Ứng dụng hóa mô miễn dịch trong nghiên cứu ung thư vú tại bệnh viện ung bướu nghệ an - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ TUYỂN ỨNG DỤNG HÓA MÔ MIỄN DỊCH TRONG
NGHIÊN CỨU UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH
VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60. 42. 01. 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
TS. NGUYÊN THỊ GIANG AN
TS. NGUYỄN QUANG TRUNG

Nghệ An-2014
: LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ khóa
học 2012- 2014, tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy, các cô, các
anh chị em đã luôn bên cạnh, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian qua.
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn tới các thầy, các cô khoa Sinh học đã định
hướng và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu cho sau này.
Xin được gửi đến lòng biết ơn và kính trọng tới người thầy là TS.BS. Nguyễn
Quang Trung- GĐ Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và người cô là TS. Nguyễn Thị
Giang An đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm cho tôi

1.2.3. Các yếu tố nguy cơ 10
1.4. Đặc điểm sinh học phân tử của ung thư vú 12
1.4.1. Protooncogen 12
1.4.2. Các yếu tố thụ thể nội tiết progesterone và estrogen 13
1.4.3. Gene sinh ung thư Her2/neu (ERB_B2) 14
1.5. Phân loại ung thư biểu mô tuyến vú 17
1.3.1. Phân loại TNM ung thư biểu mô tuyến vú 17
1.3.2. Phân loại mô học các ung thư biểu mô vú theo WHO năm 2003 19
1.6. Đặc điểm một số loại ung thư biểu mô tuyến vú thường gặp 21
1.4.1. Ung thư không xâm nhập (bao gồm cả bệnh Paget) 21
1.4.2. Ung thư biểu mô thể ống xâm nhập 22
1.4.3. Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập 22
1.4.4. Ung thư biểu mô ống nhỏ 22
1.4.5. Ung thư biểu mô thể tủy 22
1.4.6. Ung thư biểu mô thể nhầy 23

1.7. Đặc điểm độ mô học của ung thư vú 23
1.8. Phân loại các nhóm phân tử ung thư vú 24
1.9. Hóa mô miễn dịch 26
1.7.1. Lược sử phát triển 26
1.7.2. Nguyên lý của phương pháp HMMD 27
1.7.3. Các kỹ thuật nhuộm miễn dịch men 29
1.7.4. Yêu cầu 29
1.7.5. Ý nghĩa 29
1.7.6. Vai trò của HMMD trong chẩn đoán ung thư vú 30
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.1. Đối tượng 31
2.1.2. Thời gian 31
2.1.3. Địa điểm 31


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

(-) : Âm tính
(+) : Dương tính
BN : Bệnh nhân
BP : Bệnh phẩm
ER : Estrogen Receptor
GPB : Giải phẫu bệnh
H.E : Nhuộm Hematoxylin Eosin
HER2/NEU : Human Epiderman growth factor receptor 2
HMMD : Hóa mô miễn dịch
KN : Kháng nguyên
KT : Kháng thể
MBH : Mô bệnh học
NST : Nhiễm sắc thể
PR : Progesteron receptor
SL : Số lượng
TL : Tỉ lệ
TV : Tuyến vú
UTBM : Ung thư biểu mô
UTV : Ung thư vú
WHO : World Health Orinization DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Tỷ lệ nữ mắc UTV ở Hà Nội giai đoạn 1996 – 1999
Bảng 1.2 Bảng phân loại TNM các giai đoạn UTV
Bảng 1.3 Phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (2003).

Hình 1.7 Nguyên lý của phương pháp HMMD
Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
Hình 2.2 Sơ đồ mô tả quy trình nhuộm HMMD
Hình 2.3 Thang điểm đánh giá ER, PR theo Alldred
Hình 2.4 Đánh giá Her-2/neu theo tiêu chuẩn Dako.
Hình 3.1 Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo tuổi
Hình 3.2 Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo vị trí u
Hình 3.3 Biểu đồ phân bố loại mô học theo độ tuổi
Hình 3.4 Một số loại UTBM tuyến vú
Hình 3.5 Phân độ mô học của UTBM tuyến vú thể ống xâm nhập
Hình 3.6 Kiêu hình phân nhóm ER/PR(+), Her-2/neu(+)
Hình 3.7 Kiểu hình phân nhóm ER/PR(+), Her-2/neu(-)
Hình 3.8 Kiểu hình phân nhóm ER/PR(-), Her-2/neu(+)
Hình 3.9 Kiểu hình phân nhóm ER/PR(-), Her-2/neu(-)

