một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh - Pdf 22

LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng
hoạt
động nghiên cứu khoa học giáo dục của
sinh
viên trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ
Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước những yêu cầu về phát triển văn hóa xã hội và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII đã giao cho ngành giáo dục nhiệm vụ: “Xác
định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục, đào
tạo và đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học “
Với trách nhiệm nặng nề nhưng vô cùng quan trọng đó, các trường đại học đã khẳng
định lại mục tiêu của mình là đào tạo các nhà chuyên môn giỏi, có trình độ tri thức khoa học
vững vàng, có khả năng tư duy năng động, sáng tạo để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đòi
hỏi. Nhằm thực hiện mục tiêu đó, các trường đại học không ngừng tìm tòi các biện pháp nâng
cao chất lượng đào tạo, một trong những biện pháp quan trọng là đưa SV vào hoạt động
NCKH.
NCKH là một hình thức tổ chức dạy học đặc thù ở đại học có tác dụng giúp SV chủ
động học tập, tìm tòi sáng tạo, vừa nắm vững tri thức mới, vừa luyện tập vận dụng các
phương pháp nhận thức mới, đồng thời rèn luyện thói quen và hình thành các KNNCKH, nó
có tác dụng rất lớn đến quá trình và kết quả học tập của SV. Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức
đưa SV vào hoạt động NCKH còn nhiều khó khăn, vướng mắc, các biện pháp tổ chức chưa
đạt được hiệu quả cần phải có.
Ngày 30 tháng 3 năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 08/2000/QĐ-
BGD&ĐT ban hành Quy chế NCKH của SV các trường đại học và cao đẳng. Để góp phần
đưa quyết định này thành hiện thực trong các trường sư phạm, chúng tôi chọn vấn đề: “Một số
biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên

là phương thức tồn tại của chủ thể, là quy luật chung nhất của tâm lý người. “Hoạt động là
mối liên hệ thực tế của chủ thể với khách thể mà trong mối liên hệ này hoặc khác, cá nhân cần
tiếp thu, ghi nhớ, suy nghĩ và trở thành chăm chỉ. Trong quá trình hoạt động, ở cá nhân xuất
hiện tình cảm này hoặc khác, thể hiện phẩm chất, ý chí, hình thành tâm thế, thái độ v.v…”[63,
tr305]. Hoạt động là tính tích cực bên trong và bên ngoài của con người được điều chỉnh bởi
mục đích tự giác, gắn nhận thức và ý chí. Đối tượng và chủ thể hoạt động là thể thống nhất
hữu cơ trong suốt quá trình hoạt động.
Vận dụng lý thuyết hoạt động- nhân cách, chúng tôi thấy đưa SV vào hoạt động
NCKH sẽ giúp họ luyện tập hình thành năng lực NCKH, tạo ra nội lực, niềm tin và sức mạnh
trí tuệ.
7.1.2. Quan điểm hệ thống- cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống- cấu trúc, chúng tôi nhận thấy hoạt động NCKH bao gồm
các yếu tố sau đây:
-
-
Mục đích của hoạt động NCKHGD
Động cơ của hoạt động NCKHGD, đòi hỏi GV thực hiện các biện pháp nhằm kích
thích ở SV sự hứng thú, nhu cầu giải quyết nhiệm vụ NC.
-
Nội dung NCKHGD được quy định bởi kế hoạch đào tạo, chương trình bộ môn và
giáo trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Thao tác - hành động của hoạt động NCKH được thực hiện bằng các phương pháp,
phương tiện và hình thức tổ chức NCKH.
- Kiểm soát - điều chỉnh, đòi hỏi phải tiến hành đồng thời việc kiểm tra giải quyết các
nhiệm vụ đề ra từ phía GV và tự kiểm tra của SV.
- Đánh giá hiệu quả, đòi hỏi đánh giá của GVvà sự tự đánh giá của SV về kết quả đã
đạt được trong quá trình hoạt động NCKH.
Tất cả các yếu tố trên đây của hoạt động NCKH đều nằm trong mối liên hệ tác động
qua lại theo những quy luật nhất định.
7.1.3. Quan điểm thực tiễn

