ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN
MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Khoa Môi trường - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Nguyễn Thị Phương Loan 3
MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu. 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa học tập 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Khái quát quá trình phát triển đô thị 4
2.1.1. Khái quát về đô thị, đô thị hóa 4
2.1.1.1. Khái niệm đô thị 4
2.1.1.2. Phân loại đô thị 4
2.1.1.3. Quản lý đô thị 5
2.1.1.4. Đô thị hóa 6
2.1.1.5. Sự phát triển của đô thị hóa 6
2.1.2. Lịch sử phát triển đô thị tại Việt Nam 8
2.1.3. Phát triển đô thị tại thành phố Thái Nguyên 9
2.2. Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường không khí 9
2.2.1. Khái niệm môi trường 9
2.2.2. Tài nguyên không khí và ô nhiễm môi trường không khí 10
2.2.3. Cơ sở pháp lý 15
2.3. Sự phát triển đô thị và ô nhiễm môi trường không khí 16
2.3.1. Khái niệm về môi trường đô thị 16
tại thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 27
3.3.2.2 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến nồng độ NO
2
tại thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 27
3.3.2.3. Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến nồng độ CO tại thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 27
3.3.2.4. Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến bụi tại thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2008-2013 27
3.3.2.5. Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến tiếng ồn tại thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2008-2013 27
3.3.3. Đánh giá sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường không
khí theo ý kiến người dân. 27
3.3.4. Các giải pháp bảo vệ môi tường không khí đô thị 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1. Phương pháp khảo sát ngoài thực địa 27
3.4.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn 27
3.4.3. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
28
3.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và đánh giá nhanh môi trường 28
3.4.5. Phương pháp lấy mẫu 29
3.4.6. Phương pháp phân tích mẫu 30
3.4.7. Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu 30
3.4.8. Phương pháp chuyên gia 30
5
Phần 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 31
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thành phố Thái Nguyên 31
4.4. Các giải pháp bảo vệ môi tường không khí đô thị 57
4.4.1. Các giải pháp chung 57
PHẦN 5. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 62
5.1. Kết Luận 62
5.2. Kiến Nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTSTT Kí hiệu Ý nghĩa
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2 CCN Cụm công nghiệp
3 CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4 ĐH Đại học
5 ĐTM Đánh giá tác động môi trường
6 GDP Tốc độ tăng trưởng
7 KCN Khu công nghiệp
8 KHKT Khoa học kỹ thuật
9 KT – XH Kinh tế - xã hội
10 Nxb Nhà xuất bản
11 P Phường
12 PTĐT Phát triển đô thị
13 QCCP Quy chuẩn cho phép
14 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
15 QH Quy hoạch
16 TP Thành phố
Bảng 4.5: Hàm lượng tiếng ồn trong môi trường không khí tại khu vực
nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 53
Bảng 4.7: Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của PTĐT đến
môi trường 56
8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Đồ thị thu nhập bình quân trên đầu người của Thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2008 -2013 35
Hình 4.2: Đồ thị nồng độ SO
2
trong môi trường không khí tại khu vực
nghiên cứu 44
Hình 4.3: Đồ thị nồng độ NO
2
trong môi trường không khí tại khu vực
nghiên cứu 47
Hình 4.4: Đồ thị nồng độ CO trong môi trường không khí tại khu vực
nghiên cứu 49
Hình 4.5: Đồ thị hàm lượng bụi trong môi trường không khí tại khu vực
nghiên cứu 52
Hình 4.6: Đồ thị hàm lượng tiếng ồn trong môi trường không khí tại
khu vực nghiên cứu 55
2
nhanh và mạnh. Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt đô thị
của thành phố Thái Nguyên đã có những chuyển biến vượt bậc. Việc phát
triển đô thị đã diễn ra với tốc độ cao và đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu
hút đầu tư và việc làm. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng đã để lại
một số hậu quả về môi trường trên địa bàn thành phố.Trong thời gian tới,
nếu các cơ quan nhà nước không có những can thiệp kịp thời thì quá trình
đô thị hóa sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới môi trường thành phố
Thái Nguyên. Điều này đã được chứng minh từ thực tế hiện trạng môi
trường thành phố Thái Nguyên.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong thời gian thực tập tốt
nghiệp tại thành phố Thái Nguyên, được sự cho phép của ban chủ nhiệm
khoa Tài Nguyên và Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi
trường không khí thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất
lượng môi trường không khí thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị
đến chất lượng môi trường không khí thành phố Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới
môi trường không khí trước sự phát triển đô thị, góp phần nâng cao chất lượng
sống của người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập
- Tạo điều kiện cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, tiếp cận trực
tiếp với các nghiên cứu khoa học.
