1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển của ngành hóa sinh, hóa sinh dược học
cũng bùng nổ một cách mạnh mẽ. Do đặc tính thân thiện và an toàn, con người
đang tích cực sử dụng và nghiên cứu các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên
trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau: thực phẩm, hương liệu, mỹ phẩm và đặc biệt
là dược học.
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, lượng mưa
nhiều, độ ẩm cao nên có thảm thực vật rất phong phú và đa dạng. Trong nhiều
loại thực vật đó, có họ Sim (Myrtaceae), gồm khoảng 100 chi với hơn 3000 loài
phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới và châu Đại Dương. Ở nước ta, họ Sim có
khoảng 13 chi với gần 100 loài, chủ yếu được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, lấy
gỗ và lấy tinh dầu, trong đó có cây sắn thuyền (Syzygium polyanthum (Wight)
Walp.)
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh nội tiết và rối loạn
chuyển hóa, có mức tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây cả về số lượng
cũng như chi phí điều trị, trở thành gánh nặng về kinh tế và xã hội đối với nhiều
quốc gia trên thế giới. Dự báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế
kỉ 20 đã và đang trở thành hiện thực “ thế kỉ 21 là thế kỉ của của các bệnh nội tiết
và rối loạn chuyển hóa”. Năm 2008 WHO dự đoán, năm 2025, sẽ có 300-350
triệu người mắc bệnh, chiếm tỷ lệ khoảng 5,4% dân số toàn cầu, trong đó ĐTĐ
type 2 chiếm 85-95%. Với tốc độ phát triển nhanh chóng (tăng 170%), bệnh
ĐTĐ ở các quốc gia đang phát triển sẽ trở thành “đại dịch”. Tại Mỹ hiện nay có
ít nhất 25 triệu người mắc bệnh và sẽ dự báo tăng lên tới 60 triệu người trong 10
năm tới, với tỷ lệ mắc trung bình 8% dân chúng và cũng là nguyên nhân tử vong
hàng đầu tại nước này[1], [8], [23].
2
WHO dự báo năm 2025 thì Ấn Độ và sau đó là Trung Quốc sẽ dẫn đầu
Walp. có
tác dụng rất lớn trong điều trị tiểu đường, cải thiện tỷ lệ đau tim và tăng huyết áp
[27].
Tuy nhiên việc nghiên cứu đặc tính hóa sinh, y dược của các hoạt chất
thiên nhiên từ đối tượng này ở nước ta chưa được nghiên cứu một cách thỏa
đáng. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc tính
sinh dược học của dịch chiết từ lá và vỏ cây sắn thuyền Syzygium
polyanthum (Wight) Walp.” Với các nội dung chính:
- Tìm hiểu thành phần hóa học cơ bản trong lá và vỏ cây sắn thuyền.
- Tìm hiểu tác dụng hạ đường huyết của một số phân đoạn dịch chiết từ lá và vỏ
cây sắn thuyền trên mô hình chuột gây ĐTĐ type 2 bằng STZ.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hoạt tính sinh dược học của một số phân đoạn dịch chiết từ lá và
vỏ cây sắn thuyền (Syzygium polyanthum (Wight) Walp.)
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Khảo sát sơ bộ thành phần các hợp chất tự nhiên có trong lá và vỏ cây
sắn thuyền.
3.2. Định tính, định lượng polyphenol tổng số theo phương pháp sắc kí
lớp mỏng và phương pháp Folin-Ciocalteau.
3.3. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các phân đoạn dịch chiết từ
lá và vỏ cây sắn thuyền (Syzygium polyanthum (Wight) Walp.) trên mô hình
chuột gây ĐTĐ type 2.
4. Đóng góp mới của đề tài
Đánh giá khả năng điều trị ĐTĐ nhờ các phân đoạn dịch chiết từ lá và vỏ
cây sắn thuyền trên mô hình thí nghiệm chuột nhắt trắng, được gây tiểu đường
type 2 bằng STZ kết hợp với chế độ ăn giàu lipid.