- Xác định các trọng số đo kĩ năng NCKHGD của SV qua các sản phẩm cụ thể.
- Quy trình thực nghiệm khoa học.
7.2.6. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Về lý luận:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động
NCKHGD của SV các trường đại học sư phạm.
- Xác định cấu trúc họat động NCKHGD của SV .
Về thực tế:
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động NCKHGD của SV ở trường đại học sư phạm
TP.HCM, phát hiện những nguyên nhân và hiệu quả của các biện pháp đó.
- Xây dựng quy trình rèn KNNCKHGD cho SV qua các hình thức tổ chức dạy học:
seminar, BTMH, KLTN.
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng NCKHGD qua các kĩ năng nghiên cứu
trong các sản phẩm seminar, BTMH, KLTN.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NCKH của SV là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở các trường
cao đẳng, đại học. Đây cũng là hình thức tổ chức dạy học đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả,
chất lượng đào tạo của nhà trường. Chính vì thế, việc tổ chức, rèn luyện cho SV kỹ năng hoạt
động NCKH đã trở thành vấn đề cấp thiết thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo
dục trong và ngoài nước.
1.1.1. Ở nước ngoài
Trong các trường cao đẳng, đại học ở Liên Xô trước đây, người ta coi luận văn, khoá
luận tốt nghiệp của sinh viên là hình thức NCKH ở mức độ cao. Từ những góc độ khác nhau
của quan điểm này, các giả đã chú ý đến những nội dung sau đây:
a) Về tác dụng và tầm quan trọng của NCKH thông qua việc làm niên luận, khoá luận
Năm 1971, Lubixưna M.T và Gơrôxepxki. A.A trong “Tổ chức công việc tự học của

Tuy nhiên một số vấn đề như cách tổ chức, phương pháp rèn KNNC, cách kiểm tra đánh giá
và những điều kiện khác để thực hiện việc NCKH của SV các tác giả đề cập tới nhưng còn ở
mức độ chung chung và khái quát.
1.1.1.2. Các nước khác
Ở một số nước, hoạt động NCKH của SV các trường cao đẳng, đại học cũng được
nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm. Các tác giả đã đề cập đến những vấn đề sau đây:
a) Về những kĩ năng cụ thể để giúp sinh viên trong quá trình NCKH
Ở Hoa Kỳ, năm 1963 Francesco Cordasco và Elliots S.M.Galner trong “Rescarch and
Report Writing” [15], đã chỉ dẫn những kỹ năng cụ thể để SV thực hiện công trình nghiên cứu
như lựa chọn đề tài, cách sử dụng thư viện, thu thập và cấu trúc tài liệu, các kỹ thuật kết cấu
bản báo cáo nghiên cứu… tài liệu giúp SV tránh được những sai sót khi tập dượt nghiên cứu.
b) Về việc lập kế hoạch NCKH
Ở Singapore, năm 1983 Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu: “ The
management of a student research project” [131] nhằm giúp SV biết cách quản lý kế hoạch
nghiên cứu. Theo các tác giả nếu SV quản lý được kế hoạch nghiên cứu thì họ sẽ làm chủ
công trình của mình và tất nhiên sẽ tránh được những khó khăn, vấp váp khi nghiên cứu. Các
tác giả đã trình bày trong tài liệu những vấn đề về nghiên cứu, chọn lựa và đánh giá, xây dựng
kế hoạch cho một đề tài nghiên cứu, tập hợp và phân tích dữ liệu, xử lý KQNC.
Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong “Fundamentals of educational
Research” [126], đã giúp SV và những người nghiên cứu ở mọi lĩnh vực có thể xây dựng
được cho mình một kế hoạch nghiên cứu với những phương pháp cần thiết. Trong tài liệu tác
giả đặt trọng tâm vào việc giới thiệu các các nguyên tắc, các phương pháp cũng như những
công cụ, kỹ thuật cần thiết khi nghiên cứu giáo dục. Phương pháp nghiên cứu đượctác giả
quan tâm là phương pháp mô tả, thử nghiệm.
c) Về những vấn đề lý thuyết trong NCKH
Năm 1996, Brian Allison (Singapore) trong “Research skills for students - National
institute of education” [125] đã cung cấp cho SV những lý thuyết về những KNNC, như kỹ
năng tiến hành một cuộc điều tra mẫu, thiết kế một bảng câu hỏi và những kỹ thuật khi sử
dụng phương pháp phỏng vấn
d) Về các phương pháp điều tra và đo lường

