BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGOẠI THƯƠNG
TÌM HIỂU VỀ QUY TRÌNH GIAO
NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
NGUYÊN CONTAINER TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN VINAFREIGHT
DANH SÁCH NHÓM 1C:
1. ĐINH THỊ THANH XUÂN
2. TRƯƠNG THỊ QUỐC TÚ
3. TRẦN HỮU SƠN
4. DƯƠNG THỊ THANH KIM
THÁNG 06 NĂM 2015
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Hội nhập quốc tế đang là xu thế tất yếu và đặc trưng quan trọng của thế giới
hiện nay. Trong bối cảnh xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc giao
lưu trao đổi hàng hóa giữa các nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ, kéo theo những
nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ,… Cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học – công nghệ, Logistics có cơ hội phát
triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh và trở thành một ngành
dịch vụ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh
tế. Trong hai thập niên vừa qua, ngành Logistics Việt Nam đã phát triển nhanh
chóng, từ cơ sở hạ tầng (cảng biển, giao thông tủy, hàng không, ) đến kiến trúc
thượng tầng (hệ thống pháp luật về Logistics, ) đã tạo ra những thuận lợi cho
phát triển trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ Logistics cũng có điều kiện phát triển lớn mạnh hơn.
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay đã có khoảng 1.000 doanh nghiệp hoạt
động logistics tại Việt Nam. Công nghệ quản trị hiện đại về chuỗi cung ứng cũng
đã được áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu
nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil,… đều không còn giữ được
phong độ phát triển lạc quan như khoảng 3 – 5 năm trước, quan hệ về đầu tư và
xuất nhập khẩu của các nước với Việt Nam về cơ bản chưa có gì khởi sắc. Những
điều trên làm cho sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua
hạn chế, nợ công nhiều hơn, và ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động
dịch vụ Logistics ở Việt Nam.
Mặc khác, các doanh nghiệp kinh doanh Logistics hiện nay của Việt Nam
phần lớn là các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) nhỏ và vừa nên cũng chưa
có năng lực đủ mạnh để tham gia vào hoạt động Logistics toàn cầu. Thêm vào đó
là tính liên kết giữa các doanh nghiệp còn yếu nên làm giảm sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp Logistics Việt Nam đối với các tập đoàn Logistics nước ngoài.
Vì thế, mặc dù giá cả cho dịch vụ Logistics tại Việt Nam so với một số nước
khác trên thế giới là tương đối rẻ nhưng chất lượng của dịch vụ lại chưa cao và
phát triển chưa bền vững. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực phục vụ hoạt động
Logistics chưa được đảm bảo, cơ sở vật chất kĩ thuật tại các công ty vẫn còn
nhiều hạn chế, tính cạnh tranh gay gắt của thị trường khá cao (giữa công ty
Logistics với công ty Logistics, giữa công ty Logistics với hãng tàu, giữa các
công ty Logistics nội địa với các công ty Logistics nước ngoài).
Đứng trước tình hình đó, để có thể tồn tại cũng như giữ vững vị thế của mình,
và không ngừng phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các
doanh nghiệp Logistics của Việt Nam phải từng bước hoàn thiện và phát triển
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, chất lượng dịch vụ giá cả cạnh tranh của bản
thân công ty. Vinafreight là một công ty có thế mạnh cũng như được biết đến khá
nhiều trong ngành vận tải giao nhận. Tuy nhiên, vẫn chưa phát triển mạnh về lĩnh
Trang 3
vực Logistics một cách triệt để. Chính vì thế, việc đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh dịch vụ Logistics của công ty để có thể ngày càng phát triển hơn khi Việt
Nam đang dần mở cửa và hội nhập thế giới là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết.
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động giao nhận hàng hóa nên nhóm em
quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu về quy trình giao nhận hàng hóa nhập khầu
- Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan tới
tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay
dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Ở đây nguồn tài nguyên
không chỉ bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông
tin, bí quyết công nghệ,…
- Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất liên
quan đến vấn đề vị trí, còn cấp độ thứ hai liên quan đến vấn đề vận chuyển và
lưu trữ.