4
NỘI DUNG
hydroquynone), triphenol (pyrogalol, oxyhydroquynol…).
Nhóm hợp chất phenolic phức tạp: Trong thành phần cấu trúc phân tử của
chúng ngoài vòng thơm benzene (C
6
) chúng còn có dị vòng, mạch nhánh. Đại
diện nhóm này có acid cyamic, acid ceramic.
Nhóm hợp chất phenolic đa vòng: Là nhóm đa dạng nhất trong các hợp
chất phenol, có cấu trúc phức tạp do sự liên kết hoặc trùng hợp của các đơn
phân. Ngoài gốc phenol còn có các nhóm phụ dị vòng mạch nhánh hoặc đa
vòng. Nhóm này có flavonoid, tannin và coumarin.
1.1.1.2. Vai trò sinh học của hợp chất phenolic
Hợp chất phenolic có hầu hết trong các bộ phận của cây, chúng được hình
thành từ những sản phẩm của quá trình đường phân và chu trình pentose qua
cynamic acid hay theo con đường acetate malonate qua Acetyl-CoA [28].
Hợp chất phenolic có tính kháng khuẩn, chúng có tác dụng quan trọng
trong quá trình liền sẹo ở các vết thương cơ học của thực vật, chúng có tác
dụng đẩy mạnh quá trình tái sinh, chống bức xạ, gốc tự do, tác nhân gây đột
biến và chất chống oxi hóa.
1.1.2. Flavonoid thực vật
Flavonoid là một nhóm hợp chất tự nhiên lớn thường gặp trong thực vật,
phần lớn có màu vàng. Về cấu trúc hoá học, flavonoid có khung cơ bản theo kiểu
C6 - C3 - C6 (2 vòng benzen A và B nối với nhau qua một mạch 3 carbon) và
được chia làm nhiều nhóm khác nhau. Hầu hết Flavonoid là các chất phenolic
1.1.2.1 Cấu tạo và phân loại
6 Flavonoid là một chuỗi polyphenolic gồm có 15 nguyên tử cacbon và hai
vòng benzen liên kết bởi một đường thẳng có 3 cacbon. Cấu trúc hóa học của
flavonoid được dựa trên cơ sở là một khung 15C với một Chromane vòng thơm
1.1.2.2. Hoạt tính sinh học của Flavonoid
Flavonoid làm bền thành mạch, giảm sức thẩm thấu các hồng cầu qua
thành mạch nên được ứng dụng trong chữa trị các rối loạn chức năng tĩnh mạch,
giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc. Flavonoid có tác
dụng với khối u và một số dạng ung thư như enpatin (3,5,3'-trihydroxy-6,7,4'-
trimetoxyflavon), enpatoretin (3,3'-dihydroxy -5,6,7,4'-tetrametoxyflavon);
Nâng cao tính bền của thành mạch máu như rutin; Có tác dụng estrogen như
glycosid quercetin và kaempferol- 3-3-ramnogalacto-7-ramnorid. Ngoài các
tác dụng trên, flavonoid còn có các tác dụng khác như: chống dị ứng, chống
co giật, giãn phế quản, giãn mạch, lợi mật, giảm đau và có tác dụng diệt
nấm Một số dẫn chất của flavonoid có tác dụng thông tiểu như quercetin (có
trong lá diếp cá), kháng khuẩn như acvicularin. Đặc biệt, flavonoid còn có
hoạt tính vitamin P, làm bền những mao mạch và giảm tính giòn của thành
mạch.
Các kết quả nghiên cứu khoa học đã kết luận rằng: tác dụng sinh học
của flavonoid là do khả năng chống oxy hoá của chúng quy định. Do khả
năng ức chế quá trình oxy hoá nên chúng có hiệu ứng chống u lành tính và u
ác tính. Các flavonoid còn được ứng dụng rộng rãi để điều trị các bệnh nhiễm
trùng như chống viêm loét dạ dày, viêm mật cấp tính và mãn tính, viêm gan,
thận, thương hàn, lị [3].