người hướng dẫn”, bỏ phí nhiều thời gian và công sức do không hiểu đầy đủ cách tổ chức và
phương pháp nghiên cứu khoa học [43]. Phan Huy Lê trong bài viết “Việc bồi dưỡng phương
pháp nghiên cứu khoa học cho SV đại học” [60], đã đề xuất cách bồi dưỡng phương pháp
nghiên cứu cho sinh viên khi giảng dạy là “kết hợp giảng kiến thức với phương pháp đưa đến
kiến thức đó” để qua bài giảng sinh viên không chỉ nâng cao kiến thức mà còn được rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng phương pháp khoa học”.
Ngoài ra, còn có một số bài viết khác như: “Công tác nghiên cứu khoa học với việc
nâng cao chất lượng đào tạo” [76] của Nguyễn Tấn Phát; “Đưa kết quả NCKHGD vào thực
tiễn trường học” [70] của Hà Thế Ngữ. Tác giả đã cho rằng việc đưa kết quả NCKHGD vào
thực tiễn trường học là một vấn đề quan trọng của phương pháp luận GDH. Giải quyết đúng
đắn vấn đề này sẽ thúc đẩy sự phát triển KHGD, đem lại những tiến bộ vững chắc cho công
tác dạy học và giáo dục, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế của NCKHGD.
Năm 1974, Hà Thế Ngữ- Đức Minh- Phạm Hoàng Gia, biên soạn tài liệu “Bước đầu
tìm hiểu phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” [71 ]. Đây là tài liệu đầu tiên ở trong
nước gợi ý về cách thức NCKHGD nhằm phục vụ đông đảo giáo viên và cán bộ giáo dục
đang nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động dạy học, giáo dục và quản lý, chỉ đạo giáo
dục.
Năm 1981, Phạm Minh Hạc và nhiều tác giả khác đã biên soạn “Phương pháp luận
khoa học giáo dục” [35], tài liệu được xuất bản trước Hội thảo lần thứ II của đề tài nghiên
cứu tập thể về Phương pháp luận và Phương pháp NCKHGD. Nội dung tài liệu trình bày có
tính chất đặt vấn đề đối với NCKHGD trong thực tiễn ở nước ta, những vấn đề cơ bản của
phạm trù và một số chuyên ngành KHGD…
Năm 1992, Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức có giáo trình “Phương pháp luận và các
phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”[50]. Các tác giả đã trình bày những khái niệm
chung về PPLKHGD, những nguyên tắc PPL và một số vấn đề có tính chất PPL của KHGD,
các PPNCKHGD và các giai đoạn nghiên cứu một đề tài KHGD.
Năm 1995, Lê Tử Thành với giáo trình “Logic học và phương pháp luận nghiên cứu
khoa học” [88 ], đã đáp ứng phần nào nhu cầu của SV, học viên cao học về kiến thức và biết
cách tiến hành việc NCKH hợp lý, hiệu quả.
Năm 1995, Nguyễn Văn Lê, trong tài liệu “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”

