HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------
BÁO CÁO QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ
Đề tài: Đánh giá công nghệ 3G của Viettel
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
: Ths. PHAN TÚ ANH
: Nhóm 2
: D08QTM
I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY VIETTEL VÀ SỰ RA ĐỜI
CỦA VIETTEL 3G
Giới thiệu về công ty Viettel
Viettel được biết đến là công ty viễn thông hàng đầu Việt Nam. Công ty Viễn
thông Viettel (hay còn gọi là Viettel Telecom) trực thuộc Tổng Công ty Viễn
thông Quân đội. Viettel được thành lập ngày 05/4/2007, trên cở sở sát nhập các
Công ty Internet Viettel, Điện thoại cố định Viettel và Điện thoại di động
Viettel.
Đến nay, Viettel Telecom đã ghi được những dấu ấn quan trọng và có một vị
thế lớn trên thị trường viễn thông VN:
– Dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế 178 đã triển khai khắp
64/64 tỉnh, thành phố cả nước và hầu khắp các quốc gia, các vùng lãnh thổ trên
thế giới.
– Dịch vụ điện thoại cố định, dịch vụ Internet…phổ cập rộng rãi đến mọi tầng
lớp dân cư, vùng miền đất nước với hơn 1,5 triệu thuê bao.
– Dịch vụ điện thoại di động vượt con số 20 triệu thuê bao, trở thành nhà cung
cấp dịch vụ điện thoại di động số 1 tại Việt Nam.
Lịch sử phát triển của Viettel
• Năm 1989: Công ty Ðiện tử thiết bị thông tin, tiền thân của Tổng Công ty
Viễn thông Quân đội (Viettel) được thành lập.
• Năm 2005: Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định thành lập Tổng
Công ty Viễn thông quân đội ngày 02/3/2005 và Bộ Quốc Phòng có quyết
định số 45/2005/BQP ngày 06/4/2005 về việc thành lập Tổng Công ty Viễn
thông quân đội
• Năm 2006: Đầu tư sang Lào và Campuchia.
• Năm 2007: Năm thống nhất con người và các chiến lược kinh doanh viễn
thông! Trong xu hướng hội nhập và tham vọng phát triển thành một Tập
đoàn Viễn thông, Viettel Telecom (thuộc Tổng Công ty Viễn thông quân đội
Viettel) được thành lập kinh doanh đa dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông trên
cơ sở sát nhập các Công ty: Internet Viettel, Điện thoại cố định Viettel và
Điện thoại di động Viettel.
• Năm 2008: Doanh thu 2 tỷ USD. Nằm trong 100 thương hiệu viễn thông
lớn nhất thế giới. Số 1 Campuchia về hạ tầng Viễn thông.
• Năm 2009: chính thức cho ra đời sản dịch vụ 3G trên cả nước
• Năm 2010: Doanh thu 4 tỷ USD. Viettel trở thành tập đoàn kinh tế nhà
nước.
• Năm 2011: Lọt vào top 20 nhà mạng lớn nhất thế giới
Dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế 178 đã triển khai khắp
64/64 tỉnh, thành phố cả nước và hầu khắp các quốc gia, các vùng lãnh thổ
trên thế giới.
Triết lý kinh doanh :“Mạng lưới đi trước, kinh doanh theo sau”.
Trong năm 2009, Viettel đã trúng tuyển giấy phép Thiết lập mạng và
cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất tiêu chuẩn IMT-2000 trong băng
tần số 1900-2200 MHz (3G) của Bộ Thông tin truyền thông cho 4 nhà cung cấp
gồm Mobifone, Vinaphone, Viettel và liên danh EVNTelecom cùng
HanoiTelecom.
Trước khi cung cấp chính thức dịch vụ, Viettel đã có một giai đoạn thử
nghiệm nhằm khắc phục các lỗi ko lường trước được của mạng 3G. Để khởi
đầu cho việc chính thức cung cấp dịch vụ liên lạc di động thế hệ thứ 3 (3G) đến
hơn 40 triệu khách hàng,
trong lĩnh vực này
Mục đích đánh giá: Đánh giá kết quả đổi mới công nghệ từ đó tìm các biện
pháp khắc phục tạo sức cạnh tranh trên thị trường.
Sự ra đời của Viettel 3G
Với việc thi tuyển cấp phép 3G của Bộ bưu chính viễn thông thì Viettel là nhà
mạng có số điểm cao nhất qua vòng thi tuyển. Ngày25/3/2010, Viettel đã chính
thức khai trương mạng 3G sau thời gian thử nghiệm, chậm hơn VinaPhone,
Mobifone nhưng phủ sóng 63 tỉnh thành.