Chất flavonoid từ lá cây Chay giúp bảo quản mô thận, ức chế phản ứng
thải ghép thận; yếu tố bảo vệ thận ghép, hạn chế tổn thương tế bào thận do thiếu
máu. Flavonoid được chiết từ lá cây bạch quả (Ginkgo biloba-thuộc họ
Ginkgoaceae) chứa các chất dẫn chất của Kaempferol, quercetin có tác dụng
cải thiện được tuần hoàn, đặc biệt là tuần hoàn não, làm tăng trí nhớ, có tác dụng
tính cực trong chữa bệnh Alzheimer, cải thiện chứng liệt dương. Thí nghiệm
flavonoid chiết xuất từ hoa kim ngân cũng có tác dụng làm giảm các chỉ số
8
cholesterol toàn phần, triglycerid và LDL-c (hại cho tim) đồng thời làm tăng
1.1.3.1. Đặc điểm và cấu tạo
Alkaloid là một hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp mà mỗi phân tử của
nó đều chứa ít nhất một nguyên tử nitơ dưới dạng dị vòng. Do đó, nó là nhóm
các hợp chất không thuần khiết về mặt hoá học.
Hiện nay, người ta đã tìm được khoảng gần 6000 alkaloid và chủ yếu là
các chất ít tan trong nước nhưng dễ tan trong các dung môi hữu cơ. Đa số các
alkaloid trong thành phần có chứa oxy ở thể rắn (cafein), không có oxy và
9
thường ở thể lỏng dễ bay hơi (nicotin). Alkaloid thường không có màu, mùi, có
vị đắng, một số alkaloid có màu vàng như berberin, palmitin…[14].
1.1.3.2. Tác dụng sinh học
Các chức năng của alkaloid trong cây chủ yếu là chưa biết, tầm quan trọng
của chúng trong quá trình trao đổi chất ở thực vật cũng được tranh luận rất nhiều.
Một loài thực vật duy nhất có thể chứa hơn 100 alkaloid khác nhau và nồng độ
có thể khác nhau từ một phần nhỏ hơn 10% trọng lượng khô.
Alkaloid được quan tâm với vai trò là một chất có tác dụng dược học và
chất độc từ những năm trước công nguyên. Nhà triết học Hy Lạp Socrates qua
đời năm 399 trước Công nguyên bởi sử dụng cây độc có chứa coniine
(maculatum Conium). Trong thời hiện đại, chất kích thích như caffein trong cà
phê, trà, ca cao và chất nicotine trong thuốc lá được tiêu thụ trên toàn thế giới.
Alkaloid với tính chất gây ảo giác hay thuốc giảm đau đã được ứng dụng trong y
tế như các hợp chất tinh khiết (ví dụ như morphine, atropine, và quinine) hoặc
chúng được coi như các hợp chất mô hình cho các loại thuốc tổng hợp hiện đại,
trong khi đó một số đang bị lạm dụng như các loại thuốc bất hợp pháp (ví dụ như
cocaine). Một số alkaloid khác được xem là độc hại cho bất kỳ việc sử dụng điều
trị nào (ví dụ: coniline và strychnine). Mới đây là sự phát hiện ra taxol, hợp chất
có hoạt tính sinh học, có tính chất kìm hãm đã được áp dụng như một loại thuốc
chống ung thư [14].
Terpenoid là nhóm chất hữu cơ thiên nhiên không no có công thức chung
là (izo-C5H8)n (n>=2). Ngoài các hydrocacbon không no, các dẫn xuất của
chúng như ancol, andehyd, ceton, cacboxylic acid cũng được gọi là tecpen. Tuỳ
theo số nguyên tử cacbon trong mạch hydrocacbon, người ta phân chúng thành
các nhóm: monoterpen, secpuiterpen, diterpen, triterpen, tetraterpen, polyterpen.