Có thể nói rằng, trong những giáo trình đã nêu, các tác giả đều tập trung vào việc cung cấp
cho SV kiến thức về phương pháp luận, PPNC, quy trình thực hiện và KNNCKH nói chung
và NCKHGD nói riêng, trên cơ sở đó họ có thể tổ chức và thực hiện công trình NCKH của
mình. Các tài liệu đã phần lớn đáp ứng được yêu cầu đào tạo của các trường cao đẳng, đại học
và yêu cầu của người NCKH.
Các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Lệ Thuỷ, Nguyễn Thị Hảo (1986), Cao Thị Thu
Hằng (2000), Nông Thị Hạnh (2000), đã tiến hành khảo sát thực trạng NCKHGD của SV các
trường Cao đẳng, Đại học sư phạm để trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng NCKHGD của SV. Cụ thể:
Nguyễn Thị Hảo với đề tài “Tìm hiểu quá trình hình thành kĩ năng nghiên cứu khoa học
giáo dục cho SV các trường Đại học sư phạm” [39], đã đề xuất các biện pháp hình thành cho
SV KNNCKHGD, đó là:
- Dạy lý thuyết về phương pháp NCKHGD.
- Tổ chức cho SV thực hiện các bài tập sáng tạo, là phương pháp cơ bản nhất để hình
thành cho SV hệ thống KNNC.
Nguyễn Lệ Thuy [90], với đề tài “Tìm hiểu tổ chức thực hiện khóa luận, luận văn tốt
nghiệp đại học ở khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, đã đề xuất
những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKHGD của SV, đó là:
- Tổ chức rèn KNNCKHGD cho SV sư phạm trong suốt 4 năm học.
- Tiến hành các hình thức bồi dưỡng rèn luyện KNNCKH có hệ thống.
- Tạo điều kiện về kinh phí tối thiểu dành cho SV NCKH.
Nông Thị Hạnh [38] trên cơ sở khảo sát thực trạng NCKHGD của SV trường Cao đẳng sư
phạm Cao Bằng đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKHGD của SV,
đó là:
-
-
-
-
-
-

-Nhận thức của cán bộ hướng dẫn, SV về tầm quan trọng của công tác
NCKH nói
chung và NCKHGD nói riêng.
- Các loại đề tài và số lượng SV tham gia NCKHGD.
- Các hình thức NCKHGD của SV.
- Mức độ thành thạo và chưa thành thạo về các KNNCKHGD của SV.
- Điểm số SV đạt được qua sản phẩm nghiên cứu.
- Những thuận lợi và khó khăn khi SV tham gia NCKH.
Trên cơ sở thực trạng, các tác giả đưa ra các biện pháp để nâng cao chất
lượng NCKH
nói chung và rèn KNNCKHGD nói riêng cho SV.
Ngoài các công trình nêu trên, về mặt pháp quy, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã có những
văn bản sau:
a) Quy chế về việc làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp ở các trường đại học
sư phạm
theo quyết định số 3047/ĐTBĐ, ngày 15/12/1984 [8] và kèm theo đó là thông tư
số 30, ngày
17/12/1984 [9], hướng dẫn thực hiện quy chế nêu trên. Thông tư đã hướng dẫn cụ
thể các
trường về:
-
Mục
đích, ý nghĩa và tinh
thần thực hiện quy
chế.
-
-
-
-

của SV ở tất
cả các khâu nhằm giúp các nhà quản lý, cán bộ hướng dẫn và SV thực hiện đúng
các yêu cầu
đối với công tác NCKH, rất cần thiết để nâng cao chất lượng NCKH của SV trong
các trường
cao đẳng, đại học.
Đi
ểm
lại

ng
trìn
h
của
nh
ữn
g
ng
ười
đi
trư
ớc,
ch
ún
g
tôi
thấ
y
các
tác

cũng chưa có một luận án nào nghiên cứu các biện pháp để nâng cao chất lượng NCKHGD
trong SV một cách sâu sắc về lý luận kèm theo thực nghiệm sư phạm trên diện rộng.
Tóm lại, qua tất cả các văn bản và công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước có thể thấy rằng: những vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về cơ
bản đã được giải quyết. Những thành tựu nghiên cứu của các tác giả về những vấn đề trên đã
góp phần rất lớn cho quá trình NCKH nói chung và cho SV các trường cao đẳng, đại học nói
riêng. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động NCKHGD của SV, chúng ta
cần tăng cường hơn nữa các biện pháp cụ thể và khả thi, phù hợp với thực tế dạy và học của
các trường cao đẳng, đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây cũng chính là vấn đề mà
đề tài hướng đến nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết đó.
1.2. KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1. Chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên
Theo từ điển triết học [tr 106]: chất và lượng – hai phạm trù triết học phản ánh những
mặt quan trọng của hiện thực khách quan.
Chất là tính quy định của một sự vật khiến cho nó là sự vật này, chứ không phải là sự
vật khác, và khác các sự vật khác. Chất của sự vật không phải là quy về từng đặc tính của nó.
Nó gắn với sự vật như một tổng thể, bao quát tòan bộ sự vật và không tách ra khỏi sự vật. Do
đó, khái niệm chất là gắn liền với sự tồn tại của sự vật.
Lượng là một tính quy định của sự vật mà nhờ đó ta có thể phân chia nó thành những
bộ phận cùng loại và có thể tập hợp các bộ phận đó lại làm một. Tính cùng loại (tương tự,
giống nhau) của các bộ phận hay của các sự vật là dấu hiệu tiêu biểu của lượng. Lượng không
gắn chặt với sự tồn tại của sự vật, lượng được đặc trưng bằng mối quan hệ bên ngoài với bản
chất của sự vật.
Như vậy ở góc độ là phạm trù triết học ta có thể hiểu chất lượng như sau:
Chất lượng là tổng hợp những thuộc tính của sự vật chỉ rõ nó là cái gì, làm cho nó có
tính ổn định tương đối và phân biệt nó với các sự vật khác.
Chất lượng là tính quy định khách quan của sự vật, nó biểu hiện ra ngoài thông qua
các thuộc tính, chất lượng là cái liên kết lại làm thành các thuộc tính của sư vật, xác định tính
chủ thể, toàn vẹn của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi sự vật về căn bản.
Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và

- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng ta phải xét và chỉ xét đến những đặc tính
của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Nhu cầu có thể được công
bố rõ dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không được mô
tả rõ ràng, người sử dụng chi có thể cảm nhận chúng hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng
trong quá trình sử dụng.
- Do nhu cầu luôn luôn biến đổi nên chất lượng cũng luôn biến đổi theo thời gian,
không gian và điều kiện sử dụng.
Như vây, chất lượng của một thực thể, một sản phẩm vừa có tính chủ quan vừa có tính
khách quan vì chất lượng sản phẩm không chỉ tập hợp thuộc tính bản chất của sự vật mà còn
là mức thỏa mãn những thuộc tính ấy với những yêu cầu, mục tiêu của chuẩn mực chất lượng
đã xác định, với các nhu cầu sử dụng trong những điều kiện cụ thể.
Chất lượng giáo dục
Nguyễn Thị Mỹ Lộc, trong bài: “Về khái niệm chất lượng trong giáo dục và đào tạo”,
Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo [96, tr 27,28,29] đã đưa ra các đặc trưng điển hình về
vấn đề chất lượng giáo dục là:
- Cách tiếp cận tập trung hóa cao độ về tổ chức hệ thống giáo dục – đào tạo.
- Sự thể chế hóa tòan diện với những quy định chi tiết về những vấn đề tổ chức nội bộ
cũng như các chương trình giáo dục- đào tạo.
- Những quy chế rõ ràng về nội dung và bản chất của các kỳ thi mà mà nhiều khi được
tổ chức và kiểm soát ở quy mô quốc gia.
- Chất lượng được xem xét từ quan điểm didactic, với những chủ điểm như hiệu quả
của việc dạy học và đào tạo/ huấn luyện, tính thích hợp của sự học tập linh hoạt và các
chương trình bổ trợ/ bù đắp.
- Chất lượng được xem xét từ quan điểm kinh tế (vĩ mô), với việc khảo sát đánh giá về
hồi vốn của giáo dục và đào tạo, cùng những chủ đề như hiệu quả và chi phí của quy mô giáo
dục và đào tạo.
- Chất lượng được xem xét từ quan điểm người tiêu dùng, tức là khả năng của nhà
trường (hoặc cơ sở cung ứng giáo dục đào tạo thường xuyên) đáp ứng đến mức nào những
nhu cầu cụ thể của khách hàng(cha mẹ học sinh, người hay cơ quan sử dụng lao động được
giáo dục- đào tạo và cá nhân người học) đối với việc truyền thụ - chuyển giao việc giáo dục

gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nghiên cứu
trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Nhiệm vụ
của khoa học là miêu tả hiện tượng một cách chính xác và phát hiện những quy luật khách
quan của hiện tượng ngẫu nhiên để giải thích và dự kiến chúng. Khoa học giúp con người
ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội [88, tr 117].
• PGS. Phạm Viết Vượng trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”
[119, tr17] cho rằng khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tuỳ theo mục đích
nghiên cứu và cách tiếp cận, ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau, ở mức độ
chung nhất, khoa học được hiểu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status