1

MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ung thư vú (UTV) là một trong những ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ tại
Việt Nam cũng như trên thế giới. Ở Châu Âu, năm 2006 có khoảng 3,2 triệu người
được chẩn đoán ung thư và 1,7 triệu người tử vong do ung thư. Trong đó, ung thư
vú chiếm tỷ lệ cao nhất (13,5%) [71]. Ở Việt Nam, tỷ lệ ung thư vú có xu hướng
ngày một tăng dần: Theo Nguyễn Bá Đức, ở Hà nội năm 1998 có 20,3/100.000 phụ
nữ mắc bệnh, vào các năm 2001- 2004 tăng lên 29,7/100.000. Tại thành phố Hồ Chí
Minh, theo Nguyễn Chấn Hùng, tỷ lệ này lần lượt tăng từ 11,7/100.000 (1997); đến
19,4/100.000 (2003). Ung thư vú từ vị trí thứ hai sau ung thư cổ tử cung vào những
năm cuối của thế kỷ trước, năm 2003 đến nay đã trở thành loại ung thư thường gặp
nhất [15].
Ung thư vú ngày càng phổ biến và để lại những hậu quả nghiêm trọng nhưng

Đánh giá sự biểu hiện của các marker phân tử thông qua hóa mô miễn dịch để
hỗ trợ việc chẩn đoán, phân loại ung thư biểu mô tuyến vú, nhằm tiên lượng và định
hướng điều trị cho những bệnh nhân ung thư vú.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu các đặc điểm chung về ung thư vú
- Tuổi mắc bệnh, giới, vị trí u, kích thước u, tình trạng di căn hạch nách.
- Xác đinh loại mô bệnh học và độ mô học của ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập.
2. Nghiên cứu hóa mô miễn dịch
- Quy trình kĩ thuật hóa mô miễn dịch tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
- Đánh giá sự biểu hiện của 3 marker chính: ER (Estrogene receptor), PR
(Progesterone receptor), Her-2/neu (Human epidermal growth factor receptor 2).
- Đánh giá mối tương quan giữa sự biểu hiện của các marker với nhau và với
các yếu tố lâm sàng.
- Phân nhóm phân tử ung thư vú dựa vào sự biểu hiện của các marker và định
hướng điều trị.
3 CHƯƠNG 1
TỒNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ung thư vú trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Ung thư vú là căn bệnh phức tạp, để lại những hậu quả nghiệm trọng đối với
bệnh nhân. Trong nhiều thập kỷ qua, việc nghiên cứu về các đặc điểm lâm sàng, mô
bệnh học và đặc biệt về sinh học phân tử UTV vẫn đang là những thách thức lớn
đối với các nhà nhà giải phẫu học. Năm 1925, trên cơ sở nghiên cứu về bệnh học vi
thể, Greenhough lần đầu tiên phân tích mức độ biệt hóa tế bào UTV thành 3 mức độ
ác tính và chỉ ra được mối liên quan rõ rệt giữa mức độ ác tính với kết quả lâm sàng
[24]. Trên cơ sở đó, nhiều hệ thống phân độ mô học ra đời. Năm 1957, Bloom and
Richardson đã phân độ mô học trên 1409 đối tượng bệnh nhân mắc UTV và 359

