LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: Nhân vật và cốt truyện trong tiểu thuyết
Chu Lai là nghiên cứu khoa học nghiêm túc, trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực
hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã
được chỉ rõ nguồn gốc. Học viên
Nguyễn Thị Huyền Trang
LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Đức Phương,
người đã hết lòng dẫn dắt, chỉ bảo tận tình ngay từ những bước đi đầu tiên và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Nhân dịp này em xin cảm ơn các Thầy Cô trong trường đặc biệt là các
Thầy Cô trong tổ Lý luận văn học khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã cung cấp cho em những kiến thức, hiểu biết mới để em có thể hoàn
thành luận văn và truyền cho em lòng nhiệt tình trong công tác giảng dạy cho
thế hệ sau.
Cuối cùng em xin được nói lời cảm ơn tới những thành viên trong gia
đình, các đồng nghiệp tại trường THPT Cổ Loa, bạn bè đã luôn động viên,
giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn.
2.3.1 Nhân vật phụ nữ 68
2.3.2 Nhân vật trí thức: 74
2.3.3 Nhân vật kẻ thù 83
Chương 3: CỐT TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI 92
3.1 Cốt truyện trong tiểu thuyết 92
3.2 Loại hình cốt truyện trong tiểu thuyết Chu Lai 95
3.2.1 Cốt truyện sự kiện-tâm lý 95
3.2.2 Cốt truyện lồng trong truyện 104
3.2.3 Cốt truyện lắp ghép 111
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ sau chiến thắng 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI,
nền văn học Việt Nam bước vào thời kì đổi mới ngày càng sâu sắc, toàn diện.
Sự đổi mới văn học được diễn ra trên nhiều phương diện và thể loại trong đó
phải kể đến những thay đổi lớn lao của thể tài tiểu thuyết.
Chiến tranh là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam từ trước tới nay.
Sự hiện diện của mảng đề tài này trong văn học chính là sự phản ánh sinh
động nhất bức tranh hiện thực cuộc sống trong những giai đoạn lịch sử đặc
biệt của dân tộc ta. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam cũng từng bước
trưởng thành qua mỗi chặng đường phát triển của văn học dân tộc. Ở mỗi
chặng đường, đề tài chiến tranh lại được tiếp cận và phản ánh từ những góc
độ khác nhau, theo những cảm hứng khác nhau. Tiếp nối truyền thống văn
học cách mạng, sau khi hòa bình và thống nhất đất nước, văn học vẫn tiếp tục
viết về chiến tranh và phản ánh hiện thực đời sống thời hậu chiến. Thực chất
văn học hậu chiến là một khái niệm ước lệ chỉ một giai đoạn văn học ngay sau
chiến tranh mà cảm hứng chính của nó vẫn là sự suy ngẫm về cuộc chiến đã
Nằm trong dòng thác chung viết về đề tài chiến tranh cách mạng của
văn học thời kì đổi mới, đồng thời đã từng là người lính nên hầu hết các sáng
tác của Chu Lai đều nằm trong "cái vòng cương tỏa của cảm xúc chiến trận".
Chính vì vậy, chiến tranh và người lính là hai mảng đề tài chủ đạo trong sáng
tác của Chu Lai. Đối với nhà văn, đề tài chiến tranh lâu nay vẫn được coi là
"siêu đề tài, nhân vật người lính là siêu nhân vật, càng khám phá càng thấy
những độ rung không mòn nhẵn". Đọc các sáng tác của Chu Lai ta cũng bắt
gặp quan niệm về con người phức tạp, con người là một khối mâu thuẫn lớn.
Mặc dù sáng tác từ rất sớm, thử nghiệm ngòi bút qua nhiều thể loại nhưng
phải đến khi Nắng đồng bằng (1977) xuất hiện thì cái tên Chu Lai mới được
bạn đọc chú ý và tạo được sự quan tâm từ giới phê bình, nghiên cứu. Như
vậy, với thể loại tiểu thuyết, tài năng của nhà văn mới thực sự khoe sắc. Một
loạt các tiểu thuyết như: Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Cuộc đời dài
lắm…đã tạo nên một Chu Lai với phong cách viết văn rất riêng, để lại dấu ấn
trong lòng độc giả.