Trong đó monoterpen là quan trọng nhất trong terpenoid, nó có cấu trúc mạch
hở, mạch vòng.
Các terpenoid có chứa nhiều trong thực vật như secpuiterpen, diterpen và
triterpen có chứa trong tinh dầu, nhựa của thực vật bậc cao, polyterpen là thành
phần chính của các cao su tự nhiên. Chính vì do đặc điểm cấu tạo của chúng nên
các terpenoid có tác dụng làm thông mạch và làm tăng độ đàn hồi của cơ tim và
thành mạch.
1.1.7. Steroid
Là những hợp chất thiên nhiên có bộ khung cacbon stenan gồm bốn vòng
ngưng tụ với nhau, chứa các mạch bên và các nhóm chức khác nhau như: CO, -
CHO, -COOH, -OH. Steroid tồn tại trong động, thực vật dưới dạng glycosid
hoặc liên kết với các cacbon acid amin.
12
Các steroid tham gia vào các quá trình sinh học trong cơ thể sống. Cho
đến nay, người ta đã biết đến hàng chục nghìn steroid và trong số đó có hàng
trăm chất được sử dụng trong y học.
1.1.8. Saponin
Saponin được dùng để chỉ nhóm glycosid có đặc tính chung là khi hoà tan
vào nước sẽ có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và tạo bọt.
Dưới tác dụng của các enzym thực vật, vi khuẩn, hoặc acid loãng, saponin bị
thuỷ phân thành genin (gọi là sapogenin) và phần glucid.
Phần glucid gồm các ose phổ biến là D-glucose, D-galactose, L-mannose
và L-arabinose. Phần sapogenin gồm hai nhóm lớn là saponin triterpen và
saponin steroid. Trong đó, saponin steroid phân bố tập trung ở cây một lá mầm
Quá cân ≥ 25 – 29.9 ≥ 23
Béo phì độ 1 30 – 34.9 > 23 – 24.9
Béo phì độ 2 35 – 39.9 25 – 29.9
Béo phì độ 3 ≥ 40 ≥ 30
1.2.3. Nguyên nhân
Ăn nhiều: vượt quá nhu cầu cơ thể thường là nguyên nhân béo phì (95%).
Hoạt động thể lực kém: ít vận động.
Nguyên nhân di truyền: 69% người béo phì có bố hoặc mẹ béo phì; 18% cả bố
lẫn mẹ đều béo phì, chỉ có 7% là có tiền sử gia đình không ai béo phì.
Nguyên nhân nội tiết: Hội chứng Cushing, Cường insulin: do u tụy tiết insulin,
tăng ăn ngon, ăn nhiều và tân sinh mô mỡ, tăng tiêu glucid, giảm hoạt tuyến
giáp.
Nguyên nhân do thuốc: Gần đây, thuốc được thêm vào danh mục nguyên nhân
của các yếu tố béo phì, bởi vì gia tăng dược liệu pháp. Tăng cân có thể là sản
phẩm của các hormon steroides và 4 nhóm chính của các thuốc kích thích tâm
thần: Kháng trầm cảm cổ điển (3 vòng, 4 vòng, ức chế IMAO); Benzodiazepine;
Lithium; thuốc chống loạn thần.
14
1.2.4. Biến chứng của béo phì
Nguy cơ của quá tải trọng lượng hay béo phì là gây nhiều bệnh thậm chí
xuất hiện rất sớm và gây tử vong. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng có sự tương
quan rất có ý nghĩa giữa béo phì dạng nặng và các biến chứng chuyển hoá như
đái tháo đường, tăng lipid máu, bệnh sinh xơ vữa mạch máu, goute.