Ngoài các định nghĩa được nêu trên, trong thực tế còn tồn tại một số định nghĩa
khác cũng khá phổ biến như:
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch
nhằm quản lý nguyên nhiên liệu, dịch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn…
nó bao gồm cả những hệ thống thông tin ngày càng một phức tạp, sự truyền
thông và hệ thống kiểm soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân
lực và nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc,…
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình
lưu chuyển và dự trữ hàng hóa, dịch vụ,… từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi
tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các
hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Trang 5
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch và thực hiện những lợi ích
và công dụng của các nguồn tài nguyên cần thiết nhằm giữ vững hoạt động
của toàn bộ hệ thống,…
- Theo Hội đồng Quản trị Logistics của Mỹ: “Quản trị Logistics là quá trình
hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự
trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng
dòng thông tin tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối
cùng nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng.”
khác nhau. Thông thường việc lưu kho hàng hóa được chia thành 3 loại là:
lưu kho hàng hóa thông thường, lưu kho hàng lạnh và lưu kho hàng hóa
giá trị cao.
- Kho bãi nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng
hoá trong suốt quá trình lưu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây
truyền cung ứng, đồng thời cung cấp những thông tin về tình trạng và điều
kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hoá bị lưu kho.
- Hiện nay dịch vụ kho ngoại quan đang ngày càng chứng tỏ ưu thế của
mình trong giảm chi phí, đặc biệt là rút ngắn thời gian vận chuyển hàng.
Đặc điểm:
- Dịch vụ kho bãi phụ thuộc rất lớn và nhu cầu khách hàng nên hoạt động
dịch vụ có thể diễn ra thất thường, không liên tục.
- Khối lượng hàng gửi qua kho phụ thuộc vào tuyến đường và phương tiện
chuyên chở. Nếu phương tiện chuyên chở tiện lợi và liên tục thì nhu cầu
gửi hàng sẽ tăng.
1.2.1.2 Dịch vụ đại lý vận tải
Đây là cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một đại lý của
người chuyên chở hoặc cũng có thể là đại lý của người gửi hàng như đại lý tàu
biển, đại lý hàng không,…
- Đại lý tàu biển là dịch vụ mà người đại lý tàu biển nhân danh chủ tàu hoặc
người khai thác tàu tiến hành các dịch vụ liên quan đến tàu biển hoạt động
tại cảng, bao gồm:
+ Việc thực hiện các thủ tục tàu biển vào, rời cảng;
+ Ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp
đồng bốc dỡ hàng hoá, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng thuê thuyền
viên;
+ Ký phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương;
+ Cung ứng vật tư, nhiên liệu, thực phẩm cho tàu biển;
+ Trình kháng nghị hàng hải; thông tin liên lạc với chủ tàu hoặc
người khai thác tàu;
kiểm soát hệ thống Logistics, với hệ thống xử lý đơn hàng là trung tâm.
Trang 8
1.2.2.3 Dịch vụ khách hàng
- Dịch vụ khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu được thực hiện tốt,
chúng không chỉ giúp doanh nghiệp giữ chân được khách hàng cũ mà có
thể lội kéo, thu hút thêm được khách hàng mới. Đây chính là điểm mấu
chốt giúp các doanh nghiệp đứng vững trên thương trường và thành công
Ngoài các dịch vụ trên, còn có các dịch vụ khác như: dịch vụ vật tải đường sắt,
dịch vụ vận tải đường bộ, và các dịch vụ bổ trợ khác.
1.3 Đặc điểm của dịch vụ Logistics
Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu
tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động
liên tục từ hoạch định, quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa,
thông tin, vốn… trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm. Người
ta không tập trung vào một công đoạn nhất định mà tiếp cận với cả một quá trình,
chấp nhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng tổng chi phí có khuynh hướng
giảm. Trong quá trình này, Logistics gồm 2 bộ phận chính là Logistics bên trong
sản xuất và Logistics bên ngoài sản xuất.
Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho
bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thỏa mãn khách
hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi ra, đi vào, bên ngoài và bên trong
của cả nguyên vật liệu thô và thành phẩm.
Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan tới
tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay
dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ
bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết
công nghệ…
Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các
vấn đề được đặt ra là vị trí: phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành
quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay
đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên
vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,… Logistics giúp tiết kiệm và giảm chi phí trong lưu
thông phân phối, tăng khả năng canh tranh cho doanh nghiệp.
Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và
tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh, đặc biệt trong buôn bán và vận tải
quốc tế.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm tăng
cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn
nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị
trường tiêu thụ thông qua nhiều kêng phân phối khác nhau,… Thêm vào đó
doanh nghiệp còn chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn
kho và giao hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất.
Trang 10
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Logistics được xem là công
cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hóa và tập
trung.
Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, Logistics còn là hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là
marketing hỗn hợp. Logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến
đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp.