Khảo sát tiểu thuyết Chu Lai thời kì đổi mới, chúng tôi nhận thấy có
một sự thay đổi rất cơ bản trong quan niệm nghệ thuật về con người, quan
niệm về hiện thực, đổi mới về thi pháp thể loại… Mỗi tác phẩm trở thành một
khám phá cho những số phận, những bí ẩn trong chiều sâu tính cách và thế
giới tâm hồn của con người. Chính những sự cách tân, đổi mới kể trên đã tạo
nên những đổi mới đáng kể trong tiểu thuyết Chu Lai, đặc biệt ở khía cạnh
nhân vật và cốt truyện.
Việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách nghiêm túc các phương diện nói
trên sẽ giúp chúng ta nhận diện một cách chính xác, hợp lý hơn về phong cách
nhà văn cũng như phần nào thấy được xu hướng phát triển chung của văn học
Việt Nam thời kì đổi mới. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài Nhân vật và
cốt truyện trong tiểu thuyết Chu Lai. Các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
và người lính của nhà văn Chu Lai giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều, sâu
hơn, khách quan và toàn diện hơn về người lính sau cuộc chiến. Từ việc
nghiên cứu Nhân vật và cốt truyện trong tiểu thuyết Chu Lai chúng tôi hi
thể khẳng định được nền văn học nước ta sau năm 1975 đánh dấu sự biến đổi
đáng kể của tư duy văn học và đang ở vào thời kì mới, thời kì hứa hẹn một sự
khám phá và tái hiện hình tượng con người nhiều mặt trong tất cả chiều sâu
phong phú của nó…".
Nhìn chung các bài nghiên cứu đều tập trung phân tích văn xuôi trên
những phương diện cơ bản, thể hiện quy luật phát triển của văn học và hầu hết
các ý kiến nghiên cứu, phê bình đều gặp nhau ở sự khẳng định thành tựu cách
tân của văn xuôi thời kì này. Nhà văn Nguyễn Quang Thân cho rằng "chưa
bao giờ văn xuôi phát triển mạnh như bây giờ" và "chưa bao giờ nhà văn
được thành thật như bây giờ". Chính sự đổi thay của hoàn cảnh đất nước đã
tác động đến quan niệm nghệ thuật của nhà văn có sự chuyển biến. Có thể
nhận thấy rằng, từ sự đổi mới và khuynh hướng dân chủ của văn học, văn học
đã trở về phản ánh chân thực hiện thực đời sống thường nhật. Với chiến tranh
qua những tác phẩm văn xuôi được giải[24], Tiến sỹ Tôn Phương Lan đánh
giá: "Càng lùi về cuối thập kỷ 80 sự thật trong văn chương viết về chiến tranh
càng được biểu hiện theo một hướng khác. Một mặt ở chủ đề sáng tạo, quan
niệm về hiện thực không có nghĩa là sự sao chép hiện thực ngoài đời. Mặt
khác, bản thân người đọc cũng muốn đi vào tìm hiểu thế giới tinh thần của
con người trong những diễn biến phức tạp…". Cho nên "Sắc thái của nhân vật
trong văn xuôi chiến tranh có phong phú hơn, phức tạp hơn và tính phản
quang của đời sống thông qua hệ thống nhân vật đã làm cho văn xuôi trở nên
sinh động".
Cùng nhận định như trên, Nguyễn Văn Long trong bài viết Văn xuôi
sau 1975 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ [31] chỉ rõ: "văn học gần đây đi
vào những số phận, diễn biến tâm lý, tình cảm của con người. Nhà văn đã xây
dựng những tình huống quyết liệt, những xung đột phức tạp, để trình bày
những diễn biến và số phận không đơn giản của con người. Ở nhiều tác phẩm,
nhà văn đã đặt nhân vật vào những chiều không gian, thời gian khác nhau
hoặc đan cài giữa quá khứ và hiện tại".
Nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ thể loại, trong bài Phản ánh chân
Lựu, bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Minh Châu…, tác giả Đinh Xuân Dũng đã
đưa ra những đánh giá khá cụ thể khi nhìn nhận "sự xuất hiện tính đa dạng
của phương thức khái quát hiện thực chiến tranh và tính đa thanh của việc
đánh giá hiện thực".
