĩnh cho con người.
Cụ Phan Chu Trinh trong bài “Đạo đức và luân lý” đã tìm ra sức mạnh
cho dân cho nước ở sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo
Cụ từ xưa đến nay bất cứ dân tộc nào đã đứng cạnh tranh hơn thua với các
dân tộc trên thế giới thì chẳng những nhờ sức mạnh mà phải nhờ có đạo đức
làm gốc nữa. Nhất là dân tộc nào đã bị té nhào xuống nay muốn đứng lên khỏi
bị người ta đi lên trên thì lại phải có một nền đạo đức vững chắc hơn dân tộc
đang giàu mạnh hơn mình.
Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức
và giáo dục đạo đức. Tư tưởng đạo đức của Người cụ thể và gần gũi với mọi
đối tượng. Đối với trẻ thơ, Bác chỉ mong chúng “…biết ăn biết ngủ, biết học
hành là ngoan”. Với thiếu niên, nhi đồng, Bác dạy thành 5 điều. Bác dạy mỗi
công dân nói chung phải tuân theo pháp luật, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự,
hăng hái lao động sản xuất, tiết kiệm …đối với các chiến sĩ trong quân đội,
Bác dạy phải “Trung với nước, hiếu với dân , nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,
khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đối với lực lượng
công an, Bác dạy thành 6 điều theo 6 mối quan hệ với bản thân, với đồng sự,
với chính phủ, với nhân dân, với công việc và với cả kẻ địch. Còn đối với
người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô
tư ”. Tư tưởng đạo đức của Bác Hồ thật gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng
11
cũng rất chặt chẽ, toàn diện và sâu sắc. Bên cạnh đó cũng có một số tác giả

cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết,
và đây cũng là một vấn đề mới mẻ chưa có ai nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ
chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người
hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả
nhất.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các
hoạt động của con người. Quản lý là gì? Người quản lý cần làm gì và làm như
thế nào? Đó là những câu hỏi mà hầu hết những người làm công tác quản lý
từng tự hỏi ít nhất một lần.
Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Đó là nghệ thuật
làm cho người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân
họ sẽ làm được nếu không có bạn. Còn khoa học chính là cách bạn làm thế
nào để thực hiện được nghệ thuật quản lý. Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và
giám sát là bốn điều căn bản trong khoa học đó.
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học
suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ,
nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao
nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về
quản lý.
13
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với
sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận
thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý

những dấu hiệu chủ yếu sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
rõ ràng.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính
bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy
luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và
ngược lại.
Về mục tiêu của quản lý: Là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó
mỗi con người có thể hoàn thành mục đích của mình, của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Về đối tượng của quản lý: Là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa
người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý.
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra. Sự tác
động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi,
15
phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho
tổ chức và cho cả xã hội.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Vấn đề cơ bản của quản lý GDĐĐNN cho sinh viên ở trường đại học
sư phạm là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức
thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý
giáo dục thì khái niệm trường học hiểu là tổ chức cơ sở mang tính nhà nước,
xã hội trực tiếp làm công tác Giáo dục - Đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của
đất nước.

thiết kế bộ máy và hệ thống văn bản pháp chế sao cho khoa học, đồng bộ và
có hiệu quả. Tiếp đến, cần thúc đẩy khả năng tổ chức và quản lý giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm ở trường Đại học, đồng thời, không
thể xao lãng mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý để dần thay thế cán bộ
quản lý nước ngoài trong các dự án hợp tác quốc tế. Khía cạnh thứ ba là phát
triển khả năng tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Đa
ngành là một hướng đào tạo liên hoàn, phối kết giữa các nhu cầu về chuyên
ngành đào tạo của nhà trường.
Bối cảnh hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi công tác quản lý hoạt động đào
tạo quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm phải tự điều
chỉnh về vai trò và nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Sự điều
chỉnh đó thể hiện qua hoạt động quản lý bằng các chính sách vĩ mô.
1.2.2. Giáo dục đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
1.2.2.1. Giáo dục
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục ở nước ta đều trình bày “Giáo dục
là xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người ”
17
Định nghĩa trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ,
nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, Jonh Dewey, triết gia về giáo dục có ảnh
hưởng lớn nhất về vấn đề giáo dục Mỹ ở thế kỉ XX, còn cho rằng “xã hội
không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền
dạy ấy”.
Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt thông dụng - Nxb Giáo dục-1998,
khái niệm giáo dục được giải nghĩa là “Tc động có hệ thống để con người có
thêm năng lực và phẩm chất cần thiết”. Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là hoạt
động (hay là quá trình) chuyển giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm xã hội của
thế hệ này cho các thế hệ tiếp theo nhằm hình thành và phát triển nhân cách,
đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của đời sống xã hội trong từng giai đoạn
lịch sử. Theo nghĩa hẹp, giáo dục gắn liền với quá trình hình thành và phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status