1.5 Chức năng của dịch vụ Logistics.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các dịch vụ logistics có các chức năng
sau:
- Các dịch vụ logistics thực hiện chức năng hỗ trợ cho quá trình sản xuất cũng
như quá trình phân phối lưu thông hàng hoá tới người tiêu dùng cuối cùng
cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Muốn sản xuất ra các sản phẩm
thì phải cần đến các yếu tố đầu vào như nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết
bị, nhân công Trong điều kiện kinh tế hiện nay, các nguồn cung cấp các yếu
giới Từ đó gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện
chính sách mở cửa nền kinh tế.
1.6 Nhiệm vụ của dịch vụ Logistics
Nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp bằng cách thoả mãn đầy
đủ, kịp thời và thuận lợi các yếu tố đầu vào, đầu ra cũng như trong quá trình sản
xuất của doanh nghiệp. Khi có nhu cầu từ phía các doanh nghiệp, các nhà cung
ứng dịch vụ logistics phải đảm bảo sao cho cung cấp đầy đủ, kịp thời, có chất
lượng đáp ứng các yêu cầu để thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp trong sản xuất
cũng như hoạt động phân phối sản phẩm đến với người tiêu dùng, đồng thời giúp
doanh nghiệp cắt, giảm các chi phí không cần thiết.
Phát triển dịch vụ logistics, đảm bảo quá trình sản xuất, phân phối lưu thông
hàng hoá trên thị trường được thông suốt, dễ dàng.
Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của đất nước:
vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế
quốc dân.
Góp phần hoàn thiện bộ máy quản lý và kinh doanh của doanh nghiệp thông
qua các hoat động tư vấn quản lý, tư vấn sản xuất kinh doanh.
Phát triển lĩnh vực thương mại quốc tế với các quốc gia trên thế giới thông
qua các hoạt động vận tải ngoại thương, tư vấn ngoại thương
1.7 Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý cho việc giao nhận hàng hóa nhập khẩu gồm các quy phạm pháp
luật của nhà nước Việt nam
1.7.1 Công ước quốc tế
Công ước viên 1980 – công ước liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế
được phát triển bởi Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương Mại Quốc Tế.
Trang 12
Các công ước vận tải như:
- Công ước quốc tế để thống nhất một số nguyên tắc về vận đơn đường biển
ký tại Brussel ngày 24/08/1924 còn được gọi là nguyên tắc Hague. Công
ước cho đến nay đã được chỉnh lý 2 lần, lần thứ nhất vào năm 1968 tại
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
VINAFREIGHT
2.1 Lịch sử hình thành
2.1.1 Sơ lược về công ty Vinafreight
- Tên tiếng Việt: Công ty Cổ phần Vinafreight
- Tên tiếng Anh: Vinafreight Joint Stock Corporation.
- Tên giao dịch: Vinafreight
- Tên viết tắt: Vinafreight
- Logo:
- Công ty là công ty cổ phần có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp luật hiện
hành của Việt Nam. Tổng giám đốc điều hành là đại diện pháp luật của công
ty.
- Trụ sở đăng ký của Công ty: Văn phòng công ty
• Địa chỉ: A8, Trường Sơn, Phường 2, Quận Tân Bình, TpHCM.
• Điện thoại: 84.8 844 6409
• Fax: 84.8 844 7813
• Email: [email protected]
• Website: www.vinafreight.com
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Vinafreight
- Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Vinafreight được thể hiện ở Bảng
2.1 Bảng tóm tắt các giai đoạn phát triển của công ty Vinafreight.
Bảng 2.1: Bảng tóm tắt các giai đoạn phát triển của công ty Vinafreight.
Thời gian Thông tin
Trang 14
Những
năm thập
niên 90
- Vinafreight là đơn vị chuyên về vận tải hàng
không thuộc công ty Giao nhận kho vận ngoại
thương Tp.HCM (Vinatrans), chuyên thực
- Thành lập văn phòng tại Khu công nghiệp
Việt Nam – Singapore.
- Góp vốn thành lập công ty Vận tải Việt – Nhật
(Konoike-Vina)
Trang 15
- Thành lập chi nhánh công ty tại thành phố Hà
Nội. Trụ sở đặt tại số 2 Bích Câu, Đống Đa.
Nay dời về tòa nhà Vocarimax số 8 Cát Linh,
Đống Đa, Hà Nội.
- Thành lập Phòng Đại lý hãng tàu UASC tại số
12 Nguyễn Huệ, Quận 1. Nay dời về số 05
Nguyễn Tất Thành, Quận 4, Tp.HCM.
- Thành lập chi nhánh tại thành phố Hải Phòng.