Như vậy, nhìn chung khi đánh giá sự vận động của quá trình hiện đại
hóa nền văn học sau năm 1975, các nhà phê bình, nghiên cứu văn học đều tập
trung đi sâu, nghiên cứu sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật, phương diện
nghệ thuật. Nhân vật văn học được đặt trong những mối quan hệ đa chiều và
khá phức tạp của hiện thực đời sống.
2.2. Những nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài
Nhà văn Chu Lai đặc biệt thành công với những tác phẩm tiểu thuyết
viết về hình tượng người lính trong và sau chiến tranh. Thông qua các sáng
tác của mình, nhà văn đã giúp bạn đọc hiểu thêm về cuộc kháng chiến chống
Mỹ của dân tộc với những khía cạnh, góc nhìn khá toàn diện và đầy đủ. Cùng
với sự thay đổi trong quan niệm về con người, cốt truyện trong sáng tác Chu
Lai cũng đã có sự vận động thay đổi trong sự phát triển chung của thể loại.
Nghiên cứu sự vận động của cốt truyện trong tiểu thuyết Chu Lai sẽ góp phần
lí giải sự chuyển biến, bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá
nhân trong chiều hướng con đường đời của nhân vật.
Trong gần ba mươi năm cầm bút, Chu Lai đã để lại một khối lượng tác
phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau, thu hút sự quan tâm chú ý của
đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học. Nhìn chung các ý
kiến đánh giá đều thống nhất cho rằng nhân vật trong sáng tác Chu Lai đều
không phải là nhân vật đầy đặn, trọn vẹn mà các nhân vật là những mảnh
ghép, những mảnh đời đầy dang dở, chắp vá. Cho đến nay đã có khá nhiều bài
viết về sáng tác của Chu Lai nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Báo Văn nghệ
đã tổ chức thảo luận về tiểu thuyết của nhà văn ( bài Trao đổi về tiểu thuyết
Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai_báo Văn nghệ số 29-1992). Tác giả Bùi Việt
Thắng có bài Cái bi kịch trong tiểu thuyết Xô Viết và Việt Nam viết về chiến
tranh sau chiến tranh ( So sánh Sống mà nhớ lấy của V.Raxpuchin và Ăn
lương, mà thật tớ trêu: Có những người trước kia là đồng đội của nhau bây
giờ đứng trên hai mặt đối lập nhau". Tác giả Nguyễn Hương Giang cũng chỉ
ra rằng: "Phố của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết: Một cuốn
về gia đình Thảo – Nam với sự phá vỡ và làm tan nát những giá trị truyền
thống, một cuốn khác về cuộc đời Lãm, một người lính từ hai bàn tay trắng đi
lên, bảo vệ và tha thiết giữ gìn những giá trị ấy. Cái chết thương tâm của
Thảo, Lãm ở cuối tác phẩm đẩy suy nghĩ của người đọc về hai hướng khác
nhau nhưng đều thấm một nỗi buồn cao cả".
Chính vì vậy, trong các sáng tác của mình, nhà văn Chu Lai luôn có
quan niệm: "Chiến tranh đối với bất cứ dân tộc nào, dù chính nghĩa hay phi
nghĩa, cũng không sao tránh khỏi màu sắc bi kịch"[27].
Tiểu thuyết của Chu Lai đã khai thác hiện thực ở cả bề khuất lấp,
những số phận nhân vật với những bi kịch cá nhân. Đề cập đến vấn đề này,
nhà phê bình Lê Thanh Nghị Qua những cuốn sách gần đây viết về chiến
tranh cho rằng: "Chu Lai đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu
nay còn bị giấu kín"[33]. Đi sâu phân tích một số tiểu thuyết của nhà văn,
chúng ta dễ dàng nhận thấy những góc khuất, bề chìm của tính cách con
người được Chu Lai mạnh dạn chỉ ra. Tôn Phương Lan trong Tiểu thuyết về
chiến tranh viết sau 1975[27] đưa ra nhận xét: "Ở chiến trường đó là sự hèn
nhát…cao hơn là một sự gắng gỏi leo lên bậc thang địa vị bằng giá máu của
đồng đội, hoặc một sự phản bội đáng để xử bắn như Kiên trong Nắng đồng
bằng".