Biến chứng về chuyển hóa:
- Chuyển hoá glucid: có tình trạng kháng insulin, tăng tiết insulin, phát hiện qua
nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống bị rối loạn, dễ dẫn đến bệnh
đái tháo đường, vì vậy béo phì là một yếu tố nguy cơ của ĐTĐ
- Chuyển hoá lipid: triglyceride huyết tương thường tăng trong béo phì, tăng
VLDL. Sự tăng lipoprotein có liên quan đến rối loạn chuyển hoá glucid nói trên
của insulin [1], [32], [45].
Tăng glucose máu mãn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự tăng rối
loạn chức năng và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận,
thần kinh, tim và mạch máu.
ĐTĐ trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu
ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên
nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai
biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, cắt cụt chi [1], [25].
WHO đã nhận định rằng: “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và
rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh ĐTĐ. Những gì mà đại dịch
HIV/AIDS đã hoành hành 20 năm cuối thế kỷ XX, thì đó sẽ là ĐTĐ trong 20
năm đầu thế kỷ XXI”.
1.3.2. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới và Việt Nam
* Trên thế giới:
ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm có tốc độ phát triển nhanh chóng nhất thế
giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới: năm 1995 cả thế giới có 135 triệu người mắc
16
bệnh ĐTĐ chiếm 4% dân số thế giới, đến năm 2010 có 221 triệu người và dự
báo đến năm 2025 là 350 triệu người mắc căn bệnh này, chiếm 6.0%. Tây Thái
Bình Dương là khu vực có số người mắc bệnh cao nhất với khoảng 44 triệu
người, Đông Nam Á khoảng 35 triệu người. Các nước đang phát triển sẽ phải
hứng chịu hậu quả nghiêm trọng của căn bệnh này bởi tốc độ phát triển của
nó có thể lên tới 170%.
Như vậy, ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm nhưng được coi là đại dịch bởi có
tốc độ phát triển nhanh chóng nhất trên thế giới, chủ yếu là các nước đang phát
triển (trong đó có Việt Nam). Nó đang là gánh nặng thực sự cho sự phát triển
kinh tế, xã hội và sức khỏe của con người toàn thế giới trong thế kỷ 21 [1], [46].
* Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội, tỷ lệ mắc
chuyển hóa protein, lipid. Các rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng cấp
tính và mãn tính. Loại tiểu đường này xảy ra ở bất kì lứa tuổi nào, nhưng thường
xảy ra ở trẻ em và thanh niên [1].
Cơ chế bệnh sinh
Do yếu tố di truyền kém sản xuất insulin, phát bệnh tự nhiên, ít phụ thuộc
vào điều kiện môi trường. Bệnh gặp ở 0.2 - 0.5 % số người trong quần thể và
chiếm 5 - 10% số người mắc bệnh tiểu đường.
Các giai đoạn trong ĐTĐ type 1
- Giai đoạn 1: Bản chất di truyền–nhạy cảm gene
- Giai đoạn 2: Khởi phát quá trình tự miễn
- Giai đoạn 3: Phát triển một loạt các kháng thể
- Giai đoạn 4: Tổn thương chức năng tế bào β đảo tụy
18
- Giai đoạn 5: Đái tháo đường lâm sàng, phá hủy hoàn toàn hoặc gần như hoàn
toàn tế bào β đảo tụy. Biểu hiện lâm sàng là ĐTĐ phụ thuộc insulin có kèm biến
chứng [1], [6].
Đặc điểm lâm sàng
Bệnh nhân ĐTĐ type 1 có đặc điểm lâm sàng phức tạp. Thiếu hụt insulin
tuyệt đối làm tăng đường huyết và acid béo quá mức dẫn tới tăng áp lực thẩm
thấu. Bệnh nhân thường đi tiểu nhiều, khát nhiều, sụt cân, mờ mắt, mệt mỏi…
Bệnh nhân ĐTĐ type 1 bắt buộc phải điều trị bằng insulin.
b. Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin)
ĐTĐ type 2 là tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của kháng insulin ở
cơ quan đích kèm theo suy giảm chức năng tế bào β hoặc do suy giảm chức năng
tế bào β kèm theo kháng insulin của cơ quan đích. Đây là dạng ĐTĐ thường gặp
nhất, thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi.