Trụ sở đặt tại số 115 Trần Hưng Đạo, Quận
Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đặt văn phòng tại khu chế xuất Amata (Đồng
Nai)
Năm
2004
- Góp vốn thành lập công ty TNHH Vector
Quốc tế chuyên về dịch vụ Tổng Đại lý cho
các hãng Hàng Không, lần lượt là Tổng đại lý
hàng hóa của Malaysia Airlines, China
Southern Airlines, K-miles, Uzbekistan
Airways, Egypt Air, Scandinavian Air
Services và nhiều hãng hàng không khác.
- Thành lập các phòng Sales hàng không, phòng
Giao dịch Xuất Hàng không, phòng Logistics
trên cơ sở phòng Giao nhận Hàng không.
- Góp vốn thành lập Công ty TNHH 3 thành
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất cho
một số khách hàng lớn từ nước ngoài về Việt
Nam để sản xuất và tái xuất đi các nước.
Năm
2009
- Mở văn phòng tại Bình Dương để thực hiện
các dịch vụ trọn gói cho các khách hàng lớn
thuộc các khu công nghiệp ở Bình Dương.
- Công ty Vector được chỉ định làm đại lý cho
hãng Hongkong Air, khai thác máy bay
Freighter của hãng Transacro.
Năm
2010
- Ngày 22/11/2010 là ngày giao dịch chính
thức của cổ phiếu VNF của CTCP Vận tải Ngoại
thương trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Trang 17
Năm 2011
- Tháng 10/2011, Hội đồng thành viên Công
ty TNHH Dịch vụ Vận tải Hàng không Toàn cầu
Vinatrans quyết định giải thể công ty, là một trong
số các công ty liên kết của Vinafreight (chiếm 40%
vốn góp).
- Tháng 11/2011, công ty góp vốn liên doanh
vào công ty TNHH United Arab Shipping Agency
(Việt Nam).
Năm
2012
- Công ty tăng vốn đầu tư vào công ty TNHH
Dịch vụ Hàng không Véc Tơ Quốc tế nâng tỷ lệ
+ Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại.
2.2.2 Nhiệm vụ
- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao và phát
triển công ty càng lớn mạnh, góp phần đóng góp cho ngân sách Nhà Nước.
- Giải quyết việc làm cho người lao động.
- Liên tục cải tiến chất lượng phục vụ khách
hàng ngày càng tốt hơn, đa dạng hóa và
phong phú sản phẩm.
- Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội.
2.3 Cơ cấu tổ chức – Bộ máy quản lý
2.3.1 Cơ cấu tổ chức
- Cơ cấu tổ chức của Vinafreight được thể hiện
bởi sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Vinafreight
dưới đây.
Sơ đồ 2.3.1: Sơ đồ thể hiện cơ cấu tổ chức
của công ty Vinafreight.
[Nguồn: Báo cáo hạch công ty Vinafreight]
• Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm
quyền cao nhất của công ty theo Luật Doanh
nghiệp và Điều lệ của công ty. Đại hội đồng
cổ đông có trách nhiệm thảo luận và phê
Trang 19
chuẩn những chính sách dài hạn và ngắn hạn về phát triển của công ty, quyết
định về cơ cấu vốn, bầu ra bộ máy quản lý và điều hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty.
• Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công
ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông mà không
được ủy quyền. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ quyết định chiến lược phát
vận chuyển, giao nhận hàng hóa theo đúng quy định của công ty và kinh
doanh dịch vụ cho thuê kho bãi tại hai địa điểm kho 196 Tôn Thất Thuyết và
31 Bến Vân Đồn, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh.
• Kho 18 Tân Thuận Đông: Tham mưu cho Lãnh đạo công ty trong công tác
lưu kho, tồn trữ hàng hóa và tổ chức thực hiện quá trình xuất, nhập, bảo quản,
vận chuyển, giao nhận hàng hóa theo đúng quy định của công ty và kinh
doanh dịch vụ cho thuê kho bãi tại hai địa điểm kho 18 Tân Thuận Đôngvà
kho số 1 Lý Hải, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.
• Phòng Dịch vụ Logistics: là đơn vị kinh doanh chuyên về các dịch vụ nhập
khẩu và hậu cần như cung cấp các dịch vụ giao nhận tận nơi (door to door),
nhận ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa cho khách hàng, làm thủ tục hải quan
hàng xuất nhập khẩu, kinh doanh xe tải, đầu kéo, kho bãi,…
• Phòng dịch vụ xuất Hàng không:
- Giao nhận từ kho chủ hàng hoặc sân bay đến sân bay hoặc kho người nhận
với đa dạng các mặt hàng: giày dép, hàng may mặc thời trang, hàng máy
móc thiết bị, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng rau quả;
- Vận chuyển kết hợp đường biển và đường hàng không;
- Dịch vụ chuyển phát nhanh (chứng từ, hàng mẫu, hàng thương phẩm);
- Gom hàng lẻ xuất khẩu và chia lẻ hàng nhập khẩu;
- Dịch vụ khai quan và giao nhận nội địa;
- Dịch vụ đại lý hải quan;
- Đại lý bán cước và hợp đồng vận chuyển với nhiều hãng hàng không lớn
trên thế giới cam kết tại Việt Nam như SQ, TG, VN, BA.