Bên cạnh các ý kiến đi sâu khai thác, khẳng định năng lực sáng tạo của
Chu Lai trong khả năng tiếp cận, nắm bắt hiện thực của người lính sau chiến
tranh, một số ý kiến đã quan tâm hơn đến những dấu hiệu đổi mới về phương
diện nghệ thuật của Chu Lai. Với Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì
đổi mới[9], nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đánh giá tiểu thuyết của Chu Lai
"không chỉ đa dạng trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm,
"dòng ý thức", nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định".
Một số tiểu thuyết của Chu Lai đã tạo nên được tiếng vang, gây hứng
ngây thơ, quan hệ tay ba Vũ Nguyên, Hà Thương và vợ Vũ Nguyên kéo dài…mà
không có lối thoát…Hà Thương đẹp nhưng hơi cổ, lãng đãng, xa xăm. Tuấn tử thần
trở thành người tốt còn quá đơn giản"[46].
Như vậy khi đi sâu tìm hiểu, đánh giá tiểu thuyết của Chu Lai, giới
nghiên cứu phê bình và dư luận bạn đọc đã có những luồng ý kiến khen, chê
khác nhau, song nhìn chung tất cả đều thống nhất quan điểm ghi nhận đóng
góp của ngòi bút Chu Lai trong quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam.
Bằng một loạt các sáng tác của mình, tên tuổi của nhà văn Chu Lai đã được
khẳng định và có vị trí quan trọng trên văn đàn.
Ngoài những bài tiểu luận, phê bình của các nhà nghiên cứu văn học,
sáng tác của nhà văn Chu Lai còn được khai thác, tìm hiểu thông qua những
đề tài nghiên cứu về tiểu thuyết Chu Lai:
- Hình tượng người lính sau chiến tranh qua các tiểu thuyết của Chu
Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh – Nguyễn Ngọc Hưng – ĐHKHXH& NV, 2010.
- Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai – Phạm Thị Hằng –
ĐHSPHN, 2003.
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, đa số các bài nghiên cứu, phê bình,
tiểu luận trên là những đánh giá ban đầu có tính chất nhận xét tổng quát chứ
chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện hay đề cập đến những vấn đề cụ
thể của một số tiểu thuyết tiêu biểu cho phong cách Chu Lai. Những bài báo,
phê bình này đều có dung lượng ngắn, đa phần là những bài phỏng vấn trực
tiếp nhà văn về vấn đề nhân vật, hoàn cảnh ra đời cũng như thông điệp mà tác
giả gửi gắm thông qua tác phẩm. Đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện, đầu tư theo chiều sâu tập trung về nhân vật và cốt
truyện trong tiểu thuyết Chu Lai. Song có thể nhận thấy, những bài viết,
những công trình nghiên cứu kể trên là cơ sở quan trọng, những tài liệu quý
giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện đặc điểm
nghệ thuật tiểu thuyết qua đó đi sâu khám phá giá trị nghệ thuật độc đáo trong
Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Chu Lai.
Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai.
Chương 3: Cốt truyện trong tiểu thuyết Chu Lai.
CHƯƠNG 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA CHU LAI
1.1. Hành trình sáng tác của Chu Lai
Đại tá, nhà văn Chu Lai sinh năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù
Yên, tỉnh Hưng Yên. Xuất thân trong gia đình có truyền thống văn học, cha là
nhà viết kịch Học Phi. Chính truyền thống gia đình đã tạo nền tảng cho năng
khiếu nghệ thuật của ông sớm được bộc lộ. Ngay từ nhỏ, Chu Lai đã sớm bén
duyên với văn học thông qua những câu chuyện đàm đạo văn chương giữa
cha mình với các cụ Đào Mộng Long, Thế Lữ…Học hết phổ thông, Chu Lai
thi đỗ đại học. Khi đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, cậu học sinh Chu
Lai đã sớm gác lại chuyện học hành tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trong
kháng chiến chống Mỹ, ông công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị
rồi trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động trong vùng Sài Gòn suốt mười năm.
Sau khi tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa 1, ông biên tập và sáng
tác cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Như vậy, ta bắt gặp ở Chu Lai sự gắn kết
tự nhiên giữa con người chiến sĩ và con người nghệ sĩ.