- Nâng cao và tích lũy các kinh nghiệm thực tế.
nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm
tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền,
của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện.
2.1.1.2. Phân loại đô thị
Tại Điều 4 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị quy định:
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II,
loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các
quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các
quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị
5
loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã
ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường
nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã
ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố
xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy
mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50%
tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức
tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương.
2.1.1.3. Quản lý đô thị
Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vào
công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các
nó như sự tăng trưởng dân số đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật
của thành phố, sự xuất hiện của các thành phố mới…
+ Quá trình đô thị hóa mang tính phức tạp, địa phương, địa điểm,
bối cảnh…
+ Đô thị hóa và phát triển có mối quan hệ biện chứng rõ rệt. Đô thị
hóa mang tính quy luật tất yếu, là động lực của phát triển, tạo ra sự chuyển
dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và phát triển kinh tế.
Ngược lại, đô thị hóa cũng chính là hệ quả của sự phát triển, bản thân nó lại
tạo ra sức ép cho phát triển trên mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
2.1.1.5. Sự phát triển của đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không
gian kinh tế xã hội.Trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội.
7
Quá trình đô thị hóa thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế
xã hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển văn hóa và không gian kiến
trúc. Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của cá
ngành nghề mới. Quá trình đô thị hóa có thể theo 2 xu hướng.
a. Đô thị hóa tập trung
Là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các
thành phố lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn, khác biệt nhiều
với nông thôn.
b. Đô thị hóa phân tán
Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, bảo đảm cân bằng sinh
thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và
nông thôn. Hình thành và phát triển mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các
vùng, có vai trò thúc đẩy phát triển nông thôn, giảm khoảng cách chênh
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước
mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm
2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Tính đến nay, cả nước
có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44
thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn.
Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô
thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Huế. Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần
Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái
Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…
Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng
trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch - dịch vụ, đầu
mối giao thông, và các đô thị trung tâm huyện, đô thị trung tâm cụm các
khu dân cư nông thôn, các đô thị mới. 9
2.1.3. Phát triển đô thị tại thành phố Thái Nguyên
Thành phố tiếp tục triển khai thực hiện theo đồ án quy hoạch chung
thành phố đến năm 2020 tại Quyết định số 278/2006/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, đã mở rộng thành phố về phía Bắc thêm 2 xã Cao Ngạn
và Đồng Bẩm.
Đến nay, thành phố Thái Nguyên đã và đang tập trung xây dựng và
phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt. Kết quả đạt được như sau:
- Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ.
Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ chủ yếu tập trung ở 19
phường nội thành, quy mô khoảng 6.080,71 ha.
Các khu vực đô thị cũ (các khu ở cũ, các trung tâm hành chính, các cơ
quan công sở) đã được tập trung xây dựng theo đúng quy hoạch. Nâng cấp
tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu.
Thành phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ, Oxy, hơi nước, CO
2
,
H
2
, O
3
, NH
4
, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu tương đối ổn định,
nhưng nồng độ CO
2
và hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước thay đổi
theo thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm tới 0,4 % khi mùa khô lạnh.
Trong không khí tầng đối lưu thường có một lượng nhất định khí SO
2
và bụi.
Trong tầng bình lưu luôn tồn tại một quá trình hình thành và phá huỷ khí
ozon, dẫn tới việc xuất hiện một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện
mật độ không khí bình thường khoảng vài chục xăngtimet. Lớp khí này có tác
dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu xuống bề mặt trái đất. Hiện nay, do hoạt
động của con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có thể đe doạ tới sự
sống của con người và sinh vật trên trái đất.
* Ô nhiễm môi trường không khí:
"Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch
hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)".
12
thực phẩm, các xí nghiệp cơ khí, các nhà máy thuộc ngành công nghiệp
nhẹ, giao thông vận tải, bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
* Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí
Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí gồm:
Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO
2
), nitơ đioxit (NO
2
), SO
2
, CO,
H
2
S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt).
Các hợp chất flo.
Các chất tổng hợp (ête, benzen).
Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các
phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm,
niken, thiếc, cađimi
Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB
2
N, NO
X
, anđehyt, etylen
Chất thải phóng xạ.
Nhiệt độ.
Tiếng ồn.
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên
, NO
2
được
tính theo mg/m
3
/giờ hoặc trong 1 ngày.