nội tiết dương tính ít có khả năng biểu hiện của Her2 dương tính và giải thích vì sao
khối u Her2 dương tính không đáp ứng với điều trị hormone [63], [45]. Trong
nghiên cứu của Konecny G.E và cs (năm 2004) cho thấy một điều khá thú vị về sự
biểu hiện quá mức Her2 có sự tương quan đáng kể với sự biểu hiện của các dấu ấn
sinh học khác trong UTV như yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF)…
Năm 2000,Perou và cs đã thực hiện nghiên cứu biểu hiện gen42 bệnh nhân
UTV với 8102 gen đã được khảo sát bằng kỹ thuật DNA microarray trong ung thư
vú. Kết quả đã được công bố trên tạp chí Nature cho thấy có thể phân loại UTV
thành các nhóm phân tử khác nhau dựa vào sự khác biệt về biểu hiện gen. Từ
nghiên cứu ban đầu của Perou, nhiều nghiên cứu đã khảo sát sự biểu hiện gen trên
microarray và tìm thấy được sự tương ứng giữa biểu hiện gen và biểu hiện của các
dấu chứng sinh học qua phương pháp HMMD. Trên cơ sở đó, nhiều công trình đưa
ra phân loại phân tử UTVvà đánh giá các phân nhóm này với tuổi, giai đoạn bệnh,
độ mô học, phương pháp điều trị và đánh giá tỷ lệ rủi ro cũng như thời gian sống
của bệnh nhân sau điều trị (Carey LA, Onitilo AA (năm 2009), Fiona M. và cs (năm
2010)) [25], [43], [57].
1.1.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư vú có xu hướng tăng dần. Việc
ứng dụng những thành tựu của công nghệ y sinh, tiếp thu và kế thừa kết quả trên thế
giới vào việc nghiên cứu ung thư vú đã đem lại những lợi ích điều trị cho những
bệnh nhân mắc UTV. Các đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng mắc ung thư vú,
các yếu tố nguy cơ, các đặc điểm lâm sàng, mô học như: “Nghiên cứu mô học, hóa
mô miễn dịch và siêu cấu trúc ung thư biểu mô vú” của Nguyễn Đăng Đức (1998);
“Nghiên cứu chuẩn đoán và điều trị ung thư vú giai đoạn I-III ở phụ nữ tại bệnh
viện Đa khoa Cần Thơ”của Nguyễn Sào Trung (năm 2007)…
Kỹ thuật hóa mô miễn dịch đã và đang được triển khai ở một số cơ sở y tế lớn
trên cả nước như bệnh viện K Hà Nội, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Ung bướu
Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Việt Đức thu hút được sự quan tâm của các
nhà khoa học trong nước trong lĩnh vực ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng.
Tuy số lượng các công trình nghiên cứu không nhiều nhưng đã tập trung nghiên cứu

Hình 1.1 Cấu tạo vú khỏe mạnh ở người trưởng thành
(Nguồn:http://www.studyblue.com/notes/note/n/breastanatomy/deck/7004653)
Khi bắt đầu có kinh nguyệt, các ống dẫn tự dài ra và phân nhánh, phần mô
đệm tăng sản mạnh, đặc biệt ở các nhánh tận tạo ra các chùm, các túi của tiểu thùy
vú. Do vậy, tuyến vú phát triển mạnh về kích thước. Trong thời kỳ kinh nguyệt có
sự co rút của các ống dẫn, kèm với hiện tượng teo đét và tróc các tế bào biểu mô.
Sau kinh nguyệt, hiện tượng tăng sản trở nên rõ ràng, có sự phát triển mạnh của các
ống dẫn và tăng số lượng tế bào biểu mô, còn mô đệm quanh ống dẫn bị phù với
một ít tế bào nhuộm màu nhạt. Sự tăng quá mức của các tế bào hình trụ trước khi có
kinh được kết thúc bằng hoạt động “chế tiết non”. Trong lúc biểu mô tăng sản thì
mô đệm quanh ống dẫn mềm hơn và giảm thiểu thể tích đáng kể, nhất là khi có chế
tiết. Ngược lại, khi biểu mô thoái triển thì mô liên kết tăng sản và thay thế vùng mà
ống dẫn và các tiểu thùy chiếm lúc trước [3].
7

Trong ba tháng đầu của thai kỳ có sự tăng sản tế bào biểu mô, ống dẫn và tiểu
thùy. Mô đệm quanh ống dẫn mềm và ít bắt màu hơn. Khi thai tới đúng kỳ, các tế
bào biểu mô chuyển thành các tế bào mỡ. Các tế bào mỡ rơi vào ống sữa cho ra sự
chế tiết sữa đầu tiên. Khi cho con bú, các tế bào cũng thay đổi do sự thay đổi của
các tiểu thùy, dưới ảnh hưởng của hormon progesterone (nội tiết tố hoàng thể),
hormon prolactin (nội tiết tố sinh sữa) của tuyến yên. Khi cai sữa, các tiểu thùy và
ống dẫn thoái triển, teo đét lại trong lúc mô đệm liên kết cũng không phát triển làm
cho tuyến vú xẹp và mềm.
Các nang tuyến phát triển gần hoàn chỉnh trong thời gian thai kì và bắt đầu tiết
sữa khi gần kết thúc thai kì. Vào thời kỳ mãn kinh, các tế bào chết tiết của tiểu thùy
và các tế bào biểu mô ống dẫn teo đét dần từ ngoại biên đến núm vú. Mô đệm cũng
mất bớt tế bào và trở nên dày.