Là người lính trực tiếp cầm súng trước khi trở thành nhà văn nên những
năm tháng vào sinh ra tử ở vùng ven đô Sài Gòn đã để lại những dấu ấn sâu
sắc trong tâm hồn nhà văn. Quãng đời lính ấy đã trở thành vùng kí ức đẹp nên
Chu Lai từng tự nhận " Tôi là người của trận mạc, sống trong thời bình
nhưng vẫn mang nặng cuộc chiến". Bởi vậy mặc dù sáng tác từ rất sớm nhưng
phải đến năm 1975 với truyện ngắn Kỉ niệm vùng ven được đăng trên báo văn
nghệ, cái tên Chu Lai mới chính thức" Gõ cửa" làng văn. Hành trình sáng tác
của Chu Lai gồm hai giai đoạn: giai đoạn tiền đổi mới( 1975-1986) và giai
duy sáng tạo của mình, nhà văn cũng tập trung đi sâu, khai thác, khám phá chiến
tranh qua số phận con người, những số phận bi kịch ẩn đằng sau sự lấp lánh của
những tấm huân chương. Con người không chỉ hiện lên ở tính cách anh hùng
trận mạc mà còn ẩn chứa những nét tính cách của đời thường.
Viết về thời hậu chiến hôm nay, bên cạnh những cây bút trẻ nổi bật lên
là những nhà văn trưởng thành trong chiến trận. Đó là Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải, Bảo Ninh, Chu Lai…. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới văn
học cái tên Chu Lai nổi bật lên với sức sáng tạo mạnh mẽ với số lượng tác
phẩm đáng kinh ngạc. Ông sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như: truyện
ngắn, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu và kịch bản phim cùng nhiều thể loại
khác. Là một người chiến sĩ, một người nghệ sĩ đa tài đi nhiều và viết nhiều
nhưng có lẽ Hà Nội và người lính luôn là nguồn cảm hứng bất tận nơi con tim
nhà văn. Quãng đời hơn mười năm lăn lộn trên chiến trường cùng một trái tim
đa cảm đã tạo lên chất Chu Lai rất riêng qua từng trang viết. Nhưng thể loại
thành công nhất của ông có lẽ là tiểu thuyết. Bằng sức sáng tạo không ngừng
nghỉ, nhà văn đã cho ra mắt bạn đọc một loạt tiểu thuyết tạo thành "dòng tiểu
thuyết chiến tranh và người lính" mang đậm dấu ấn Chu Lai.
Đối với Chu Lai viết văn không chỉ đơn thuần là một nghề mà đã trở
thành cái nghiệp văn chương. Bởi vì như ông tự nhận "Viết Lại có nghĩ là
Sống Lại, sống lại cái cuộc sống nửa sống nửa chết ấy thì coi như chết hai
lần!". Những trang văn ấy như những trang đời, là sự trải nghiệm của chính
nhà văn về cuộc đời, là lời đối thoại của ông với quá khứ, hiện tại và tương
lai. Là nhà văn trưởng thành trong cách mạng nên khi viết về một thời áo lính
các sáng tác của Chu Lai trở nên chân thực, sống động, có hồn và mang đậm
phong cách Chu Lai. Với tài năng cùng vốn sống của mình "ông trở thành
một người lao động cặm cụi khổ đau trên cánh đồng chữ nghĩa". Nhà văn
luôn có nhu cầu đi đến tận cùng mọi suy nghĩ, khát vọng. Dù đã khiêm tốn tự
nhận mình như "con tôm nuôi trong hồ nước lợ" nhưng các sáng tác của ông
thật sự đã thu hút được sự quan tâm của bạn đọc. Nhiều tác phẩm ngay từ khi
ra đời đã tạo những luồng tranh luận gay gắt trong giới nghiên cứu phê bình
thực chủ quan nhằm làm sáng tỏ tư tưởng nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi
gắm thông qua tác phẩm. Bức tranh hiện thực trong các sáng tác trước 1975
dường như được soi chiếu bởi chủ nghĩa yêu nước, khát vọng tự do và niềm
tự hào dân tộc. Đúng như Hoài Thanh nhận xét: "Thực đẹp đẽ vô cùng cái
quang cảnh của một dân tộc vươn mình đến ánh sáng, cảnh tưng bừng của
cả dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy. Tôi cảm thấy khắp nơi ở quanh tôi và
trong lòng tôi một cuộc tái sinh màu nhiệm". Đấy có lẽ là cảm nhận chung
của thế hệ thanh niên thời bấy giờ. Điều đó khiến cho hiện thực chiến tranh
trong các sáng tác giai đoạn này như được "tráng một lớp men trữ tình hơi
dày" như sau này Nguyễn Minh Châu nhận định. Cảnh ra trận trong nhiều
trang viết thấm đẫm chất thơ, chất lãng mạn.