Cơ chế bệnh sinh
Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nồng độ glucose trong máu vẫn ở mức bình thường, nhưng có
Những rối loạn tự miễn hiếm, như là hội chứng stiff-man, một bệnh tự
miễn của hệ thần kinh trung ương.
Hội chứng về gen kết hợp với Đái tháo đường, như là hội chứng Down và
hội chứng Prader-Willi.
Các type ĐTĐ đặc hiệu khác.
1.3.4. Tác hại và biến chứng
ĐTĐ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và khả năng làm việc của người
lao động, nhưng hơn cả là nguy cơ biến chứng của bệnh nhân thường rất cao.
Biến chứng mắt như: bệnh lý võng mạc (27,8%), đục thủy tinh thể (6,1%) tăng
sinh gây mù lòa (1,1%) Bệnh về võng mạc tăng dần theo thời gian phát hiện
bệnh. Biến chứng thận như: microalbumin niệu (11,6%), macroalbumin (3%),
suy thận từ độ 1 đến độ 4 (3,5%) ….Biến chứng thần kinh ngoại vi: giảm hoặc
mất phản xạ gân xương hoặc cảm giác run ….Tổn thương bàn chân: tùy từng
mức độ như phỏng rộp, biến dạng, loét, hoại thư, cắt cụt, ….Biến chứng mạch
máu lớn: mạch vành có tới (38%), đột quỵ (1,2%), tăng huyết áp (27,6%) …
1.3.5. Một số thuốc tổng hợp điều trị bệnh ĐTĐ
Dựa vào tác dụng và cơ chế tác dụng, các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ được chia
thành các nhóm chính:
- Insulin và các thuốc kích thích bài tiết insulin
- Các thuốc làm tăng nhạy cảm insulin
- Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn.
* Insulinvà các thuốc kích thích bài tiết insulin
Insulin điều hòa glucose huyết chủ yếu tại các mô đích là gan, cơ và mô
mỡ. Sau khi bài tiết, insulin đến các mô đích gắn vào thụ thể (receptor) đặc hiệu
là một glycoprotein gồm 2 đơn vị α (nằm ngoài tế bào) và hai đơn vị β ( nằm
trong tế bào) được nối với nhau bằng cầu nối disulfid. Insulin gắn vào phần thụ
thể α, kích thích tyrosin kinase của thụ thể β trong tế bào, khởi động chuỗi phản
21
ứng làm tăng tính thấm màng tế bào với glucose, giúp glucose vận chuyển vào tế
22
đường. Xuất phát từ quan niệm trên, nên phương pháp điều trị chủ yếu là dưỡng
âm, thanh nhiệt sinh tân dịch làm cơ sở để lập lại cân bằng âm dương trong cơ
thể [2], [5], [7], [8].
Việt Nam là nước có nguồn dược liệu rất phong phú. Bên cạnh chế độ ăn
uống và tập luyện hợp lý thì việc sử dụng thảo mộc trong điều trị bệnh ĐTĐ từ
lâu đã được biết đến với nhiều tác dụng tích cực. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
của Đông Y chủ yếu là các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu. Một số thảo mộc
rất sẵn trong nước có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ĐTĐ [7], [8] như: Bầu đắng,
tỏi, nghệ, quế, hành tây, bí đao, mướp đắng, khế, khoai lang…
1.4. Mô hình gây ĐTĐ type 2 bằng STZ
Streptozotocin (STZ: 2 – deoxy – 2 - (3 – metyl – 3 - nitrosoureido) – D -
glucopyranose) là chất có hoạt tính chống ung thư được chiết xuất từ nấm
Streptomyces achromogens. Khả năng gây ĐTĐ của STZ đã được phát hiện vào
năm 1963. Kể từ đó STZ được sử dụng rộng rãi trong mô hình động vật ĐTĐ
type 1 và type 2 phục vụ trong các nghiên cứu về thuốc [10], [33], [35].