• Phòng đường biển:
- Cung cấp cho khách hàng dịch vụ Gửi hàng lẻ đường biển từ Việt Nam đi mọi
nơi trên thế giới (LCL/FCL) với các thị trường mạnh như Mỹ, Châu Âu, Nhật
Bản và Châu Á….
- Dịch vụ nhập hàng nguyên container (FCL) với giá cạnh tranh và có hỗ trợ
phí lưu kho;
- Dịch vụ hàng công trình và triễn lãm tại Việt Nam và các nước khu vực như
Hàng xuất
Hàng nhập
Phòng giao phát triển
kinh doanh
Trang 22
Sơ đồ 2.3.2: Sơ đồ thể hiện bộ máy quản lý của công ty Vinafreight
[Nguồn: Báo cáo bạch công ty Vinafreight]
Hội đồng quản trị: Thực hiện vai trò đảm nhận công tác quản lý, điều hành
hoạt động kinh doanh và định ra chiến lược phát triển lâu dài cho công ty.
Chịu trách nhiệm trước pháp luật và các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt
động của công ty.
Giám đốc: Thay mặt cho Hội Đồng Quản Trị tổ chức, điều hành hoạt động
kinh doanh và chịu trách nhiệm trước Hội Đồng Quản Trị và trước các cơ
quan quản lý Nhà nước về hoạt động của công ty.
Phó Giám đốc: Phụ trách công tác quản trị trực tiếp các phòng ban trong
công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ và công tác được
giao. Phụ trách các phòng ban sẽ có các trưởng phó phòng và các trưởng bộ
phận.
Phòng kế toán tài vụ: Đây là bộ phận chuyên phụ trách các công việc như
tổng hợp dự án tài chính, kế hoạch thu chi và kế hoạch dự trữ tài chính của
công ty, thực hiện hoạch toán kết quả kinh doanh rõ ràng, chính xác theo định
kỳ hoặc có yêu cầu đột xuất và thực hiện quyết toán hằng năm đầy đủ.
Phòng giao nhận đường hàng không: Thực hiện các thao tác nghiệp vụ giao
nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường Hàng không. Phối hợp các đại lý
giao nhận quốc tế khai thác nghiệp vụ giao nhận quốc tế. Phòng bao gồm các
bộ phận trực thuộc sau:
- Bộ phận Sales – Marketing:Đảm nhận đầu vào trong hoạt động kinh doanh
của phòng. Bộ phận này sẽ tìm kiếm, khai thác nguồn hàng cho công ty.
- Bộ phận Operation (Bộ phận hiện trường): Thực hiện các công việc làm hàng
ngoài hiện trường và hoàn tất các thủ tục liên quan đến công tác giao nhận
Tôn Thất
Thuyết
Bến Vân
Đồn
Tân Thuận
Đông
Lý Hải,
Q.7
Số năm hoạt động 10 năm 08 năm 05 năm 02 năm
Tổng diện tích (m²) 3,000 m² 1,500 m² 1,500 m² 10,000 m²
[Nguồn Báo cáo hạch công ty Vinafreight]
Trang 24
- Để phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải nội địa và quốc tế đa phương
thức, Vinafreight đã liên tục đầu tư, phát triển một cách đồng bộ các thiết bị
phục vụ choviệc bốc dỡ hàng tại kho như xe nâng, băng tải, palet,… phục vụ
việc quản lý hàng hóa trong kho
- Hệ thống xe tải, hệ thống đầu kéo và hệ thống xe nâng của công ty
Vinafreightđược thể hiện ở Bảng 2.3 Bảng hệ thống xe tải, đầu kéo và xe
nâng của công ty Vinafreight dưới đây:
Bảng 2.4.1: Bảng hệ thống xe tải, đầu kéo và xe nâng của công ty Vinafreight.
Cơ sở
vật chất
Xe tải Xe cont 20’DC Xe nâng
Loại
Kích thước
3 x 2 tấn,
3 x 5 tấn
6 x 20’DC 14 x 40’DC
1 x 10 tấn,
1 x 7 tấn