BƯỚC 2: KHẢO SÁT CÔNG NGHỆ
MÔ TẢ CÁC CÔNG NGHỆ LIÊN QUAN
1G : Sự khởi đầu giản đơn
1G là chữ viết tắt của công nghệ điện thoại không dây thế hệ đầu tiên (1st
Generation). Các điện thoại di động chuẩn analog, sử dụng công nghệ 1G với
tín hiệu sóng analog, được giới thiệu trên thị trường vào những năm 1980.
Một trong những công nghệ 1G phổ biến là NMT (Nordic Mobile Telephone)
được sử dụng ở các nước Bắc Âu, Tây Âu và Nga. Cũng có một số công nghệ
khác như AMPS (Advanced Mobile Phone Sytem – hệ thống điện thoại di động
tiên tiến) được sử dụng ở Mỹ và Úc; TACS (Total Access Communication
Sytem – hệ thống giao tiếp truy cập tổng hợp) được sử dụng ở Anh, C-45 ở Tây
Đức, Bồ Đào Nha và Nam Phi, Radiocom 2000 ở Pháp; và RTMI ở Italia.
2G : Công nghệ GSM
Sau đó, xuất hiện các điện thoại kỹ thuật số, dùng công nghệ 2G, với sóng
Digital.Thế hệ thứ hai 2G của mạng di động chính thức ra mắt trên chuẩn GSM
của Hà Lan, do công ty Radiolinja (Nay là một bộ phận của Elisa) triển khai vào
năm 1991.
So với 1G, ba lợi ích chủ yếu của mạng 2G chính là :
- Những cuộc gọi di động được mã hóa kĩ thuật số
- Cho phép tăng hiệu quả kết nối các thiết bị
- Bắt đầu có khả năng thực hiện các dịch vụ số liệu trên điện thoại di động –
khởi đầu là tin nhắn SMS.
nơi dân cư thưa thớt, sóng kĩ thuật số yếu có thể không tới được các tháp phát
sóng. Tại những địa điểm như vậy, chất lượng truyền sóng cũng như chất lượng
cuộc gọi sẽ bị giảm đáng kể
2,5G : Bước đệm
2,5G chính là bước đệm giữa 2G với 3G trong công nghệ điện thoại không
dây. Khái niệm 2,5G được dùng để miêu tả hệ thống di động 2G có trang bị hệ
thống chuyển mạch gói, bên cạnh hệ thống chuyển mạch kênh truyền thống.
Trong khi các khái niệm 2G và 3G được chính thức định nghĩa thì khái
niệm 2,5G lại không được như vậy. Khái niệm này chỉ dùng cho mục đích tiếp
thị.
2,5G cung cấp một số lợi ích của mạng 3G (ví dụ chuyển mạch gói), và
có thể dùng cơ sở hạ tầng đang tồn tại của 2G trong các mạng GSM và CDMA.
GPAS là công nghệ được các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông GSM sử dụng.
Và giao thức, như EDGE cho GSM, và CDMA 2000 1x-RTT cho CDMA, có
thể đạt chất lượng như các dịch vụ 3G (vì dùng tốc độ truyền dữ liệu 144Kb/s),
nhưng vẫn được xem như dịch vụ 2,5G bởi vẫn chậm hơn vài lần so với dịch vụ
3G thật sự.
Thế nào là công nghệ 3G
3G là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (Third
Generation).
3G phát triển dựa trên các mạng 2G là GSM và CDMA và thiết kế để hỗ
trợ mạng không giới hạn dành cho người sử dụng có thể di chuyển trong một
phạm vi nhất định trong nội mạng. Từ trước đến nay trên thế giới chưa có một
khái niệm rõ ràng nào về 3G nhưng nói đến 3G là nhắc đến khả năng thiển khai
các dịch vụ truy cập tốc độ cao tiện ích xu hướng phát triển hiện nay
Mạng 3G (Third-generation technology) là thế hệ thứ ba của chuẩn công
nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại
(tải dữ liệu, gửi email, t in nhắn nhanh , hình ảnh...). 3G cung cấp cả hai hệ thống
là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh.Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy
cập radio hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay. Điểm mạnh của công
dịch vụ data, một con số không mấy vui cho những nhà mạng đầu tư tốn ken
cho 3G với mong đợi và lợi nhuận từ dịch vụ dữ liệu
Thực trạng 3G tại Việt Nam
Nếu như 3G trên thế giới có độ tuổi nhất định thì 3G Việt Nam được
đánh giá là khá chậm.Số người quan tâm tới 3G tăng mạnh vào cuối năm
2009 – đầu 2010 đưa Việt Nam trở thành nước “mê” 3G nhất thế giới. Đây
là kết luận dựa trên khảo sát dữ liệu thực tế từ Google Trend – Website
thống kê, so sánhcác từ khoá được tìm kiếm trên Google. Dưới đây là những
dữ liệu “biết nói” cho thấy người Việt “say mê” với 3G đến mức nào. Các
sốliệu này cũng chứng tỏ một điều: Việt Nam đang trở thành thị trường đặc biệt
tiềm năng cho cácnhà cung cấp dịch vụ mạng, thiết bị đầu cuối cũng như các
dịch vụ giá trị gia tăng trên nền 3G. Trong năm 2009, số lượng tìm kiếm 3G của
Việt Nam đã xếp thứ 2 thế giới, chỉ đứng sau TrungQuốc với mức độ chênh
lệch không đáng kể. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Việt Nam đã vươn
lên trở thành quốc gia tìm kiếm 3G nhiều nhất trên thế giới.