Nếu PSI từ 0-49 là không khí có chất lượng tốt.
Nếu PSI từ 50-100 là trung bình, không ảnh hưởng tới sức khoẻ của người.
Nếu PSI từ 100-199 là không tốt.
Nếu PSI từ 200-299 là rất không tốt.
Nếu PSI từ 300-399 là nguy hiểm, làm phát sinh một số bệnh.
Nếu PSI trên 400 là rất nguy hiểm, có thể gây chết người.
Dựa vào chỉ số PSI, mà những người có độ tuổi và sức khoẻ khác
nhau sẽ được thông báo trước và giảm các hoạt động ngoài trời.
* Các khí nhân tạo nào gây ô nhiễm không khí nguy hiểm nhất đối
với con người và khí quyển trái đất
Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người và khí
quyển trái đất đã được biết đến gồm: Cacbon đioxit (CO
2
); Dioxit Sunfua
(SO
2
).; Cacbon monoxit (CO); Nitơ oxit (N
2
O); Clorofluorocacbon (còn
gọi là CFC) và Mêtan (CH
4
).
Cacbon đioxit (CO
2
từ các động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố.
Hàng năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO không độc
với thực vật vì cây xanh có thể chuyển hoá CO => CO
2
và sử dụng nó trong
quá trình quang hợp. Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên
có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Khi con người ở trong không khí có
nồng độ CO khoảng 250 ppm sẽ bị tử vong.
Nitơ oxit (N
2
O): N
2
O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra
trong quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng
dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 -0,3%. Một lượng nhỏ
N
2
O khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các
loại phân bón hữu cơ và vô cơ. N
2
O xâm nhập vào không khí sẽ không thay
đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí quyển
nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy.
Clorofluorocacbon (viết tắt là CFC): CFC là những hoá chất do con
người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm
nhập vào khí quyển. CFC 11 hoặc CFCl
3
hoặc CFCl
2
hoặc CF
thúc đẩy sự ôxy hoá
hơi nước ở tầng bình lưu. Sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính
mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH
4
. Hiện nay hàng năm khí
quyển thu nhận khoảng từ 400 đến 765x10
12
g CH
4
.
2.2.3. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ môi trường do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá
XI kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2006.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của chính phủ về quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT 2005.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của chính phủ sửa đổi
bổ sung một số điều NĐ 80/2006.
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT.
- Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6
năm 2006.
16
- Căn cứ Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn
và Quy chuẩn kỹ thuật.
- Căn cứ Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài nguyên và Môi trường.
nhau, trong đó phân hệ xã hội chính là môi trường xã hội, đặc trưng bởi dân
cư đô thị và mối quan hệ của nó như chế độ xã hội, dân số, phân bố dân cư
lao động, công ăn việc làm, thu nhập, văn hóa giáo dục, y tế, kinh tế, quan
hệ xã hội và tệ nạn xã hội.
* Không khí trong đô thị
Trong đô thị môi trường không khí bao quanh con người và đô thị là
không khí đã bị ô nhiễm bởi các chất độc hại do hoạt động sản xuất (công
nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ), tiêu thụ tài nguyên, các hoạt động sinh
hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi và các hoạt động khác gây
ra. Các hoạt động của con người rất đa dạng và thường xuyên đã thải ra
môi trường nhiều khí độc hai nguy hiểm, điển hình là khí Cacbon oxyt
(CO), Sunphur oxyt (SOx) mà chủ yếu là SO
2
, nito oxyt (NOx) chủ yếu là
NO và NO
2
, hidrocacbon (HC) và các loại bụi. Ngoài 5 chất độc hại chính còn
nhiều chất khác như hidro-clorua (HCl), Chì (Pb), Thủy ngân (Hg), Hidro
Sunphur (H
2
S), Ozon (O3), Amôniăc (NH
3
), Thuốc trừ sâu bọ, khói bụi và các
loại vi khuẩn gây bệnh… ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư đô thị.
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng do hoạt động của con
người trong các đô thị đã tăng thêm ô nhiễm không khí, tăng khí thải
Cacbonic và nhiều chất khí độc hại khác vào khí quyển làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến khí hậu toàn cầu, phá hoại tầng ozon. Vì vậy, trong chiến
lược bảo vệ toàn cầu được công bố năm 1980 đã nhấn mạnh: “Bầu khí
quyển đã bị tác động mạnh, đang đe dọa sự biến đổi chế độ khí hậu. Từ