Đó là nhân vật Thiêm (Mẫn và tôi - Phan Tứ ) đã tìm ra cho mình
"niềm vui được đánh giặc". Đó chính là hạnh phúc được sống, được cống
hiến, được hi sinh vì lý tưởng cách mạng. Với họ đường ra trận là "Đường vui
"( Nguyễn Tuân), "cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù",
"Đánh Tây sướng bằng tiên chứ cực gì".
Như vậy, cảm hứng ngợi ca, âm hưởng sử thi hào hùng sảng khoái đã
trở thành đặc điểm chủ đạo trong văn xuôi viết về chiến tranh trước năm
1975. Đó là cơ sở để cho nền văn học chúng ta "xứng đáng đứng vào hàng
ngũ tiên phong của những nền văn nghệ chống đế quốc". Tuy nhiên về mặt
nào đó văn xuôi của giai đoạn này cũng bộc lộ những hạn chế của nó. Những
bất hạnh, vui buồn của một đời người, thậm chí sự ác liệt của cuộc chiến
thường ít được đi sâu; vấn đề số phận con người nhường chỗ cho mối quan
tâm về số phận đất nước. Những mặt hạn chế này một phần do hoàn cảnh đất
nước có chiến tranh. Vì vậy, hiện thực được lựa chọn là hiện thực phục vụ
cho mục đích chính trị, hiện thực được nhìn nhận một cách đơn giản, môt
chiều.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ
VI, đất nước ta bước sang một thời kì mới: thời kì hòa bình, độc lập dân tộc.
Trong hoàn cảnh mới của đất nước, cái nhìn về hiện thực chiến tranh cũng có
nghiệm cộng đồng lẫn kinh nghiệm cá nhân. Là nhà văn trưởng thành trong
chiến tranh nên dù viết về nhiều đề tài khác nhau nhưng đề tài về chiến tranh
và cách mạng vẫn luôn là nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Chu
Lai. Tuy nhiên, khi viết về mảng đề tài quen thuộc này nhà văn đã tái hiện
hiện thực và con người trên những bình diện mới. Chiến tranh được tái hiện
bằng vốn sống và sự tri ân của nhà văn - chiến sĩ đối với mảnh đất quê hương.
Nhà văn đã phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua cái nhìn về số phận của
những cá nhân con người, soi ngắm hiện thực mang tính khám phá trên
phương diện tư tưởng đến phương diện nghệ thuật. Từ điểm nhìn mang cảm
hứng hiện thực nên ranh giới giữa cái cao cả và thấp hèn, dũng cảm và hèn
nhát, trung thành và phản bội vô cùng mong manh. Viết về cuộc chiến từ
điểm nhìn của người trong cuộc nên hiện thực chiến tranh được Chu Lai tái
hiện với tất cả hình thù của nó. Mười năm tuổi xuân trên chiến trường đã giúp
nhà văn hiểu hơn ai hết cái giá của sự sống. Chiến tranh không phải là "ngày
hội lớn của dân tộc" mà là "một luật chơi tàn bạo".