Hình 1.2 Cấu trúc vi thể mô vú bình thường.
(Nguồn: Junqueira’s Basic Histology: Text and Atlas, 12

sinh dục lưu hành và hoạt động của biểu mô cũng giảm xuống. Sau khi hết kinh,
phù nhu mô giảm xuống, sự xẹp biểu mô ngừng lại và bắt đầu một chu kỳ mới với
sự tăng nồng độ estrogen [27].
Những thay đổi tốc độ phát triển mô vú có tính chất chu kỳ liên quan đến sự
thay đổi hormon trong pha nang trứng và pha hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt.
Những thay đổi này có thể đo và quan sát được dựa vào các thông số của tế bào và
nhân: mô học, hình thái tế bào (vùng nhân, chu vi, hạt nhiễm sắc, mức độ bắt màu),
hình thái nhân, phân bào, bắt giữ Tritiated thymidine, các marker của sự tăng sinh:
Ki-67, PCNA, MIB-I [27].
1.3. Dịch tế học, các yếu tố nguy cơ ung thư vú
1.3.1. Khái niệm về ung thư
Ung thư là sự tăng sản tế bào vô hạn độ và có thể xâm lấn vào các tổ chức
xung quanh và di căn đi nơi khác [3], [5].
Ung thư vú là sự tăng sản bất thường của các tế bào biểu mô các nang, ống
dẫn sữa, gây phá vỡ cấu trúc mô tuyến vú, xâm lấn mạch máu, mạch bạch huyết từ
đó di căn xa và phát triển tới các hạch, các tổ chức khác trong cơ thể, tiếp tục phá
hủy, gây chảy máu và hoại tử và cuối cùng là mang đến sự chết [27].
9 Hình 1.3 Ung thư biểu mô ống tuyến vú.
(Nguồn http://www.breastcancer.org)
1.3.2. Dịch tễ học ung thư
1.3.2.1.Trên thế giới
Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 ung thư vú
đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới.
Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04
(trên 100.000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100.000 dân) trên toàn thế giới vào
năm 1998, cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới [23]. Theo Parkin D.M và cs, ở
các nước phát triển, UTV đứng hàng thứ tư trong số các loại ung thư hay gặp, hàng

50-59
60-69
70-79
>80
Tỷ lệ mắc
0,2
4,3
21,1
119,7
142,1
112,5
110,3
24,7
(Dịch tễ học ung thư vú, [24])
Theo ghi nhận ung thư tại cộng đồng, tỷ lệ mắc UTV tại Việt Nam có xu
hướng tăng dần: Theo Nguyễn Bá Đức, ở Hà nội năm 1998 có 20,3/100.000 phụ nữ,
vào các năm 2001- 2004 tăng lên 29,7/100.000. Theo Nguyễn Chấn Hùng, ở Thành
phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ này lần lượt tăng từ 11,7 (năm 1997); 16,1 (năm 1998); 19,2
( năm 1999) đến 19,4/100.000 (năm 2003). Ung thư vú từ vị trí thứ hai, sau ung thư
cổ tử cung vào những năm cuối của thế kỷ trước đã trở thành loại ung thư thường
gặp nhất từ năm 2003 cho đến nay (Nguyễn Chấn Hùng, 2006)[15].
Trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, cơ chế bệnh
sinh và hiệu quả điều trị UTV. Trong đó việc phát hiện sớm UTV bằng nhiều
phương pháp (chụp tia X vú, siêu âm, xét nghiệm công thức máu…), đặc biệt xét
nghiệm mô bệnh học được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán ung thư nói
chung và UTV nói riêng. Ngày nay hóa mô miễn dịch đã đóng vai trò hỗ trợ quan
trọng cho mô bệnh học trong việc phân loại, xác định nguồn gốc, tiên lượng kết quả
nhằm góp phần định hướng điều trị và làm giảm tỷ lệ tử vong.
1.3.3. Các yếu tố nguy cơ
Những yếu tố có khả năng gây ra biến đổi ở người phụ nữ dẫn đến sự phát