Tùy vào liều lượng STZ và cách thức tiến hành người ta có thể gây ĐTĐ
type 1 hay type 2.
ĐTĐ type 1: với chuột cống trưởng thành, tiêm liều duy nhất từ 40 – 60
mg/kg thể trọng hoặc cao hơn. Với chuột nhắt trưởng thành, tiêm liều 100 –
150mg/kg thể trọng.
23
ĐTĐ type 2: với chuột cống, tiêm STZ liều 100mg/kg vào ngày đầu tiên
sau khi sinh. Với chuột nhắt có thể nuôi với chế độ dinh dưỡng giàu lượng mỡ
sau đó tiêm STZ với liều 50 - 100mg/kg.
STZ được nhận biết và xâm nhập vào tế bào β qua kênh vận chuyển
glucose GLUT2. Hoạt động của nó trong tế bào làm tổn thương và alkyl hóa
Hình 1.2. Cơ chế gây độc của STZ lên tế bào β của tụy đảo chuột
(MIT – Ty thể, XOD – xanthine oxidase) [34].
1.5. Cây sắn thuyền (Syzygium polyanthum (Wight) Walp.)
Sắn thuyền hay còn gọi là sắn sàm thuyền có tên khoa học Syzygium
polyanthum (Wight) Walp. hay Eugenia polyantha Witht., E. resinosa Gagnep.,
thuộc họ Sim - Myrtaceae.
1.5.1. Đặc điểm hình thái và phân bố
* Đặc điểm hình thái: Sắn thuyền có thân thẳng đứng, hình trụ, cao tới 15 m.
Cành nhỏ gầy, dài, lúc đầu dẹt sau hình trụ, màu nâu nhạt, nhăn nheo. Lá mọc
đối, hai đôi lá gần nhau mọc theo hai hướng thẳng góc với nhau. Lá mọc sum
suê, phiến lá hình mác thuôn nhọn ở gốc, nhọn tù ở đỉnh, dài 6 - 9 cm, rộng 20 -
45 mm, đen nhạt ở trên khi khô. Cụm hoa mọc ở kẽ lá rụng hay chưa rụng, dài 2
- 3 cm, thưa hợp thành nhóm dài 20 cm, trục gầy nhỏ, tận cùng bởi 3 hoa không
có cuống. Nụ hoa hình lê, gần hình cầu dài 3 - 4 mm, rộng 2 - 3 mm [4], [12].
Hoa có màu trắng, mọc thành từng chùm và cho làm 2 vụ. Vào tháng 2 (gọi là vụ
chiêm, có ít hoa và khi quả chín rất chát) và vào tháng 5 (gọi là vụ mùa, cho
năng suất rất cao và quả khi chín có vị ngọt hơi chát). Rễ có hình chân kiềng có
3 rễ to bò trên mặt đất và được phủ bằng một lớp bột màu trắng.
25 Hình 1.3. Hình thái hoa và quả của cây sắn thuyền
* Nguồn gốc và phân bố
Các thực vật chi Syzygium thuộc họ Sim (Myrtaceae) có khoảng 500 loài
gặp phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ít gặp ở vùng ôn đới và hiếm
thấy ở vùng hàn đới, chủ yếu là ở các nước thuộc châu Á, Châu Phi. Chi này có
quan hệ họ gần với chi Eugenia, một số nhà thực vật học còn đưa chi Syzygium
vào trong chi Eugenia. Theo Võ Văn Chi ở Việt Nam chi Syzygium có 12 loài
[3], còn Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 57 loài, trong đó có tới hơn 30 loài