Sự đổi mới văn học trên thực tế là một nhân tố quan trọng cho sự phát
triển cá tính sáng tạo của người nghệ sỹ. Qua việc tìm hiểu các tiểu thuyết của
Chu Lai chúng ta cũng hình dung ra được nét khác biệt chủ yếu của văn xuôi
ở hai giai đoạn kể trên. Đó là cách quan niệm hiện thực, cách tiếp cận hiện
thực và cách miêu tả hiện thực. Nhà văn luôn có ý thức về sự thật thay thế cho
sự mô tả hiện thực. Trong các trang tiểu thuyết của cuộc đời mình không ít
lần ông nói lên suy nghĩ của mình: "Chiến tranh là ngày nào cũng thấy người
chết nhưng lại chưa đến phiên mình", đó là một cách định nghĩa hết sức ngắn
gọn về chiến tranh nhưng mang đầy bi kịch. Chiến trường không phải là
"mảnh đất bằng phẳng trồng toàn hoa" mà là nơi "xác người xấp ngửa, xác
muôn thú cháy thui". Chu Lai hướng ngòi bút vào những vùng hiện thực mà
trước đó thường được xem là vùng cấm. Đào sâu vào những vùng tối, nhà văn
đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn trọn vẹn hơn về cuộc chiến đã qua.
Tiểu thuyết Chu Lai gây ấn tượng dữ dội với người đọc bởi những trang viết
"đầy rẫy tử thi" và "ngập ngụa máu". Nhà văn không hề né tránh sự tàn khốc
hoàn cảnh khác nhau. Sự chết chóc hình như luôn ẩn hiện đón chờ những
người lính. Mỗi người đi đến cõi chết theo một cách riêng. Có người tìm đến
cái chết như một sự giải thoát khỏi vết thương quá nặng không muốn trở
thành gánh nặng của đồng đội như Toàn (Nắng đồng bằng). Có người bị chết
oan uổng do chính tay đồng đội mình gây nên như cái chết của Bảo (Ăn mày
dĩ vãng). Cái chết ngớ ngẩn của Khiển là do bất cẩn khi đút trái tạc đạn đã rút
chốt vào túi áo( Ăn mày dĩ vãng). Cái chết đến đầy bất ngờ không báo trước
"cho đến tận khoảnh khắc cuối cùng ấy, Khiển vẫn không hiểu cái gì đang
xảy ra với mình…Cặp mắt mở to ngỡ ngàng…". Thông qua những dòng miêu
tả trực tiếp sự hi sinh mất mát, Chu Lai đã góp phần giúp chúng ta có cái nhìn
đa chiều hơn về một thời bom đạn. Quan điểm hiện thực đã giúp nhà văn dám
thẳng thắn chỉ ra những mặt hạn chế của bộ đội ta. Đó là sự vô trách nhiệm,
tính hiếu thắng, sự vị kỉ của người chỉ huy như Năm Thành (Ba lần và một
lần) đã dẫn tới sự hi sinh vô ích cho đồng đội mình. Chỉ vì nóng vội, và vì
một chút kiêu hãnh, tự phụ cá nhân đã quyết định tung cả đại đội vào một trận
đánh mà chưa có sơ đồ chắc chắn, đánh mà chưa trải qua động tác trinh sát
hoàn chỉnh khiến cho ba chục con người "chỉ sau một đêm ngủ dậy, bỗng
dưng chẳng còn ai nữa". Thảm kịch tàn khốc khiến ngay cả những con người
hàng ngày phải đối mặt với hi sinh, mất mát nhưng khi nó đến thật sự qua hai
cái hình hài đẫm máu này vẫn làm cho mọi người bàng hoàng, ngơ
ngẩn…Bởi vì "gần ba chục chàng trai mạnh khỏe, ưu tú, niềm tự hào của cả
cánh rừng" trong thoáng chốc đã vĩnh viễn nằm lại chỉ vì một quyết định sai
lầm của một cá nhân. Chỉ vì mệnh lệnh cứng nhắc của bộ chỉ huy cùng tính
bất cần và kiêu hãnh đột nhiên trỗi dậy của Hai Hùng mà phải trả giá bằng cái
chết của hai người lính trong trận đột kích qua rào thép gai vào hang ổ kẻ thù
giữa đêm rằm, khi chỉ còn nửa sức lực. Chiến tranh đã trở thành nỗi ám ảnh
không ngừng của các nhân vật khi mà "Chiến tranh là cái mất này nối liền cái
mất khác, sự thành bại không ngớt đuổi theo nhau". Hiện thực đó còn là sự
kéo dài của những chuỗi ngày dài bất tận "Cứ mùa khô tới, mùa đốt rừng tận
diệt của bọn nó, chúng tôi lại một lần trắng tay. Mảnh đất thật khắc nghiệt và