các tế bào biểu mô vú bình thường và các tế bào ung thư chế tiết. Các nhân tố
progesterone và estrogen thường hiện diện ở các tế bào biểu mô và ở các tế bào u,
tương tác với yếu tố hoạt hóa tăng trưởng như nhân tố chuyển hóa tăng trưởng α,
nhân tố tăng trưởng tiểu cầu, nhân tố tăng trưởng nguyên bào sợi…dẫn tới sự phát
sinh khối u [49], [68].
1.3.3.5. Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường bao gồm thực phẩm, thuốc reserpin, cafein, rượu, thuốc
xịt tóc…đặc biệt sự chiếu xạ và estrogen ngoại sinh. Ảnh hưởng của yếu tố môi
trường tới tỷ lệ mắc UTV khác nhau tùy thuộc vào nhóm hormone di truyền và sự
khác biệt về điều kiện địa lý khác [54].
12

1.3.3.6. Sự bức xạ ion hóa
Sự bức xạ ion hóa làm tăng nguy cơ mắc UTV. Điều này phụ thuộc vào lượng
bức xạ, thời gian chiếu bức xạ và độ tuổi. Chỉ những phụ nữ ở độ tuổi dưới 30 tuổi
hoặc trong thời kì phát triển vú có nguy cơ bị ảnh hưởng cao [61].
1.3.3.7. Sử dụng thuốc tránh thai và điều trị các hormone thay thế
Nếu dùng thuốc tránh thai trên tám năm, nguy cơ mắc UTV tăng 1,7 lần, còn
nếu dùng trên mười năm thì nguy cơ tăng 4,1 lần. Dùng hormone thay thế ở phụ nữ
mãn kinh là an toàn khi dùng trong thời gian ngắn. Nhưng dùng với liều trung bình
trong thời gian từ 10 – 20 năm nguy cơ mắc UTV tăng từ 1,5 – 2,0 lần [61].
1.4. Đặc điểm sinh học phân tử của ung thư vú
Có rất nhiều yếu tố tác động vào sự phát sinh và tiến triển của UTV bao gồm
sự kết hợp của yếu tố nội tiết, yếu tố phát triển, và đặc biệt sự biểu hiện của một số
gen. Các gen đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển ung thư bao gồm sự
phân chia tế bào, biệt hóa, tạo mạch máu xâm lấn và chết tế bào. Quá trình này liên
quan chặt chẽ tới tổn thương của hai nhóm gen: gen sinh ung thư (Oncogen) và gen
áp chế ung thư (tumor suppressor gene). Cả hai gen này luôn tồn tại trong tế bào
bình thường và đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát quá trình sinh sản của tế
bào, sự biệt hóa tế bào, quá trình chết theo chương trình của tế bào (appotosis).