Tại Việt Nam 3 nhà mạng cạnh tranh 3G gay gắt nhất là Viettel, Mobiphone và
Vianaphone.
3,5G công nghệ HSDPA
Cũng như 2,5G, công nghệ 3,5G là những ứng dụng được nâng cấp dựa
trên công nghệ hiện có của 3G.
Một trong những đại diện tiêu biểu của 3,5G chính là HSDPA (High Speed
Downlink Package Access) – công nghệ truy nhập gói đường truyền xuống tốc
độ cao). Đây là giải pháp mang tính đột phá về mặt công nghệ, được phát triển
trên cơ sở của hệ thống 3G W-CDMA.
HSDPA cho phép download dữ liệu về máy điện thoại có tốc độ tương
đương tốc độ đường truyền ADSL, vượt qua những cản trở cố hữu về tốc độ kết
nối của một điện thoại thông thường.
HSDPA là một bước tiến nhằm nâng cao tốc độ và khả năng của mạng di
động tế bào thế hệ thứ 3 UMTS. HSDPA được thiết kế cho những ứng dụng
dịch vụ dữ liệu như: dịch vụ cơ bản (tải file, phân phối email), dịch vụ tương tác
nhóm này được phát triển từ các hệ thống GSM hiện có lên GSM 2+ (được gọi
là EDGE).
- IMT-2000 FDMA/TDMA (thời gian tần số), đây là hệ thống các thiết bị
kéo dài thuê bao số ở châu Âu.
- IMT-2000 OFDMA TDD WMAN (thường được biết dưới tên WiMAX
di động).
Mỗi tiêu chuẩn trong sáu tiêu chuẩn công nghệ nêu trên đều được các
công ty lớn và một số quốc gia có nền công nghiệp điện tử, viễn thông phát triển
ủng hộ và ra sức vận động. Các tiêu chuẩn này cạnh tranh gay gắt với nhau
trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin di động. Trong đó chỉ có 3 công nghệ
được biết đến nhiều nhất và phát triển thành công là WCDMA, CDMA 2000 và
WiMAX di động.
Lợi ích mà 3G mang đến
3G giúp chúng ta thực hiện truyền thông thoại và dữ liệu ( như email và
tin nhắn dạng văn bản), download âm thanh và hình ảnh với băng tần cao.
Các ứng dụng 3G thông dụng gồm hội nghị video di động; chụp ảnh và gửi ảnh
kỹ thuật số nhờ điện thoại máy ảnh; gửi và nhận email và file đính kém dung
lượng lớn; tải tệp tin video và MP3; nhắn tin và dạng chữ với chất lượng cao.
Các thiết bị hỗ trợ 3G cho phép chúng ta download và xem phim từ các chương
trình TV, kiểm tra tài khoản ngân hàng, thanh toán hóa đơn điện thoại qua mạng
và gửi bưu thiếp kỹ thuật số
Thực trạng 3G
Tính đến thời điểm hiện tại, thế giới đã có xấp xỉ 3,7 tỉ người sử dụng
điện thoại di động, trong đó số lượng thuê bao hạ tầng GSM là 3,06 tỉ thuê bao,
số còn lại chia đều trên các mạng thuộc CDMA và 3G. Theo hãng nghiên cứu
thị trường Wireless Intelligence, kết nối băng thông rộng di động toàn cầu đã
tăng trên 850% từ quý I/2007 đến quý I/2008, chủ yếu là nhờ sự phát triển của
công nghệ 3G (EV-DO và HSPA).
HSPA đã giúp thúc đẩy tăng trưởng doanh thu dữ liệu di động đến 46,1%
và tăng trưởng doanh thu băng thông rộng di động 205% trong nửa đầu của