- Giữ vai trò như là yếu tố điều hòa sự biệt hóa.
Có 3 thời điểm thay đổi nồng độ chế tiết estrogen trong đời sống phụ nữ gắn
liền với nguy cơ UTV là tuổi có kinh, tuổi sinh con đầu lòng đủ tháng và tuổi mãn
kinh. Khoảng 2/3 trường hợp ung thư vú có ER(+), nhưng u này có khuynh hướng
phát triển chậm, biệt hóa tốt hơn và sau điều trị, thời gian sống không còn bệnh ung
thư dài hơn [58].Khoảng 50%-70% bệnh nhân bị tái phát có tiền sử ER(+), được
điều trị nội tiết tố so với chỉ 5% bệnh nhân có khối u âm tính với ER cho thấy mối
tương quan mạnh mẽ giữa sự tăng trưởng của khối u vú với sự hiện diện của ER.
Tuy nhiên thời gian đáp ứng còn hạn chế do sự tiến triển của ER không phụ thuộc
vào tình trạng khối u. Bệnh nhân có ER(+) có diễn biến lâm sàng, tiên lượng tốt hơn
và thời gian sống không còn bệnh dài hơn bệnh nhân có ER(-). Vì vậy, việc xác định
lượng ER có trong mô UTV rất cần thiết trong việc lựa chọn chế độ điều trị khi có
di căn hoặc dự đoán tiên lượng [58].
Progesterone: Trong mô tuyến vú bình thường, khoảng 15-30% tế bào biểu
mô vú có sự biểu hiện PR. Các nghiên cứu cho rằng progesterone gián tiếp kiểm
soát số lượng và hoạt động của tế bào vú bình thường thông qua tín hiệu cận tiết từ
các chất truyền tin được chế tiết bởi các tế bào biểu mô tuyến vú lân cận có PR(+).
Trong ung thư giai đoạn tiền ác tính và tiền xâm lấn, sự biểu hiện của PR tăng lên
không điển hình [70]. Khoảng 60% UTV xâm lấn có PR(+). Sự hiện diện hay vắng
mặt của các thụ thể progesterone có ý nghĩa trong việc tiên đoán đáp ứng điều trị nội
tiết đồng thời phản ánh vai trò quan trọng của ER trong hoạt động sao mã của PR.
Khoảng 50% trường hợp ung thư vú có đồng thời cả ER(+), và PR(+). Nếu cả hai
dương tính thì tỷ lệ đáp ứng điều trị nội tiết là 75%. Ngược lại, ER(+) và PR(-), tỷ lệ
14

đáp ứng khoảng 27%. Trong trường hợp ER(-), nhưng PR(+), tỷ lệ điều trị đáp ứng
nội tiết là 46%. Hầu hết những trường hợp ER(-), PR(-) không đáp ứng với điều trị
nội tiết [26].
1.4.3. Gene sinh ung thư Her2/neu (ERB_B2)
Cho đến nay, có 4 gen Her đã được phát hiện, mỗi gen nằm trên 1 nhiễm sắc

nhau có thể bắt cặp với nhau thành từng cặp đồng loại Her1- Her1, Her2- Her2
hoặc dị loại Her- Her2, Her2- Her3 nhưng cặp không có chứa Her2 rất hiếm hoặc
không bao giờ tồn tại như Her3- Her4. Sự bắt cặp của 4 thụ thể Her tạo ra khoảng
15

10 cặp thụ thể Her khác nhau. Cặp thụ thể dị loại bền vững hơn cặp thụ thể đồng
loại. Việc bắt cặp với nhau của các thành viên trong họ là rất cần thiết cho sự hoạt
hóa chuỗi tín hiệu về phía nhân tế bào. Trong nghiên cứu về con đường truyền tin
của ung thư vú, đóng vai trò quan trọng là cặp dị loại Her2- Her3 được xem là cặp
tín hiệu đặc biệt mạnh trong các trường hợp UTV có Her2 dương tính ở giai đoạn
đầu [60].
Khi thụ thể Her2 biểu hiện quá mức trong tế bào ung thư, sẽ làm gia tăng sự
hình thành các cặp thụ thể dị loại có Her2, kéo theo tăng khả năng gắn kết giữa chất
truyền tin và thụ thế gây kích hoạt phân bào, đồng thời làm tăng tần suất truyền tin
nội bào sẽ gây tăng dòng thác phân bào. Phối hợp hai đặc điểm trên là một trong
những cơ chế quan trọng của hiện tượng sinh ung thư. Hình 1.4 Cấu trúc không gian thụ thể Her2 và sự kết cặp của các
thành viên thuộc họ thụ thể Her2
(Nguồn http://www.biooncology.com/)
16

Cơ chế bắt cặp của các thụ thể rất quan trọng vì các cặp thụ thể khác nhau sẽ
hỗ trợ hệ thống truyền tin tạo ra các thông tin sinh học đa dạng, khác nhau. Trong
đó, mặc dù thụ thể Her2 không có chất truyền tin đặc hiệu nhưng lại giữ vai trò quan
trọng trong cả hệ thống truyền tin Her2. Con đường truyền tín hiệu chính bao gồm:
con đường Ras/activated protein kinase, PI3K/Akt, con đường chuyển đổi tín hiệu
và kích hoạt sao chép, tất cả con đường đều tác động lên sự phát triển, sự sống còn,
sự di chuyển và sự bám dính tế bào ung thư [60], [73 ].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status